Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo nghiên cứu của P.Emery và cộng sự ( nghiên cứu RADIATE) sau 24 tuần điều trị tocilizumab kết hợp với MTX thì số khớp sưng ở nhóm nghiên cứu giảm -7,8 khớp so với thời điểm trước điều trị ( p<0,001). Kết quả này cao hơn trong nghiên cứu của chúng t

Theo nghiên cứu của P.Emery và cộng sự ( nghiên cứu RADIATE) sau 24 tuần điều trị tocilizumab kết hợp với MTX thì số khớp sưng ở nhóm nghiên cứu giảm -7,8 khớp so với thời điểm trước điều trị ( p<0,001). Kết quả này cao hơn trong nghiên cứu của chúng t

Tải bản đầy đủ - 0trang

66



Sau 24 tuần điều trị, chỉ số ritchie ở cả hai nhóm đều giảm có ý nghĩa

so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu. Ở nhóm can thiệp chỉ số này giảm xuống

1.7±2.2, còn ở nhóm chứng chỉ số này giảm xuống 10.2±5.3. Rõ ràng nhóm

can thiệp giảm rõ rệt hơn so với nhóm chứng với p<0,0001

Theo tiêu chuẩn đánh giá đợt tiến triển của EULAR, trong đợt tiến

triển bệnh nhân có chỉ số ritchie từ 9 điểm trở lên. Như vậy, trong nghiên cứu

của chúng tôi sau 24 tuần điều trị 100% bệnh nhân ở nhóm nghiên cứu có chỉ

số ritchie dưới 9 điểm, trong khi đó nhóm chứng chỉ có 46,7% bệnh nhân có

điểm ritchie dưới 9 điểm và sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,0001.

4.3.6. Hiệu quả điều trị qua thang điểm HAQ-DI

HAQ-DI là thang điểm đánh giá mức độ khuyết tật của bệnh nhân trong

nhiều lĩnh vực bệnh tật khác nhau nhất là các bệnh về xương khớp như viêm

khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp… Thang điểm này có tương quan

chặt chẽ với các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm. Đó cũng là thang điểm

dùng để đánh giá cải thiện hoạt động bệnh trong bệnh viêm khớp dạng thấp và

cải thiện mức độ vận động của bệnh nhân, đồng thời chỉ số này cũng được sử

dụng trong rất nhiều nghiên cứu lâm sàng [54]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở thời điểm 24 tuần điều trị , thang

điểm HAQ-DI ở nhóm điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX giảm

được -2,4 ( từ 2,6 xuống 0,2) so với thời điểm trước điều trị với p<0,001, còn

nhóm điều trị bằng MTX + HCQ giảm được -1,3 ( từ 2,5 xuống 1,2) so với

trước điều trị với p<0,0001. Cả hai nhóm đều có thang điểm HAQ-DI giảm rõ

rệt so với thời điểm trước điều trị, nhưng nhóm bệnh nhân điều trị bằng

tocilizumab phối hợp với MTX giảm rõ rệt hơn với p<0,0001.

Theo nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự ( LITHE STUDY)

đánh giá hiệu quả của tocilizumab phối hợp với MTX so với nhóm MTX kết

hợp với giả dược ở bệnh nhân đáp ứng lâm sàng kém với MTX. Sau 52 tuần,



67



thang điểm HAQ-DI ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp

với MTX giảm được -0,6 còn nhóm bệnh nhân điều trị bằng MTX phối hợp

với giả dược giảm được -0,4 với p<0,0014[8].

4.3.7. Hiệu quả điều trị qua các chỉ số viêm:

IL-6 là một cytokin tiền viêm tạo bởi nhiều loại tế bào khác nhau bao

gồm tế bào T, tế bào B, tế bào bạch cầu, bạch cầu đơn nhân và nguyên bào

sợi. IL-6 hoạt hóa các tế bào viêm như đại thực bào và bạch cầu trung tính từ

đó kích hoạt các phản ứng viêm, gây hủy hoại sụn khớp [6] . Trong các bệnh

khớp nói chung và VKDT nói riêng có hội chứng viêm sinh học do xuất hiện

các protein của quá trình viêm. Hội chứng viêm sinh học biểu hiện bằng tốc

độ máu lắng và protein-C phản ứng.

- Tôc độ máu lắng giờ thứ nhất:

Tốc độ máu lắng thể hiện mức độ viêm, tốc độ máu lắng càng cao thì mức

độ viêm càng nặng. Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, tốc độ máu lắng giờ

thứ nhất trung bình của hai nhóm lần lượt là 53.8±26.9mm và 42,7±18.1 mm,

không có sự khác biệt giữa hai nhóm với p>0,05

Sau 24 tuần điều trị, nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối

hợp với MTX có tốc độ máu lắng giờ đầu giảm rõ rệt hơn so với trước điều

trị với và so với nhóm điều trị bằng MTX + HCQ với p<0,0001. Cụ thể tốc

độ máu lắng giờ thứ nhất của nhóm điều trị bằng tocilizumab phối hợp với

MTX giảm -40,6 mm ( từ 53,8mm xuống 13,2 mm) thấp hơn hẳn so với

nhóm chứng là -26,4mm ( từ 42,7 xuống 16,3) với p< 0,0001.

Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của Joel M.

Kremer và cộng sự (nghiên cứu LITHE) có tốc độ máu lắng của nhóm nghiên

cứu giảm -38,6mm so với thời điểm trước điều trị với p<0,0001 [8]

- Nồng độ protein-C phản ứng(CRP):



68



CRP là một protein trong huyết thanh, được tổng hợp ở gan dưới tác

động của IL-6[6]. Bình thường CRP có nờng độ rất thấp và thường tăng trong

các phản ứng viêm cấp tính. Nờng độ CRP tăng nhanh khi cơ thể phản ứng lại

các tác nhân gây viêm sau đó giảm nhanh khi q trình viêm đã được thối lui

hoặc sau khi đã được điều trị một cách thích hợp [56]. CRP thay đổi nhanh

hơn so với tốc độ máu lắng và đặc hiệu hơn so với tốc độ máu lắng vì vậy

CRP cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả điều trị trong VKDT [14]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ CRP ở nhóm bệnh nhân điều

trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX giảm dần sau 12 tuần và sau 24 tuần.

Tại thời điểm 24 tuần, nồng độ CRP giảm -3,3mg/dl ( từ 3,8 mg/dl xuống 0,5

mg/dl ) so với trước điều trị với p<0,0001. Trong khi đó ở nhóm bệnh nhân

điều trị MTX+ HCQ, nồng độ CRP giảm không có ý nghĩa tại thời điểm 12

tuần với p>0,05 và sau 24 tuần , nồng độ CRP giảm -1 mg/dl (từ 3,3 mg/dl

xuống 2,3 mg/dl) và sự thay đổi này không có ý nghĩa với p>0,05.

Như vậy, sau 24 tuần nồng độ CRP của nhóm điều trị tocilizumab+

Methotrexat giảm rõ rệt so với trước điều trị và so với nhóm chứng với

p=0,007

Theo nghiên cứu của G Jones và cộng sự ( AMBITION STUDY) so

sánh hiệu quả của tocilizumab đơn độc với Methotrexat đơn độc ở bệnh nhân

VKDT có mức hoạt động bệnh từ trung bình đến mạnh, tại thời điểm 24 tuần

nồng độ CRP của nhóm nghiên cứu giảm -2,8mg/dl so với trước điều trị với

p<0,05[49] cũng gần tương tự như nghiên cứu của chúng tôi.



69



4.3.8. Hiệu quả điều trị qua DAS28 sử dụng CRP

DAS28 là chỉ số được sử dụng thường quy trong nghiên cứu lâm sàng

nhằm đánh giá mức độ hoạt động của bệnh và mức độ cải thiện diễn tiến của

bệnh VKDT [25]. Có thể tính DAS28 theo CRP hoặc tốc độ máu lắng. Tuy

nhiên, áp dụng công thức DAS28-CRP đánh giá mức độ hoạt động bệnh và sự

cải thiện hoạt động bệnh có ý nghĩa hơn so với DAS28- ESR [57]. Trong

nghiên cứu của mình chúng tôi sử dụng DAS28-CRP.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 12 tuần điều trị, nhóm bệnh nhân

điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX có chỉ số DAS28 - CRP giảm

hơn so với trước điều trị và so với nhóm chứng với p<0,0001 và tiếp tục giảm

sau 24 tuần nhóm can thiệp giảm -3,9 ( từ 5,8 xuống 1,9 ) , còn nhóm chứng

giảm -1,6( từ 5,7 xuống 4,1 tại thời điểm). Cả hai nhóm đều giảm có ý nghĩa

so với trước điều trị. Tuy nhiên, nhóm điều trị bằng tocilizumab phối hợp

MTX giảm rõ rệt hơn với p<0,0001

Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của Joel

M.Kremer và cộng sự ( nghiên cứu LITHE), trong nghiên cứu LITHE chỉ số

DAS28 ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX sau

52 tuần điều trị giảm được là -3,8 ( từ 6,6 tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu

xuống 2,8 tại thời điểm 52 tuần) với p<0,0001 [8]

Theo nghiên cứu TOWARD ( Mark C. Genovese và cộng sự), chỉ số

DAS28 sau 24 tuần điều trị tocilizumab phối hợp với DMARDs giảm -3,11

( từ 6,7 tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu giảm xuống 3,59 sau điều trị) với

p<0,0001, cũng tương tự như nghiên cứu của chúng tôi [7]

4.3.9. Hiệu quả điều trị qua thay đổi nồng độ RF sau 24 tuần điều trị

RF (Rheumatoid Factor) là yếu tố dạng thấp trong huyết thanh của

bệnh nhân VKDT có bản chất là các immunoglobulin do các tế bào lympho B

sản xuất ra dưới tác động của IL-6, từ đó tạo ra các phức hợp miễn dịch lắng



70



đọng trong khớp và gây tổn thương khớp [1] . Trong nghiên cứu lâm sàng RF

được sử dụng để đánh giá diễn tiến của bệnh và hiệu quả điều trị.

Tại thời điểm nghiên cứu nờng độ RF trung bình của nhóm can thiệp

cao hơn nhóm chứng với p=0.001. Nhưng sau 24 tuần nhóm can thiệp lại có

nồng độ RF trung bình thấp hơn so với trước điều trị và thấp hơn so với nhóm

chứng nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p= 0,632, trong

khi nồng độ RF của nhóm chứng còn tăng hơn so với trước điều trị p= 0,433

4.3.10. Hiệu quả điều trị qua thay đổi lượng Hemoglobin trung bình

IL-6 là một cytokine đa chức năng được sản xuất bởi nhiều loại tế bào.

IL-6 có một loạt các hoạt động sinh học trên các loại tế bào khác nhau như

trên gan, xương, tế bào lympho B, lympho T…Trên gan, IL-6 kích thích tế

bào gan sản xuất các protein pha cấp như hepcidin, CRP. Thông qua hepcidin,

IL-6 ảnh hưởng đến quá trình tạo máu do hepcidin ngăn cản sự hấp thu Fe từ

ruột và ức chế giải phóng Fe từ đại thực bào từ đó gây ra tình trạng thiếu máu

ở bệnh nhân VKDT [6].

Thiếu máu mạn tính gặp khoảng 31,5% bệnh nhân VKDT [12] .

Nguyên nhân thiếu máu trong VKDT thường là do quá trình viêm mạn tính

hoặc do biến chứng của q trình điều trị bệnh. Thiếu máu trong VKDT

thường kẻm theo triệu chứng giảm sắt huyết thanh và tăng ferritin, và tình

trạng thiếu máu không đáp ứng với điều trị sắt song được cải thiện khi điều trị

viêm khớp ổn định [58]

Tăng nồng độ hemoglobin ở bệnh nhân điều trị bằng Tocilizumab đã

được chứng minh ở rất nhiều nghiên cứu [49-50]

Sự thay đổi lượng hemoglobin trong huyết thanh của BN VKDT cũng

là một yếu tố giúp đánh giá cải thiện điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 24 tuần điều trị lượng hemoglobin

TB của nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX tăng



71



được 7,4g/l ( từ 124.7±13.6g/l lên 132.1±12.16g/l), sự thay đổi có ý nghĩa so

với trước điều trị với p<0,0001. Trong khi đó, nhóm bệnh nhân điều trị MTX

+ HCQ có lượng hemoglobin TB tăng ít hơn được 5,9g /l( từ 121.8±15.8g/l

lên 127.7±18.9g/l) và sự thay đổi này không có ý nghĩa với p>0,05.

Như vậy, sau 24 tuần điều trị, nồng độ hemoglobin TB ở nhóm bệnh nhân

điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX



tăng hơn với nhóm bệnh nhân



điều trị MTX + HCQ nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê này có thể do trước điều trị nồng độ

Hemoglobin của hai nhóm không thấp nên sau điều trị không tăng nhiều.

Nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự (nghiên cứu LITHE), sau

24 tuần nhóm điều trị tocilizumab+ Methotrextat có lượng Hemoglobin giảm

12,4g/dl cao hơn nhóm chứng là 1,3g/dl ( p<0,0001)[8].

4.3.11. Hiệu quả điều trị qua sự giảm liều các thuốc đã điều trị:

Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, liều corticoid TB (tính theo

prednisolon) ở hai nhóm là khơng có sự khác biệt với p>0,05.

Tuy nhiên, sau 24 tuần điều trị, liều corticoid TB ở nhóm điều trị bằng

tocilizumab phối hợp với MTX giảm rõ rệt so với nhóm điều trị bằng MTX+

HCQ ( từ 9,3 mg/ngày xuống 0,8 mg/ngày) so với từ (8,4 mg/ngày xuống 5,2

mg/ngày ) với p<0,0001. Sau 24 tuần, nhóm nghiên cứu của chúng tôi có

65,6% cắt được cortioid cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng chỉ có 10 % với

p< 0,0001 và tỉ lệ bệnh nhân giảm được liều Corticoid ở nhóm nghiên cứu là

100 % cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng (53,3%) với p<0,0001.

Theo nghiên cứu N Nishimoto đánh giá tính an tồn và hiệu quả lâu dài

của tocilizumab đơn trị ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (nghiên cứu

STREAM): cho thấy sau 5 năm 88,6% bệnh nhân giảm được liều corticoid và

31,8% bệnh nhân ngừng điều trị corticoid [59]



72



Như vậy hiệu quả điều trị trên giảm liều và cắt liều corticoid ở nhóm

điều trị tocilizumab+ Methotrexat tốt hơn hẳn so với nhóm chứng.

4.4. Các chỉ số đánh giá cải thiện hoạt động bệnh

4.4.1. Đánh giá tỷ lệ lui bệnh theo DAS28-CRP tại thời điểm 24 tuần

DAS28 là chỉ số được sử dụng thường quy trong nghiên cứu lâm sàng

nhằm đánh giá cải thiện diễn biến của bệnh VKDT.

DAS 28 < 2,6



:



Bệnh không hoạt động



2,6≤ DAS 28 ≤ 3,2:



Hoạt động bệnh mức độ nhẹ



3,2 < DAS 28 ≤ 5,1:



Hoạt động bệnh mức độ trung bình



DAS 28 >5,1



Bệnh hoạt động mạnh



:



Hiện nay, đích điều trị cho các bệnh nhân VKDT lý tưởng nhất là đạt

được lui bệnh (DAS28 <2,6) hoặc ít nhất là đạt được mức độ bệnh hoạt động

thấp (DAS28 ≤ 3,2).Vì khi đạt được mục tiêu này sẽ cải thiện triệu chứng lâm

sàng, ngăn ngừa phá hủy khớp đem lại một cuộc sống chất lượng hơn cho

bệnh nhân [60]. Chính vì vậy lựa chọn phương pháp điều trị đúng để đạt được

đích điều trị là điều vô cùng quan trọng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 24 tuần điều trị, nhóm bệnh nhân

điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX có:

- 64,3% BN đạt được lui bệnh hoàn toàn (DAS28<2,6)

- 32,1% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ( 2,6 ≤ DAS28 ≤3,2)

- 3,6% BN có mức độ hoạt động bệnh từ trung bình đến mạnh (DAS28 >3,2)

Trong khi đó, nhóm bệnh nhân điều trị bằng MTX đơn độc có:

- 6,7% BN đạt lui bệnh hoàn toàn ( DAS28<2,6)

- 20% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ( 2,6≤ DAS28 ≤ 3,2)

- 73,3 % BN có mức độ hoạt động bệnh từ trung bình đến mạnh (DAS28 >3,2)

Sự khác biệt giữa hai nhóm là rõ rệt và nhóm bệnh nhân dùng

tocilizumab phối hợp với MTX có hiệu quả điều trị tốt hơn hẳn so với nhóm

dùng MTX + giả dược ( p>0,0001)



73



* Theo nghiên cứu của



J. Bijlsma và cộng sự về điều trị viêm khớp



dạng thấp sớm bằng tocilizumab, methotrexate, hoặc kết hợp (U-Act-Early):

Sau 24 tuần tỉ lệ bệnh nhân đạt lui bệnh hoàn toàn ở nhóm điều trị

tocilizumab phối hợp với Methotrexat là 86% cao hơn so với điều trị

Methotrexat đơn độc (44%) với p<0,0001[52].

* Theo nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự ( LITHE STUDY), ở thời

điểm 52 tuần nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX có:

- 47,2% BN đạt lui bệnh hoàn toàn( DAS28 <2,6)

- 63,6% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ( 2,6≤DAS28≤3,2). Trong

khi đó ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng MTX phối hợp với giả dược có:

- 7,9% BN đạt lui bệnh hoàn toàn( DAS28<2,6)

- 18,5% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ(2,6≤ DAS28≤ 3,2)

Sự khác biệt giữa hai nhóm là rất lớn với p<0,0001 [8]

4.4.2. Cải thiện hoạt động bệnh theo EULAR dựa vào DAS28-CRP:

Theo tiêu chuẩn đánh giá cải thiện hoạt động bệnh theo EULAR dựa

vào hiệu số của DAS28 trước điều trị và DAS28 sau điều trị thì:

Hiệu số < 0,6



: không cải thiện



0,6 ≤ hiệu số < 1,2



: cải thiện trung bình



Hiệu số > 1,2



: cải thiện tốt.



Đây cũng là chỉ số quan trọng để đánh giá cải thiện điều trị ở bệnh

nhân VKDT [25]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hiệu số giữa DAS28-CRP TB trước và

sau 24 tuần điều trị của nhóm can thiệp là 3,8 cao hơn so với nhóm chứng

(1,5). Cả hai nhóm đều đạt mức độ cải thiện bệnh tốt theo EULAR nhưng Ở

nhóm can thiệp tốt hơn cụ thể: ở nhóm điều trị tocilizumab + Methotrexat cải

thiện bệnh tốt theo EULAR là 94,4%, cao hơn hẳn so với nhóm chứng

(53,3%) với p< 0,0001



74



Theo nghiên cứu của J. Bijlsma và cộng sự về điều trị viêm khớp dạng

thấp sớm bằng tocilizumab, methotrexate, hoặc kết hợp (U-Act-Early): nhóm

điều trị tocilizumab kết hợp với Methotrexat cải thiện EULAR tốt và trung

bình là 89% và 5% so với nhóm điều trị Methotrexat đơn độc (49% và 32%)

với p<0,0001 [52], nghiên cứu này tương tự với nghiên cứu của chúng tôi.

4.4.3. Đánh giá lui bệnh theo ACR tại thời điểm 24 tuần

Đánh giá lui bệnh theo ACR20,50,70 là bệnh nhân phải giảm được 20%,

50%, 70% số khớp sưng và số khớp đau. Đồng thời giảm được 20%, 50%, 70%

của 3 trong 5 thông số sau: Diễn tiến bệnh tổng quát theo đánh giá của bác sỹ,

diễn tiến bệnh tổng quát theo đánh giá của bệnh nhân, đánh giá đau của bệnh nhân

theo thang điểm VAS, đánh giá khả năng vận động của bệnh nhân theo bộ câu hỏi

HAQ-DI, tình trạng viêm ( tốc độ máu lắng hoặc CRP) [55]

Đánh giá lui bệnh theo ACR20,50,70 là tổng hợp của hầu hết các chỉ số

đánh giá mức độ hoạt động bệnh của bệnh nhân. Vì vậy, đây là chỉ số được sử

dụng trong rất nhiều nghiên cứu để đánh giá cải thiện hoạt động bệnh và đánh

giá lui bệnh

Trong NC của chúng tôi, nhóm BN điều trị bằng tocilizumab phối hợp

với MTX có tỷ lệ 84,4%, 71,8%, 62,5% BN đáp ứng ACR20, ACR50 và ACR

70 trong khi đó nhóm BN điều trị bằng MTX + HCQ là 56,7%, 26,7%, 6,7%

Như vậy, nhóm can thiệp có tỷ lệ đáp ứng ACR 20, 50, 70 cao hơn hẳn so với

nhóm chứng với (p<0,01 với tiêu chí ACR 20;p< 0,0001 với ACR 50 và

ACR70). Như vậy điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX mang lại hiệu

quả tốt hơn hẳn so với điều trị bằng MTX + HCQ.

Nghiên cứu của chúng tôi tương tự với nghiên cứu của J. Bijlsma.Theo

nghiên cứu của J. Bijlsma và cộng sự về điều trị viêm khớp dạng thấp sớm

bằng tocilizumab, methotrexate, hoặc kết hợp (U-Act-Early): sau 24 tuần

bệnh nhân nhóm được điều trị Tocilizumab+ Methotrexat có đáp ứng ACR20,



75



50, 70 là 75%, 64% và 44% , trong khi đó nhóm điều trị Methotrexat đơn độc

có 59%, 34%, 15%. Sự khác biệt giữa hai nhóm là rõ rệt với với (p<0,01 với

tiêu chí ACR 20;p< 0,0001 với ACR 50 và ACR 70 )

4.5. Nhận xét tính an tồn



và tác dụng không mong muốn của



tocilizumab (Actemra) phối hợp với Methotrexat trong điều trị VKDT

4.5.1. Lâm sàng

Trong 24 tuần điều trị tác dụng không mong muốn hay gặp nhất ở nhóm

can thiệp là nhiễm khuẩn chiếm 43,7% cao hơn so với nhóm chứng 33,3 %

nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p> 0,05.

Cụ thể, sau 24 tuần điều trị, nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab

phối hợp với MTX có :

- 5 BN bị nhiễm khuẩn hô hấp (chiếm 15,6%) gặp chủ yếu sau lần

truyền thuốc thứ 3 : Trong đó 1 (3,1%) bệnh nhân bị viêm phổi sau lần truyền

thuốc thứ 3 với các triệu chứng ho khạc đờm vàng và sốt nhưng khơng có tình

trạng suy hơ hấp bệnh nhân đã được chụp CT phổi có hình ảnh viêm phổi

( được xét nghiệm BK đờm âm tính). BN đã được điều trị kháng sinh tiêm

trong 1 tuần thì hết triệu chứng, sau đó bệnh nhân bỏ điều trị. Có 1(3,1%)

bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng bị lao màng phổi sau lần truyền thuốc thứ 3

với triệu chứng sốt nhẹ về chiều và đau ngực, bệnh nhân đã được chụp CT

phổi và sinh thiết màng phổi và điều trị theo phác đồ lao nên bệnh nhân phải

ngừng điều trị. Có 3 bệnh nhân (9,4%) bị viêm mũi họng xuất hiện sau lần

truyền thuốc thứ 2,3 nhưng điều trị đều đáp ứng với kháng sinh đường uống

và khỏi hoàn toàn trong 5 ngày và 3 bệnh nhân này vẫn tiếp tục tham gia

nghiên cứu

- Có 7 bệnh nhân bị nhiễm trùng tiết niệu (21,9%) gặp chủ yếu ở lần

truyền Actemra thứ 3,4 nhưng chỉ có 2 bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng

tiểu buốt, còn 5 bệnh nhân khơng có triệu chứng, các bệnh nhân này đều có



76



xét nghiệm BC niệu 125- 500 cells/ul. 7 bệnh nhân đều đáp ứng tốt với điều

trị kháng sinh Ciprobay 1g/ngày và khỏi hồn tồn trong 1 tuần, khơng gặp tái

phát ở những lần truyền sau

- 6 BN có triệu chứng trên đường tiêu hóa( chiếm 18,75%) : trong đó 2

bệnh nhân có triệu chứng buồn nôn sau khi truyền thuốc 3 giờ và tự hết sau 1

ngày mà không phải điều trị gì (gặp ở lần truyền thứ 2, 3). Ở những lần truyền

sau bệnh nhân này không gặp phải tác dụng phụ này.

Có 4 bệnh nhân có triệu chứng đau bụng âm ỉ vùng thượng vị được điều

trị khỏi bằng thuốc ức chế bơm proton ( không cần nội soi dạ dầy)

- 1 BN có cơn tăng huyết áp( 150/90 mmHg) ngay sau khi truyền hết

thuốc gặp ở lần truyền thứ 4, được hạ huyết áp bằng thuốc amlodipin 5mg.

Bệnh nhân này không có tiền sử tăng huyết áp. Những lần truyền sau bệnh

nhân khơng bị tăng huyết áp.

- Ngồi ra còn gặp một số bệnh nhân có phản ứng tiêm truyền, nhiễm

khuẩn da và mô mềm, herper zoter tỉ lệ rất nhỏ(chiếm tỉ lệ đồng thời 3,13% )

triệu chứng không rầm rộ sau điều trị ổn định bệnh nhân vẫn tiếp tục tham

gia điều trị và không tái phát ở những lần điều trị tiếp theo.

Nhóm bệnh nhân điều trị bằng MTX +HCQ

- 10 BN gặp nhiễm khuẩn ( chiếm 33,3%): trong đó có 2 bệnh nhân

(6,6%) bị viêm họng điều trị khỏi bằng kháng sinh uống trong 1 tuần . 3 bệnh

nhân ( 10%) bị nhiễm trùng tiết niệu ,2 bệnh nhân( 6,6%) nhiễm khuẩn da và

mô mềm, 3 bệnh nhân( 10%) bị Herper zoter đều điều trị khỏi trong 10 ngày

và không bỏ điều trị

- 4 BN gặp tác dụng trên đường tiêu hóa (chiếm 13,3%) với các triệu

chứng đau bụng âm ỉ vùng thượng vị và đầy bụng được điều trị khỏi bằng

thuốc ức chế bơm proton ( không cần nội soi dạ dầy)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo nghiên cứu của P.Emery và cộng sự ( nghiên cứu RADIATE) sau 24 tuần điều trị tocilizumab kết hợp với MTX thì số khớp sưng ở nhóm nghiên cứu giảm -7,8 khớp so với thời điểm trước điều trị ( p<0,001). Kết quả này cao hơn trong nghiên cứu của chúng t

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×