Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo Mize [57] (1989) đạt kết quả liền xương 100 % ở 68 BN qua theo dõi từ 28 đến 52 tháng. Thời gian liền xương trung bình ở mỗi loại gẫy có khác nhau: Với gẫy loại C1 trung bình liền xương là 12,3 tuần; C2 là 13,1 tuần và C3 là 15,4 tuần.

Theo Mize [57] (1989) đạt kết quả liền xương 100 % ở 68 BN qua theo dõi từ 28 đến 52 tháng. Thời gian liền xương trung bình ở mỗi loại gẫy có khác nhau: Với gẫy loại C1 trung bình liền xương là 12,3 tuần; C2 là 13,1 tuần và C3 là 15,4 tuần.

Tải bản đầy đủ - 0trang

62

Tỷ lệ tốt và rất tốt của nhóm C1 cao hơn ở nhóm C2 và C3, Sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

Tỷ lệ trung bình và kém của nhóm C3 là cao nhất (90 %), trong khi tỷ lệ này ở

nhóm C1 và C2 lần lượt là 14,2 % và 50,0 %, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

với p <0,01.

Qua so sánh chúng tơi thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm C1

và C2 về kết quả điều trị với p <0,05 ( p = 0,043); Có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa nhóm C1 và C3 về kết quả điều trị với p < 0,05 (p = 0,013). Tuy

vậy, khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả điều trị giữa 2 nhóm

C2 và C3 (p = 0,172).

Theo Siliski [75] kết quả đạt tốt và rất tốt của nhóm C1 là 92 %, của nhóm C2

và C3 là 77 % trong tổng số 52 BN bị gẫy TLC - LLC được KHX bên trong.

Trên thực tế lâm sàng chúng tôi thấy rằng những thương tổn thuộc nhóm C1

tương đối đơn giản nên việc KHX đạt được vững chắc hơn cho phép BN tập luyện

được sớm hơn nên kết quả điều trị tốt hơn nhóm C2 và C3.

4.4.2.3. Kết quả điều trị theo tuổi bệnh nhân

Theo kết quả bảng 3.12 chúng tơi có:

+ Nhóm tuổi từ 16 - 30 có 16 BN, đạt kết quả điều trị tốt và rất tốt là 10/15 BN

(62,6%).

+ Nhóm tuổi từ 31 - 60 có 15 BN, đạt kết quả điều trị tốt và rất tốt là 06/15 BN

(40,0 %).

+ Nhóm tuổi trên 60 có 8 BN, BN cao tuổi nhất là 83 tuổi. Kết quả tốt là 2/8

BN (25,0%).

So sánh của chúng tôi thấy khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết

quả điều trị giữa các nhóm tuổi (p > 0,05).

Siliski, Mahring, Hofer [75] (1989) qua kết quả 52 BN có thời gian theo dõi từ



63

20 đến 120 tháng, cũng đưa ra nhận xét rằng tuổi không ảnh hưởng đến kết quả điều

trị cuối cùng, mặc dù những BN cao tuổi có thời gian nằm viện dài hơn.

Vấn đề điều trị phẫu thuật cho người cao tuổi cũng được rất nhiều tác giả quan

tâm. Theo Mize thì vấn đề tuổi cao đơn thuần không nên xem như là một chống chỉ

định cho phẫu thuật KHX bên trong. Năm 1982, Mize và các cộng sự đã đạt được

kết quả tốt và rất tốt là 8/11 BN [58]. Việc phẫu thuật có thể giúp BN tránh được

những biến chứng do quá trình bất động kéo dài. Đối với người già khó khăn nhất

cho q trình phẫu thuật đó là sự lỗng xương, điều này có thể khắc phục bằng cách

sử dụng nẹp vít khóa.

Như vậy với phương tiện, kỹ thuật gây mê ngày càng tiến bộ, kinh nghiệm

phẫu thuật của các phẫu thuật viên cũng như ý thức tập luyện sau mổ của người

bệnh ngày càng nâng cao, tuổi của BN ít ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

4.4.2.4. Quá trình phục hồi chức năng sau mổ

Gẫy kín TLC - LLC xương đùi là một gẫy xương nội khớp, phẫu thuật KHX

bên trong nhằm đảm bảo xương gẫy được nắn chỉnh tốt về mặt giải phẫu, giúp quá

trình liền xương được thuận lợi. Để có cơ năng khớp gối tốt sau mổ cần phải có chế

độ tập phục hồi chức năng thích hợp

Kết quả 39 BN trong nghiên cứu của chúng tôi: Số BN được tập luyện sau mổ

tại bệnh viện là 11/39 BN (28,2 %), còn lại 28/61 BN (71,8 %) tự tập tại nhà theo

hướng dẫn của thầy thuốc. Trong 11 BN được tập phục hồi chức năng tại bệnh viện

có 7/11 BN (63,6%) đạt kết quả tốt và rất tốt. Trong 28 BN tự tập phục hồi chức

năng khớp gối tại nhà dưới sự hướng dẫn của thầy thuốc có 12/28 BN (42,8 %) đạt

kết quả tốt và rất tốt.

Tỷ lệ trên cho thấy những trường hợp tập phục hồi chức năng khớp gối ở các

cơ sở vật lý trị liệu sau mổ KHX gẫy kín TLC - LLC xương đùi thì đạt kết quả tốt

hơn so với những trường hợp tự tập ở nhà. Điều này có thể lưu ý với BN và phẫu

thuật viên rằng: sau mổ KHX gẫy kín TLC - LLC xương đùi, BN nên tập luyện ở



64

các trung tâm vật lý trị liệu. Do phần lớn BN tự tập tại nhà nên việc khám BN định

kỳ sau mổ nhằm hướng dẫn họ tự tập luyện đúng phương pháp có vai trò quan trọng

để đạt được kết quả tốt sau mổ.

4.4.2.5. Liên quan giữa thời gian bắt đầu tập luyện và kết quả điều trị sau mổ

Theo kết quả của bảng 3.14:

- Số BN được tập phục hồi chức năng trong vòng 14 ngày đầu sau mổ là:

25/39 BN (64,1%), trong đó đạt kết quả tốt và rất tốt là: 15/25 BN (60,0 %).

- Số BN được tập phục hồi chức năng từ ngày 15 đến ngày 28 sau mổ là:

14/39 BN (35,9%), trong đó đạt kết quả tốt và rất tốt là: 3/14 BN (21.4 %).

Qua số liệu trên, so sánh kết quả giữa nhóm được tập luyện sớm (trong 14

ngày đầu) và nhóm tập luyện muộn (trên 14 ngày), chúng tơi thấy có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

Trên thực tế lâm sàng, những BN gẫy đơn giản, KHX trong mổ thực sự vững

chắc mới có thể tập vận động sớm, còn những BN gẫy phức tạp, phải cố định bằng

bột sau mổ thì phải tập luyện muộn hơn. Điều này ảnh hưởng nhiều đến kết quả

điều trị, phục hồi chức năng sau mổ.

4.4.2.6. Biên độ hoat động khớp gối

Sự phục hồi khả năng vận động của khớp gối là một trong những mục đích cơ

bản của phẫu thuật KHX điều trị gẫy kín TLC - LLC xương đùi. Đây cũng là một

vấn đề khó khăn nhất trong điều trị. Việc phục hồi tốt hình thể giải phẫu, quan hệ

giữa các diện khớp và KHX bên trong vững chắc tạo điều kiện cho BN tập vận

động sớm là những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình liền xương và phục hồi

chức năng. Gẫy càng phức tạp thì khả năng phục hồi càng kém.

Đối với các trường hợp gẫy TLC - LLC xương đùi phức tạp, gẫy nhiều mảnh

và ở người già có lỗng xương thì khả năng phục hồi chức năng rất hạn chế, do vậy

không thể đòi hỏi sự hồn hảo trong q trình KHX.



65

Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 3.15 thấy:

Gấp gối trên 1200 có 89/3 BN (20,5%).

Gấp gối từ 900 - 1200 có 17/39 BN (43,6 %).

Gấp gối dưới 900 có 10/39 BN (25,6 %).

Cứng gối hồn tồn có 4/39 BN (10,3 %).

Nhóm C3 có tỷ lệ cứng gối cao nhất là 3/4 BN (75,0 %).

Biên độ gấp gối của nhóm C1 là 108,20, của nhóm C2 là 930 và của nhóm C3

là 510. Kết quả này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Siliski [75] (1989): biên

độ gấp gối trung bình đạt 1070 (1130 đối với gẫy loại C1 đến 990 với gẫy loại C3).

Kết quả này phản ánh được những hạn chế về kỹ thuật cũng như về quá trình tập

luyện phục hồi chức năng sau mổ.

4.4.2.7. Kết quả phục hồi về giải phẫu

Việc kiểm tra, đánh giá kết quả phục hồi giải phẫu chúng tôi dựa trên chỉ tiêu

là biến dạng gập góc.

Chúng tơi xác định biến dạng gập góc bằng thước đo góc trên phim chụp

X-Quang.

Theo bảng 3.16 chúng tơi có 2/39 BN (5,1 %) khơng biến dạng gập góc, có

23/39 BN (58,9 %) có biến dạng gập góc dưới 10 0, 12/39 BN (30,7 %) có biến dạng

gập góc từ 10 - 150, và có 2/39 BN (5,1 %) có biến dạng gập góc trên 150 .

Những BN có biến dạng gập góc chủ yếu là những BN bị gẫy loại C2 và C3.

Đây là loại gẫy phức tạp mà việc KHX bên trong khó có thể đạt được kết quả hoàn

hảo ở tất cả các trường hợp. Để hạn chế những biến dạng này, theo Kregor [49] và

Siliski [75]. Nên ghép xương ở tất cả các trường hợp có vỡ nát ở vùng hành xương

và những BN gẫy ở loại C3. Trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có BN nào được

ghép xương. Đây phải chăng cũng là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu trong

một cơng trình nghiên cứu khác.



66

4.5. CÁC BIẾN CHỨNG SAU MỔ.

4.5.1. Biến chứng sớm

+ Chảy máu hoặc tụ máu sau mổ: trong nghiên cứu này khơng có trường hợp

nào bị chảy máu hoặc tụ máu sau mổ. Chúng tôi lý giải cho vấn đề này là: do sử

dụng đường mổ đúng, kỹ thuật cầm máu tốt, khâu phục hồi các lớp theo đúng giải

phẫu nên tránh được tai biến này.

+ Nhiễm khuẩn vết mổ: Đây là biến chứng có nguy cơ cao ở những BN gãy

TLC và LLC phức tạp với phần mềm quanh gối tổn thương nặng. Trong kết quả

nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ nhiễm trùng là 1/39BN(2,7%). Tất cả trường hợp

nhiễm trùng đều gặp ở BN gãy loại C3.

4.5.2. Cứng duỗi gối sau mổ

Trong 39 BN thuộc nghiên cứu của đề tài có 12/61 BN (19,7 %) bị cứng gối

hoàn toàn, tất cả các BN đều thuộc gẫy loại C3, việc KHX bên trong không thực sự

vững chắc, các BN sau mổ đều phải bó bột tăng cường dẫn đến tập luyện sau mổ

muộn hơn các BN khác. Theo chúng tôi nguyên nhân dẫn đến cứng duỗi gối là:

- Gẫy TLC - LLC xương đùi loại C3 là loại gẫy phức tạp. Tổn thương này khó

chỉnh hình tốt về giải phẫu, phá vỡ quan hệ giữa các diện khớp. Hơn nữa, cùng với

gẫy xương và phần mềm (đặc biệt là cơ tứ đầu đùi) bị đụng dập gây xơ dính, hạn

chế vận động khớp gối.

- KHX không vững chắc, không cho phép BN tập vận động khớp gối sớm, gây

co cứng và co ngắn cơ tứ đầu đùi.

- BN không được tập luyện phục hồi chức năng đúng phương pháp.

Theo Đoàn Lê Dân và Đoàn Việt Quân [6] có 8/28 BN (28,6 %) cứng duỗi gối

ở người lớn sau phẫu thuật KHX điều trị gẫy TLC - LLC đùi.

Seinsheimer [73] (1980) khuyến cáo: với gẫy TLC - LLC đùi nghiêm trọng, dù

được KHX vững chắc nhưng nếu không được tập phục hồi chức năng đúng cách thì

vẫn xảy ra cứng gối.



67

Những trường hợp bị cứng duỗi gối sẽ được phẫu thuật gỡ dính lúc phẫu thuật

tháo nẹp.



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 39 BN bị gẫy kín TLC - LLC xương đùi được điều trị phẫu

thuật KHX tại khoa Chấn thương - Chỉnh hình Bệnh viện hữu nghị Việt - Đức từ

tháng 1/2015 đến tháng 6/2017 chúng tôi rút ra kết luận sau:

1. Tổn thương giải phẫu của gẫy kín TLC - LLC xương đùi tại bệnh viện hữu

nghị Việt - Đức

- Gặp nhiều ở nam giới, nguyên nhân chính là do TNGT với tốc độ cao và

năng lượng lớn.

-Thường gặp ở độ tuổi lao động 31BN

- Chi tổn thương hai bên là ngang nhau.

- Loại gẫy C2 hay gặp nhất (57,4 %).

2. Kết quả điều trị phẫu thuật gẫy kín TLC - LLC xương đùi bằndg nẹp vít

khóa tại bệnh viện hữu nghị Việt - Đức

Phẫu thuật KHX gẫy kín TLC - LLC xương đùi bằng nẹp vít khóa thu được

kết quả sau:

* Kết quả gần

- Tỷ lệ liền xương 39/39 BN (100 %).

- Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ là 1/39 BN (3,3 %).

* Kết quả xa

Được đánh giá theo tiêu chuẩn phục hồi chức năng của Terchiphorst:

- Rất tốt có: 5/39 BN (9,8 %)

- Tốt có: 13/39 BN (32,8 %).

- Trung bình có: 14/39 BN (39,3 %).

- Kém có: 7/39 BN (18 %).



68



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo Mize [57] (1989) đạt kết quả liền xương 100 % ở 68 BN qua theo dõi từ 28 đến 52 tháng. Thời gian liền xương trung bình ở mỗi loại gẫy có khác nhau: Với gẫy loại C1 trung bình liền xương là 12,3 tuần; C2 là 13,1 tuần và C3 là 15,4 tuần.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×