Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.17: Xét nghiệm bạch cầu trung tính, tiểu cầu

Bảng 3.17: Xét nghiệm bạch cầu trung tính, tiểu cầu

Tải bản đầy đủ - 0trang

58



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của 2 nhóm bệnh nhân

Nhóm nghiên cứu gờm 32 BN được điều trị phối hợp

tocilizumab( Actemra) và Methotrexat trong 24 tuần

Nhóm chứng gờm 30 bệnh nhân được điều trị Methotrexat + HCQ

trong 24 tuần.

4.1.1. Đặc điểm về tuổi, giới của 2 nhóm bệnh nhân:

Viêm khớp dạng thấp là bệnh thường gặp ở lứa tuổi trung niên. Trong

nghiên cứu của chúng tôi nhóm can thiệp có 27 bệnh nhân chiếm 84,4% nằm

trong độ tuổi từ 36-65, tỉ lệ này ở nhóm chứng là 86,7% .Tuổi trung bình của

nhóm can thiệp là 53,4±10,9 tuổi; của nhóm chứng là 54,1±10,2 tuổi . Không

có sự khác biệt về tuổi trung bình ở hai nhóm ( p>0,05)

Viêm khớp dạng thấp là bệnh thường gặp ở nữ giới. Nhóm can thiệp

của chúng tôi có 93,8% bệnh nhân là nữ, nhóm chứng có 86,7% bệnh nhân là

nữ và cũng không có sự khác biệt về giới tính giữa hai nhóm (p>0,05).

Theo nghiên cứu về tình hình bệnh tật tại khoa Cơ Xương Khớp Bệnh

Viện Bạch Mai từ 1991-2000 của tác giả Nguyễn Thu Hiền thì nữ giới chiếm

92,3%, và lứa tuổi chiếm đa số là từ 36-65 chiếm 72,6%. Các số liệu về tuổi và

giới trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu trên [11]

Theo nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự ( nghiên cứu LITHE )

về đánh giá hiệu quả của tocilizumab phối hợp với MTX trong điều trị VKDT

ở bệnh nhân đáp ứng kém với MTX thì tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu

là 53,4±11,7 tuổi; của nhóm chứng là 51,3±12,4 tuổi , trong đó nữ giới của

hai nhóm lần lượt là 82% và 83%. Các số liệu về tuổi và giới trong can



59



thiệp của chúng tôi cũng tương tự như trong nghiên cứu của Joel M. Kremer

và cộng sự [8]

Như vậy, đặc điểm về tuổi và giới của hai nhóm bệnh nhân trong

nghiên cứu của chúng tôi là tương đồng nhau và cũng tương tự như một số

nghiên cứu tại Việt nam và trên thế giới. Đây cũng là những đặc điểm điển

hình và đại diện cho bệnh nhân viêm khơp dạng thấp

4.1.2. Đặc điểm về giai đoạn bệnh của 2 nhóm bệnh nhân:

Dựa vào chức năng vận động và hình ảnh tổn thương X quang của

khớp Steinbrocker đã chia ra 4 giai đoạn [24]

Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân của 2 nhóm ở giai

đoạn 2 theo phân loại của Steinbroker , trong đó nhóm can thiệp chiếm 46,9%

và nhóm chứng chiếm 56,7%. Có 21,9% bệnh nhân của nhóm can thiệp và

16,7% bệnh nhân của nhóm chứng ở giai đoạn 1. Có 21,8 % và 3,1% bệnh

nhân của nhóm điều trị Actemra + Methotrexat ở giai đoạn 3 và 4 và ở nhóm

chứng là 20%, 6,7%

Như vậy, không có sự khác biệt về giai đoạn bệnh giữa hai nhóm trong

nghiên cứu của chúng tôi tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu (p>0,05).

4.1.3. Đặc điểm về thời gian mắc bệnh:

Viêm khớp dạng thấp là bệnh khớp mạn tính, thường diễn biến trong

nhiều năm. Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, thời gian mắc bệnh trung bình

của nhóm can thiệp là 7,2±7,6 của nhóm chứng là 8,8±9,7 năm , không có sự

khác biệt về thời gian mắc bệnh giữa 2 nhóm với p>0,05.

Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác. Theo

nghiên cứu của Josef S Smolen và cộng sự ( OPTION STUDY) đánh giá hiệu

quả của tocilizumab so với giả dược ở 623 bệnh nhân đáp ứng kém với MTX

thì thời gian mắc bệnh trung bình của nhóm nghiên cứu là 7,5±7,3 năm, nhóm

chứng là 7,8±7,2 năm với p> 0,05 [50]



60



Thời gian mắc bệnh của các bệnh nhân trong các nghiên cứu đều dao

động rất lớn, từ vài tháng đến vài năm, điều này nói lên tính chất mạn tính của

bệnh, và điều quan trọng nhất là trong nghiên cứu của chúng tôi cũng như các

nghiên cứu khác,tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu thời gian mắc bệnh trung

bình của 2 nhóm là như nhau ( p>0,05).

4.1.4.Tiền sử các thuốc điều trị tại thời điểm nghiên cứu:

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân ở nhóm can thiệp và

nhóm chứng đã từng được điều trị Methotrexat ít nhất 3 tháng, liều dùng

trung bình của Methotrexat ở nhóm can thiệp là 15,3± 3,8 mg/ tuần còn ở

nhóm chứng 15,0±3,1 mg/tuần . Tỉ lệ bệnh nhân dùng Corticoid và NSAIDs

ở nhóm can thiệp là 100%,0% còn ở nhóm chứng là 90% và 10%. không có

sự khác biệt về tình trạng sử dụng corticoid và Methotrexat và NSAIDs giữa 2

nhóm tại thời điểm nghiên cứu với p>0,05

Theo nghiên cứu của Josef S Smolen và cộng sự ( OPTION STUDY)

đánh giá hiệu quả của tocilizumab so với giả dược ở 623 bệnh nhân đáp ứng

kém với MTX, liều Methotrexat trung bình của nhóm phối hợp với

tocilizumab là 14,5±4,4 mg/tuần, ở nhóm chứng là 14,8±4,2 mg/ tuần, không

có sự khác biệt giữa 2 nhóm với p > 0,05

Như vậy nghiên cứu của chúng tương tự như nghiên cứu OPTION về

liều sử dụng Methotrexat trước điều trị.

4.2. Các chỉ số về mức độ hoạt động bệnh tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu

- Số khớp đau trung bình:Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, số khớp

đau trung bình của nhóm can thiệp là 14,6± 9,3 khớp, của nhóm chứng là

15,6± 8,3 khớp và không có sự khác biệt về số khớp đau trung bình giữa hai

nhóm với p>0,05.



61



- Số khớp sưng trung bình: Số khớp sưng trung bình tại thời điểm bắt

đầu nghiên cứu của nhóm can thiệp và nhóm chứng là 5,4 ± 3,6 khớp và

4,3±2,9 khớp và không có sự khác biệt về số khớp sưng trung bình của hai

nhóm nghiên cứu với p>0,05.

Theo nghiên cứu của Lê Thị Hải Hà về hình ảnh tổn thương khớp cổ

tay của bệnh nhân VKDT trên hình ảnh XQ và cộng hưởng từ thì số khớp đau

và số khớp sưng trung bình là 14,9±3,8 khớp và 9,7±4,6 khớp [19]

Nghiên cứu của chúng tôi có số khớp đau và số khớp sưng trung bình

cũng gần tương tự như nghiên cứu của Lê Thị Hải Hà

- Điểm VAS trung bình: Tại thời điểm T0, chỉ số VAS trung bình của

nhóm can thiệp là 68,8± 8,7 và của nhóm chứng là 66,7±13,5. Không có sự

khác biệt về chỉ số VAS trung bình giữa hai nhóm với p>0,05.

Theo nghiên cứu của P. Emery và cộng sự ( RADIATE STUDY) đánh

giá hiệu quả của tocilizumab phối hợp với MTX trong điều trị VKDT ở bệnh

nhân đáp ứng kém với kháng TNF-alpha thì chỉ số VAS trung bình của nhóm

nghiên cứu là 64,7±20,6 và của nhóm chứng là 64,1±21,8 với p> 0,05 [9]

Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt về chỉ số VAS

trung bình của nhóm can thiệp và nhóm chứng với p>0,05 và tương tự với

nghiên cứu RADIATE

- Điểm hoạt động bệnh DAS28-CRP: Tại thời điểm T0, điểm hoạt

động bệnh DAS28-CRP của nhóm can thiệp là 5,8±0,8; của nhóm chứng là

5,7±1,0. Kết quả trên cho thấy không có sự khác biệt về điểm hoạt động bệnh

DAS28-CRP giữa hai nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi với p>0,05. Đây

cũng là điểm hoạt động bệnh DAS28 thường gặp ở những bệnh nhân chưa

được điều trị bằng thuốc sinh học.



62



Theo nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự ( LITHE STUDY),

điểm hoạt động bệnh DAS28-CRP của nhóm nghiên cứu là 6,6±1,0 và của

nhóm chứng là 6,5±1,0 với p>0,05 [8]

DAS28 là chỉ số được sử dụng để đánh giá mức độ hoạt động bệnh ở

bệnh nhân VKDT. DAS28 được xác định thông qua các chỉ số về số khớp

đau, số khớp sưng, bilan viêm ( CRP hoặc ESR) và đánh giá mức độ đau khớp

của bệnh nhân qua VAS[25]. Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự

khác biệt về điểm hoạt động bệnh DAS28 giữa hai nhóm (p>0,05) . Đồng thời

điểm DAS28-CRP cũng tương tự như nghiên cứu LITHE

- Ngoài ra, các chỉ số máu lắng giờ thứ nhất, nồng độ protein-C phản

ứng, điểm HAQ-DI trung bình tại thời điểm T0 cũng khơng có sự khác biệt

giữa hai nhóm nghiên cứu của chúng tôi với p >0,05.

Trên đây là 1 số chỉ số chính thể hiện mức độ hoạt động bệnh của nhóm

can thiệp và nhóm chứng tại thời điểm T0. Tất cả các chỉ số đều cho thấy sự

tương đồng giữa 2 nhóm về lâm sàng và xét nghiệm tại thời điểm bắt đầu

nghiên cứu và cũng tương đồng với một số nghiên cứu trên thế giới, từ đó

chúng tơi tiếp tục tìm hiểu sự thay đổi trong thời gian nghiên cứu.

4.3. Hiệu quả điều trị của Tocilizumab phối hợp với Methotrexat

4.3.1. Hiệu quả giảm đau theo thang điểm đau VAS

Điểm đau VAS là một chỉ số được sử dụng để đánh giá mức độ hoạt

động bệnh ở bệnh nhân VKDT. Khi điểm đau VAS lớn chứng tỏ bệnh hoạt

động mạnh [25] . Tại thời điểm T0, điểm VAS trung bình của nhóm can thiệp

là 68,8± 8,7 mm và của nhóm chứng là 66,7±13,5 mm. Không có sự khác biệt

về chỉ số VAS trung bình giữa hai nhóm với p>0,05. Sau 12 tuần điều trị điểm

đau VAS trung bình của nhóm can thiệp giảm xuống 30,6±13,4 mm thấp hơn

so với nhóm chứng ( 53,7±11,3 mm), sự thay đổi đều có ý nghĩa ở cả hai

nhóm p < 0,0001. Sự thay đổi này tiếp tục giảm rõ rệt ở thời điểm 24 tuần,



63



sau 24 tuần điều trị thì cả hai nhóm đều có thang điểm đau VAS giảm xuống rõ

rệt: nhóm điều trị Actemra + Methotrexat giảm -56,7 mm( từ 68,8mm xuống

12,1mm) và nhóm chứng giảm -20 mm (từ 66,7 mm xuống 46,7 mm).Tuy

nhiên, khi so sánh giữa hai nhóm thì chúng tơi thấy nhóm nghiên cứu có điểm

đau VAS giảm rõ rệt hơn hơn so với nhóm chứng với p<0,0001.

Theo nghiên cứu của G Jones và cộng sự ( AMBITION STUDY) so

sánh hiệu quả của tocilizumab đơn độc với methotrexat đơn độc ở bệnh nhân

VKDT có mức hoạt động bệnh từ trung bình đến mạnh, tại thời điểm 24 tuần

điểm đau VAS của nhóm điều trị bằng tocilizumab giảm -31,9 mm so với nhóm

điều trị MTX (-29,9mm) [49]

4.3.2. Hiệu quả trên thời gian cứng khớp buổi sáng

Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, thời gian cứng khớp buổi sáng của

hai nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi là không có sự khác biệt với p>0,05.

Tuy nhiên thời gian này giảm xuống rõ rệt sau 12 tuần và sau 24 tuần ở cả 2

nhóm nhưng nhóm nghiên cứu giảm nhiều hơn sự khác biệt giữa hai nhóm là

rất lớn với p<0,001. Sau 24 tuần ở nhóm nghiên cứu thời gian này giảm từ

104.0±48.6 phút xuống 2.3±4.6phút còn ở nhóm chứng giảm từ 101.5± 46.2

phút xuống 35.5±22.4 phút với p< 0,0001

Theo tiêu chuẩn đánh giá đợt tiến triển của EULAR thì trong đợt tiến

triển, thời gian cứng khớp buổi sáng ít nhất là 45 phút. Trong nghiên cứu của

chúng tôi, sau 24 tuần điều trị nhóm can thiệp có 100% số bệnh nhân có thời

gian cứng khớp buổi sáng dưới 45 phút cao hơn hẳn so với nhóm chứng là

66,7%, sự khác biệt giữa hai nhóm là rất lớn với p<0,001

Theo nghiên cứu của tác giả Đặng Hồng Hoa về đánh giá hiệu quả và

tác dụng không mong muốn của phác đồ phối hợp tocilizumab( Actemra) với

Methotrexat trong điều trị viêm khớp dạng thấp, sau 12 tuần nhóm điều trị

Actemra có 93,4% bệnh nhân có cứng khớp buổi sáng< 45 phút trong khi



64



nhóm chứng là 30 % (P< 0,001)[51]. Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi

tương tự như nghiên cứu trên.

4.3.3. Hiệu quả điều trị qua số khớp đau

Số khớp đau là một chỉ số được sử dụng để đánh giá mức độ hoạt động

bệnh ở bệnh nhân VKDT thông qua DAS28[25]. Đánh giá số khớp đau ở

bệnh nhân VKDT là rất quan trọng đối với những thử nghiệm lâm sàng có so

sánh với nhóm đối chứng.

Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, số khớp đau trung bình của hai nhóm

là như nhau với p>0,05. Tuy nhiên, sau 12 tuần số khớp đau trung bình của cả

hai nhóm đều giảm xuống. Nhóm điều trị bằng tocilizumab phối hợp với

MTX giảm từ 16.6±9.3 khớp xuống 3.7±2.5 khớp giảm hơn so với nhóm điều

trị bằng MTX + HCQ( giảm từ 15.6±8.3 khớp xuống 7.6±4.6 khớp). Sau 24

tuần tiếp tục giảm ở cả hai nhóm, nhóm điều trị bằng tocilizumab phối hợp

với MTX giảm xuống còn 1.4±1.6 khớp (giảm -15,2 khớp so với thời điểm

T0) còn nhóm chứng giảm xuống còn 6,0 ± 2.9 khớp ( giảm –9,6 khớp so

với thời điểm T0) . Cả hai nhóm đều giảm có ý nghĩa so với thời điểm T0 với

p<0,0001 tuy nhiên nhóm điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX giảm

rõ rệt hơn so với nhóm chứng với p<0,0001

Theo nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự ( nghiên cứu LITHE )

về đánh giá hiệu quả của Tocilizumab phối hợp với MTX trong điều trị

VKDT ở bệnh nhân đáp ứng kém với MTX, sau 24 tuần nhóm điều trị bằng

Tocilizumab phối hợp với MTX giảm -15,9 khớp đau so với nhóm chứng

-4,3 ( p< 0,0001). Kết quả này cũng gần tương tự như trong nghiên cứu của

chúng tôi [8].

4.3.4. Hiệu quả điều trị qua số khớp sưng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.17: Xét nghiệm bạch cầu trung tính, tiểu cầu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×