Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Cơ chế tác dụng : Gắn với ống, làm mất liên kết polime của các vi ống, do dó ức chế gián phân, tương tự như các Vinca alkaloid khác. Ít tác dụng tới các vi ống của sợi trục thần kinh nên độc với hệ thần kinh thấp hơn.

* Cơ chế tác dụng : Gắn với ống, làm mất liên kết polime của các vi ống, do dó ức chế gián phân, tương tự như các Vinca alkaloid khác. Ít tác dụng tới các vi ống của sợi trục thần kinh nên độc với hệ thần kinh thấp hơn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

1.2 Gemcitabine

Thuốc chống ung thư thuộc nhóm chống chuyển hóa

* Cơ chế tác dụng : Gemcitabine (dFdC) được biến dưỡng trong tế bào

bởi men nucleoside kinase thành diphosphate (dFdCDP) và triphosphate

(dFdCTP) nucleoside hoạt tính. Tác dụng độc tế bào của gemcitabine là do

dFdCDP và dFdCTP ức chế quá trình tổng hợp ADN. Trước hết, dFdCDP ức

chế men ribonucleotide reductase, là men duy nhất xúc tác các phản ứng tạo

ra deoxynucleoside triphosphate để tổng hợp ADN. Ức chế men này sẽ làm

giảm nồng độ deoxynucleoside nói chung, đặc biệt là nồng độ dCTP. Thứ hai

là, dFdCTP cạnh tranh với dCTP để gắn vào ADN (self-potentiation). Tương

tự, một lượng nhỏ gemcitabine cũng có thể gắn vào ARN. Như vậy, giảm

nồng độ nội bào của dCTP khiến cho việc gắn dFdCTP và ADN dễ dàng hơn.

Thực chất ADN polymerase epsilon không thể loại bỏ gemcitabine và sửa lại

chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gemcitabine gắn vào ADN, 1 nucleotide

nữa gắn thêm vào chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gắn thêm nucleotide

này, sự tổng hợp ADN thực sự bị ức chế hoàn toàn (masked chain

termination). Sau khi gắn vào ADN, gemcitabine thúc đẩy quá trình hủy diệt

tế bào theo chương trình định trước, được gọi là "apoptosis".

* Chuyển hóa

Gemcitabine được chuyển hóa nhanh chóng tại gan, thận, máu và các mơ

khác do men cytidine deaminase.

* Chỉ định

Gemcitabine được chỉ định cho bệnh nhân ung thư phổi không phải tế

bào nhỏ di căn hoặc tiến triển tại chỗ.

Gemcitabine được chỉ định cho bệnh nhân ung thư tụy dạng tuyến, di

căn hoặc tiến triển tại chỗ.

Gemcitabine được chỉ định cho bệnh nhân ung thư tụy kháng với 5-FU.



5

Bệnh nhân dùng gemcitabine có thể có cải thiện trên lâm sàng, hoặc tăng

tỉ lệ sống hoặc cả hai.

Tác dụng điều trị khác

Gemcitabine cũng có tác dụng trong carcinome phổi tế bào nhỏ thể tiến

triển, tuyến tiền liệt, buồng trứng, vú. Có một số đáp ứng với thuốc trong điều

trị ung thư bàng quang và thận tiến triển.

* Chống chỉ định

Chống chỉ định sử dụng gemcitabine ở bệnh nhân nhạy cảm với thuốc.

Tác dụng phụ

- Ức chế tủy xương : Thường gặp

- Buồn nôn và nôn : thường gặp nhưng không nặng

- Da và niêm mạc: Rụng tóc và viêm niêm mạc hay gặp

- Các tác dụng phụ khác :

+ Tiêu chảy : thường gặp

+ Đôi khi táo bón

+ Tăng nhẹ transaminaza huyết và men phosphataza kiềm : thường gặp

+ Hội chứng tan máu hiếm gặp

+ Sốt khơng nhiễm khuẩn hay gặp

+ Đơi khi có phù

+ Thần kinh : Hay gặp dị cảm mức độ nhẹ

+ Đôi khi khó thở.

* Liều lượng

Người lớn: liều đề nghị của gemcitabine là 1.000 mg/m2 truyền tĩnh

mạch trong 30 phút. Lặp lại liều này mỗi tuần 1 lần trong 3 tuần liên tiếp, tiếp

theo đó ngưng 1 tuần. Sau đó lặp lại chu kỳ 4 tuần này khi dùng đơn trị .

Giảm liều thuốc dựa vào mức độ độc tính xảy ra trên bệnh nhân.



6

II. MỘT SỐ CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

Thử nghiệm của Tan và cs (2005) so sánh hai kết hợp vinorelbine với

carboplatin (CBDCA-VC) vinorelbine với gemcitabine (VG) ở bệnh nhân ung

thư phổi không tế bào



nhỏ ở giai đoạn IIIB-IV .Tổng số 316 bệnh



nhân UTPKTBN tiến triển chưa được điều trị trước đó đượcphân ngẫu

nhiên vào hai nhóm : hoặc vinorelbine 30 mg/m2 ngày 1,8 với carboplatin

AUC 5 ngày 1 (VC) hoặc vinorelbine 25mg/m2 với gemcitabine (VG) 1000

mg /m2 cả hai đều dùng ngày 1,8 mỗi 3 tuần. Điểm kết thúc chính là tỷ lệ đáp

ứng với các thơng số thứ yếu là tỷ lệ sống còn tồn bộ (OS), tỷ lệ sống còn

khơng bệnh tiến triển (progression-free survival - PFS), độ dung nạp và lợi

ích lâm sàng.

Số chu kỳ trung bình là 4 trong mỗi nhóm với tổng cộng 1268 chu

kỳ. Tỷ lệ đáp ứng là 20,8% ở VC và 28% ở VG (p = 0,15). Trung bình PFS là

3,9 tháng ở VC và 4,4 tháng ở VG (p = 0,18). Tỷ lệ sống trung bình dài hơn

đáng kể (p = 0,01) đối với VG với 11,5 mo so với 8,6 tháng ở VC với tỷ lệ

sống sót 1 năm là 48,9 và 34,4%. Sự dung nạp tốt hơn ở nhóm VG so

với bệnh nhân VC . Bốn trường hợp tử vong độc hại được ghi nhận trong

nhóm VC. Tỷ lệ đáp ứng lợi ích lâm sàng là 32,4% so với 40,9% ở 111 bệnh

nhân và 110 bệnh nhân được đánh giá ở VC và VG.

Nghiên cứu kết luận VG so với VC đã cho kết quả tỷ lệ đáp ứng tổng thể

tương tự, tỷ lệ sống còn cao hơn và ít độc tính hơn. Đối với hóa trị liệu khơng

phải là platin, VG là một lựa chọn thay thế hữu ích[11].

Nghiên cứu tổng quan của Bartsch V (2006) so sánh về dược lý và kết

quả điều trị của Vinorelbine đường uống và đường truyền tĩnh mạch cho thấy

: Hóa trị liệu uống thuận tiện hơn cho bệnh nhân và tiết kiệm thời gian đáng

kể. Vinorelbine được hấp thu nhanh sau khi uống . Độ khả dụng sinh học nằm

trong khoảng từ 33 đến 43% và không bị ảnh hưởng bởi lượng thức ăn đi kèm

hoặc nôn mửa xảy ra 1,5 giờ sau khi dùng thuốc. Có sự khác biệt đáng kể về



7

dược động học của vinorelbine uống được quan sát giữa người già (> hoặc

= 70 tuổi) và bệnh nhân trẻ. Liều đề nghị dùng cho vinorelbine uống là 60 mg

/ m2 mỗi tuần trong vòng 3 tuần (chu kỳ 1) và 80 mg / m 2 hàng tuần sau

đó. Tuy nhiên, nếu giảm bạch cầu nghiêm trọng xảy ra trong chu kỳ đầu, tiếp

tục điều trị với liều 60 mg / m 2 mỗi tuần. Nghiên cứu sinh khả dụng đã chứng

minh uống vinorelbine liều 60 và 80 mg / m2 tương đương với liều tiêm tĩnh

mạch 25 đến 30 mg / m2. Nghiên cứu đã chứng minh rằng vinorelbine

uống thể được quản lý một cách an tồn, thậm chí ở bệnh nhân lớn tuổi. So

sánh với hoạt tính của vinorelbine uống



với liều khuyến cáo so với



vinorelbine tĩnh mạch với liều 30 mg / m2 ở bệnh nhân NSCLC tiến triển

không thấy sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ đáp ứng , tiến triển và sự sống

còn tổng thể giữa hai phương pháp điều trị[17].

Nghiên cứu của Farhat FS (2015) so sánh không giai đoạn II đa trung

tâm được thiết kế để đánh giá phác đồ Cisplatin 80 mg / m 2 vào ngày thứ

nhất kết hợp với vinorelbine uống vào ngày 1 và 8 trong NSCLC tiến

triển.Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của vinorelbine đường

uống như là liệu pháp duy trì trong NSCLC tiến triển.Ba mươi chín bệnh nhân

được đưa váo nghiên cứu . Độ tuổi trung bình là 63 tuổi (khoảng 42-82). 38

bệnh nhân có thể đánh giá đáp ứng, đáp ứng khách quan sau khi điều trị bước

một được thấy ở 18 bệnh nhân (47%) với hai (5%) bệnh nhân đạt được đáp

ứng hoàn toàn. Bệnh ổn định ở 9 bệnh nhân (24%). Thời gian đáp ứng trung

bình là 6 tháng. Mười tám (46%) bệnh nhân tiếp tục uống vinorelbine duy

trì. PFS trung bình cho tồn bộ bệnh nhân nghiên cứu và nhóm điều trị duy

trì là 4,9 [95% CI (2,8-6,9)] và 6,7 [95% CI (3,7-9,7)] tháng, tỷ lệ sống còn

tồn bộ là 8,7 [95% CI (5.4-11.9)] và 11 [95% CI (8,3-13,7)] tháng. Các độc

tính quan sát huyết học chính được quan sát là thiếu máu độ 3 (8%) và giảm

bạch cầu trung tính độ 3 (8%). Nghiên cứu nhận thấy liệu pháp duy trì

với vinorelbine đường uống đơn trị là khả thi và được dung nạp tốt, thuận tiện

cho bệnh nhân[18].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Cơ chế tác dụng : Gắn với ống, làm mất liên kết polime của các vi ống, do dó ức chế gián phân, tương tự như các Vinca alkaloid khác. Ít tác dụng tới các vi ống của sợi trục thần kinh nên độc với hệ thần kinh thấp hơn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×