Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Về độ tuổi mắc bệnh, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng bệnh gặp chủ yếu ở độ tuổi lao động, trong nghiên cứu của chúng tôi, lứa tuổi lao động từ 33-55 tuổi chiếm 50% và từ 56 tuổi trở lên chiếm 50%. Kết quả của chúng tôi khác khi so sánh với một số tác

Về độ tuổi mắc bệnh, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng bệnh gặp chủ yếu ở độ tuổi lao động, trong nghiên cứu của chúng tôi, lứa tuổi lao động từ 33-55 tuổi chiếm 50% và từ 56 tuổi trở lên chiếm 50%. Kết quả của chúng tôi khác khi so sánh với một số tác

Tải bản đầy đủ - 0trang

67



thường gặp ở những người 50 tuổi và từ tuổi trên 64 tỉ suất chênh là 1.4 lần cho

mỗi 10 tuổi tăng thêm [4]

So sánh đặc điểm về tuổi giữa 2 nhóm tiêm :

- Tuổi trung bình của nhóm chứng “tiêm mù” là 50,2 ± 12,8

- Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu (SÂ hướng dẫn) là 55,0 ± 14,3

Như vậy, đặc điểm về tuổi của 2 nhóm khơng có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p > 0,05.

4.1.2. Giới

Trong nghiên cứu của chúng tơi, ở nhóm chứng tỉ lệ bệnh nhân nam là

38.2%, nữ là 61.8%. Ở nhóm NC tỉ lệ bệnh nhân nam là 23.5% nữ là 76.5%. Sự

khác biệt tỉ lệ nam, nữ giữa 2 nhóm khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0.05.

Tuy nhiên trong từng nhóm tỉ lệ nữ mắc bệnh cao hơn ở nam. Kết quả

của chúng tôi cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu khác như Nguyễn Văn

Thạch Vi Thị Hải, Phạm Thị Hoài Giang, Nguyễn Thị Hoa[1],[13],[36],[51]

Theo các nghiên cứu trước đây đau thần kinh toạ do TVĐĐ gặp ở cả hai

giới, tỷ lệ khác nhau tuỳ từng nghiên cứu, thông thường tỉ lệ gặp ở nam cao

hơn nữ. Destandau (2004), nam chiếm 70%, cao hơn hẳn so với nữ, theo nhận

xét của một số tác giả trong nước: tỷ lệ bệnh gặp ở nam/nữ dao động trong

khoảng 1,2/1 – 1,7/1 [1].

Nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi, cũng như các tác giả dẫn ở trên[1],

[13],[36],[51] cho thấy kết quả ngược lại tỉ lệ nữ mắc bệnh cao hơn nam, bao

gồm cả các nghiên cứu trong bệnh viện và ngồi cộng đồng. Điều này có lẽ phù

hợp với điều kiện kinh tế xã hội và phân công lao động ở Việt Nam, phụ nữ mặc

dù thể chất sinh lý yếu hơn , cộng thêm những biến đổi nội tiết ở thời kì tiền mãn

kinh, mãn kinh ảnh hưởng đến hệ thống cơ xương, nhưng nữ giới cũng phải làm

những cơng việc nặng nhọc khơng kém gì nam giới nên ảnh hưởng đến tỉ lệ

bệnh ở nữ.



68



4.1.3. Nghề nghiệp

Đối với bệnh nhân đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm việc tìm hiểu về

nghề nghiệp của người bệnh có ý nghĩa quan trọng trong q trình chẩn đốn,

theo dõi, tư vấn và tiên lượng kết quả điều trị. Trong nghiên cứu của chúng

tơi, bệnh nhân có nghề nghiệp thuộc nhóm lao động nặng chiếm tỉ lệ cao, ở

nhóm chứng là 64.7%, nhóm NC tỉ lệ là 67.6%. Sự khác biệt giữa 2 nhóm

khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0.05. Kết quả này phù hợp với nhiều

nghiên cứu khác.

Rất nhiều nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng

hoạt động thể lực liên quan đến nghề nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ mắc

đau thần kinh tọa và thoát vị đĩa đệm.[4] Trong một báo cáo tổng quan,

Stafford (2007) đã nêu: nguy cơ mắc bệnh của những thợ mộc cao tăng gấp

1,7 lần, thợ vận hành máy móc là 1.6 lần so với những nhân viên văn phòng.

Những nơng dân đã nghỉ hưu, hoặc làm bán thời gian nguy cơ bị đau thần

kinh tọa cũng thấp hơn so với những người làm việc toàn thời gian.

Những yếu tố nguy cơ của đau thần kinh tọa liên quan tới nghề nghiệp

đã được khẳng định bao gồm: những nghề nghiệp với tư thế lao động khó

khăn như: cột sống phải xoắn vặn, công nhân khuân vác, lái xe tải trọng nặng,

lái xe đường dài, thậm chí những nghề nghiệp ít vận động phải ngồi nhiều giờ

liền. Việc hiểu biết về nghề nghiệp giúp bác sỹ có những tư vấn phù hợp cho

bệnh nhân trong quá trình điều trị.

4.1.4. Đặc điểm về tiền sử bệnh tật

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đặc điểm về tiền sử bệnh ở nhóm chứng

và nhóm nghiên cứu tương đồng nhau, sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống

kê với p > 0.05. Nhóm nghiên cứu, bệnh nhân có tiền sử khỏe mạnh chiếm

50%, có các bệnh nội khoa kèm theo chiếm 32.3%, có 2 bệnh nhân có tiền sử

phẫu thuật cột sống thắt lưng chiếm 5.9%. Nắm được tiền sử bệnh tật có ý



69



nghĩa quan trọng trong thực hành điều trị bệnh nói chung và trong điều trị đau

thần kinh tọa do TVĐĐ nói riêng. Nó giúp người thầy thuốc xây dựng các

phác đồ điều trị cụ thể và đưa ra các quyết định can thiệp phù hợp cho từng

bệnh nhân.

Đối với những bệnh nhân đau thần kinh tọa sau phẫu thuật CSTL, nếu

khơng có bằng chứng của chèn ép cơ học, thì điều trị bảo tồn được chỉ định và

trong trường hợp này, nếu có chỉ định tiêm corticoid ngồi màng cứng thì

đường tiêm qua khe cùng cụt nên là ưu tiên số 1 và đạt được hiệu quả điều trị

tốt [10],[11],[19],[52],[53].

4.1.5. Thời gian mắc bệnh

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phân bố tỉ lệ bệnh nhân theo thời gian

mắc bệnh giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu khác nhau khơng có ý nghĩa

thống kê với p > 0.05.

Ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu đa số bệnh nhân đến viện trước 3 tháng,

là giai đoạn cấp của bệnh, chiếm tỉ lệ trên 70%. Kết quả này phù hợp với

nghiên cứu của các tác giả Vi Thị Hải là 75%, Cao Hoàng Tâm Phúc là 70%

và Phạm Thị Hồi Giang là 85.6% [13],[16],[36].

Việc phân tích thời gian mắc bệnh của bệnh nhân đau thần kinh tọa do

TVĐĐ, thường được sử dụng trong tiên lượng kết quả điều trị. Ở Việt Nam

chúng tơi chưa thấy có nghiên cứu nào đánh giá về vấn đề này, tuy nhiên trên

thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhưng kết quả giữa các nghiên cứu chưa

thống nhất. Farzad Omidi-Kashani và CS (2014), cho thấy thời gian mắc bệnh

trên hoặc dưới 12 tháng không ảnh hưởng đến kết quả điều trị ở bệnh nhân

được phẫu thuật đĩa đệm L4/5 [54]. Nhưng Jeffrey A.Rihn và CS (2011) báo

cáo thời gian mắc bệnh càng dài liên quan đến kết quả điều trị tồi hơn cho cả

bệnh nhân được điều trị phẫu thuật hoặc không phẫu thuật [55].



70



4.1.6. Hoàn cảnh khởi phát bệnh

Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân khởi phát bệnh tự

nhiên (29/68 BN chiếm 42,6%), sai tư thế 29.4% (20/68) bệnh nhân. Kết quả

này khá phù hợp với nghiên cứu của nhiều tác giả như Đỗ Vũ Anh, Vi Thị

Hải, Cao Hoàng Tâm Phúc…[12],[13],[16]. Các tác giả đều báo cáo bệnh

nhân khởi phát bệnh tự nhiên chiếm tỉ lệ cao nhất.

Điều này phù hợp với cơ chế bệnh sinh của thoát vị đĩa đệm. Trên cơ sở

lão hóa của đĩa đệm theo thời gian(thối hóa sinh lý) và do bệnh lý của bản

thân đĩa đệm (chấn thương, miễn dịch chuyển hóa..) dẫn đến tình trạng thối

hóa đĩa đệm. Đĩa đệm bị thối hóa khi chịu lực tác động của chấn thương

(đột ngột cấp tính, từ từ mạn tính hoặc một cử động bất thường của cột sống

ở tư thế bất lợi…) cũng có thể gây thốt vị đĩa đệm.

Sự khác biệt về hồn cảnh khởi phát giữa nhóm chứng và nhóm nghiên

cứu là khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

4.1.7. Đặc điểm về vị trí đau và vị trí rễ tổn thương

Vị trí đau: trong nghiên cứu của chúng tôi thấy đa số các trường hợp

đau thần kinh toạ một bên chiếm 69,1% trường hợp,còn lại là đau thần kinh

toạ hai bên chiếm 30,9%.

Về vị trí rễ tổn thương: ở cả 2 nhóm vị trí rễ tổn thương chủ yếu là L5,

S1 và đồng thời cả L5,S1, chiếm trên 90%, hay gặp nhất là đau thần kinh

toạ rễ L5 chiếm trên 60% các trường hợp ở cả hai nhóm.

Kết quả của chúng tơi tương đồng với báo cáo của nhiều tác giả

khác[12],[13],[16].

Tỉ lệ phân bố bệnh nhân theo vị trí đau và vị trí rễ tổn thương ở 2 nhóm

trong nghiên cứu của chúng tơi khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê với p >0.05



71



4.1.8. Một số đặc điểm lâm sàng thường gặp khác

Một số triệu chứng lâm sàng thường gặp ở nhóm chứng và nhóm NC

gồm: Đau kiểu cơ học, dấu hiệu chèn ép rễ và nghiệm pháp Laségue dương

tính. Các triệu chứng lâm sàng ít gặp hơn gồm rối loạn cảm giác, rối loạn

phản xạ gân xương, teo cơ.

Kết quả của chúng tôi phù hợp với báo cáo của nhiều tác giả khác [12],

[13],[16],[17].

Sự khác biệt về phân bố tỉ lệ bệnh nhân theo các triệu chứng lâm sàng,

giữa 2 nhóm khơng có ý nghĩa thống kê với p>0.05.

4.1.9. Đặc điểm về thoát vị đĩa đệm dựa vào phim CHT

Số tầng và vị trí thốt vị đĩa đệm:

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hay gặp nhất là thoát vị đĩa đệm hai

tầng (29/68 bệnh nhân - 42,6%), sau đó là thốt vị đĩa đệm 1 tầng (25/68

bệnh nhân - 36,8%), TVĐĐ lớn hơn 2 tầng (20,7%). vị trí đĩa đệm thốt vị

hay gặp nhất là L4/L5 với tỉ lệ 86,7%, tiếp đó là L5/S1 với tỉ lệ 57,3%. Khơng

có sự khác biệt vị trí thốt vị đĩa đệm trên phim CHT giữa 2 nhóm, với

p>0.05.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả của các

tác giả trong và ngoài nước. [13],[36],[50].

Chúng tôi cũng như các nghiên cứu khác đều thấy rằng thoát vị hay xảy

ra đối với đĩa đệm L4-L5 và/ hoặc L5-S1, trong đó vị trí L4-5 chiếm tỷ lệ cao

hơn . Nhận định này phù hợp với đặc điểm giải phẫu-sinh lý-sinh lý bệnh của

TVĐĐ cột sống thắt lưng. Do hai đĩa đệm này nằm ở vùng bản lề vận động

chủ yếu của cột sống, thường xuyên phải chịu áp lực trọng tải cao nhất kể cả

sức ép cân đối hay không cân đối trong cả điều kiện tĩnh và động, đó chính là

cơ sở cơ bản cho sự phát sinh thối hóa đĩa đệm và TVĐĐ ở hai vị trí này.

Theo các nghiên cứu [36], chuyển động của đốt sống thắt lưng L4-5 chiếm tỷ



72



lệ nhiều hơn cả. Do vậy, có thể chính điều này đã làm tỷ lệ TVĐĐ xuất hiện

nhiều hơn ở vị trí L4-L5.

Mức độ thoát vị đĩa đệm

Trong số 68 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tơi, 31 bệnh nhân có thốt

vị đĩa đệm thật sự trên phim chụp MRI cột sống thắt lưng chiếm 45,6%, có 21

bệnh nhân phồng - lồi đĩa đệm chiếm 30,9%, có 14 bệnh nhân phồng,lồi và

thốt vị đĩa đệm thực thụ chiếm 20,6% và 2 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm di trú

chiếm 2.9%.

Tỷ lệ thoát vị đĩa đệm thực sự chiếm tỷ lệ cao trong nghiên cứu của

chúng tôi tương đồng với báo cáo của các tác giả khác như Vi Thị Hải là

65%[13] và Huỳnh Hồng Châu 42.6% [50].

Có quan điểm cho rằng mức độ thốt vị đĩa đệm trên phim CHT liên

quan đến mức độ biểu hiện lâm sàng và kết quả điều trị, nhưng quan điểm này

còn nhiều tranh cãi. Một số nghiên cứu sớm, Karppinen J (2001), PY Yong

(2003) cho rằng khơng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê được ghi nhận

giữa các biểu hiện lâm sàng với mức độ thoát vị đĩa đệm, mức độ chèn ép rễ

và hẹp ống sống [57,58]. Một số tác giả cho rằng có mối liên hệ giữa mức độ

đau, mất chức năng của rễ bị chèn ép với mức độ lồi, TVĐĐ trên hình ảnh

CHT[50]. Md.Habibur Rahman (2016), phân tích sâu hơn cho thấy, có sự liên

quan có ý nghĩa giữa biểu hiện lâm sàng với các hình ảnh CHT như TVĐĐ

thực thụ, thốt vị vào lỗ tiếp hợp. nhưng khơng có liên quan có ý nghĩa với

các trường hợp phồng, lồi đĩa đệm trên hình ảnh cộng hưởng từ [59]

Tóm lại: Qua phần đánh giá, mô tả đặc điểm chung của đối tượng nghiên

cứu cho thấy, giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu khơng có sự khác biệt

về các đặc điểm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh, hồn cảnh

khởi phát bệnh, các triệu chứng lâm sàng thường gặp, vị trí thoát vị đĩa đệm

và mức độ thoát vị đĩa đệm trên phim chụp MRI cột sống thắt lưng.



73



Sự tương đồng về các đặc điểm chung này giữa hai nhóm là hết sức có ý

nghĩa, giúp cho việc so sánh, đánh giá hiệu quả can thiệp ở hai nhóm bệnh

nhân được chính xác hơn.

4.2. Đánh giá hiệu quả điều trị đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm

bằng tiêm methylprednisolone acetate ngoài màng cứng theo đường cùng

cụt dưới hướng dẫn của siêu âm

4.2.1. Sự cải thiện mức độ đau

Đánh giá hiệu quả giảm đau của tiêm methylprednisolone acetate NMC

qua đường cùng cụt dưới hướng dẫn siêu âm qua thang điểm VAS được thể

hiện từ bảng 3.10 đến bảng 3.12.

Điểm VAS trước tiêm của nhóm NC và nhóm chứng tương đồng, khác

biệt khơng có ý nghĩa thống kê (Nhóm chứng 6.97 ± 0.8, NC 7.29 ± 0.94,

p>0.05).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, khi so sánh điểm đau ở thời

điểm trước và sau tiêm trong từng nhóm, tác dụng giảm đau xuất hiện sớm ở

cả hai nhóm ngay từ tuần đầu. Điểm đau sau tiêm 1 tuần ở nhóm chứng là 4.03

± 0.97; ở nhóm nghiên cứu 3.76 ± 1.16, đều thấp hơn so với điểm đau ở thời

điểm trước tiêm tương ứng của 2 nhóm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <

0.05 (bảng 3.10). Kết quả này được duy trì ở các thời điểm đánh giá tiếp theo sau

tiêm 15 ngày, 30 ngày. (Sau 15 ngày: Nhóm chứng 3.29 ± 1.24, nhóm NC 3.09 ±

1.29; Sau 30 ngày: Nhóm chứng 3.21 ± 1.67, nhóm NC 2.79 ± 1.43).

Khi so sánh mức độ giảm điểm đau VAS ở các thời điểm trước tiêm và

sau tiêm giữa nhóm chứng và nhóm NC (Bảng 3.11), chúng tơi thấy mức độ

giảm điểm đau VAS sau tiêm 7 ngày, 15 ngày và 30 ngày so với thời điểm

trước tiêm ở nhóm NC cao hơn nhóm chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p < 0.05. (Mức giảm VAS sau tiêm 7 ngày: nhóm chứng 2.94 ± 0.69,

nhóm NC 3.53 ± 0.93; 15 ngày: Nhóm chứng 3.68 ± 1.10, nhóm NC 4.21 ±

1.10; 30 ngày: Nhóm chứng 3.76 ± 1.60, nhóm NC 4.5 ± 1.4).



74



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như kết quả của một số

tác giả trong và ngoài nước [7],[12-15],[16],[18-24].

+ Năm 2012, Nguyễn Văn Liệu nghiên cứu tác dụng giảm đau của tiêm

Depomedrol NMC trong điều trị đau thần kinh hông do TVĐĐ trên 50 bệnh

nhân cho thấy tác dụng giảm đau xuất hiện sớm ngay trong tuần đầu tiên.

Hiệu qủa giảm đau rõ rệt sau 1 tháng điều trị với 54% bệnh nhân hết đau,

38% còn đau nhẹ, khơng còn bệnh nhân đau nặng 7].

+ Năm 2013 tác giả Đỗ Vũ Anh đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả

của tiêm steroid ngoài màng cứng qua khe cùng cụt trên 58 bệnh nhân đau thần

kinh toạ do thoát vị đĩa đệm, được chia thành hai nhóm, 1 nhóm tiêm NMC bằng

Depo – Medrol, 1 nhóm tiêm NMC bằng Hydrocortison acetat. Kết quả trung

bình điểm đau của nhóm tiêm NMC bằng Depo Medrol trước tiêm là 5,7; sau

tiêm 1 tháng giảm xuống còn 2,3 [12].

+ Mohamed Maged Mokhemer (2007) tiến hành nghiên cứu so sánh hiệu

quả điều trị đau thần kinh tọa khi tiêm corticoid NMC qua khe cùng cụt (40mg

corticoid + 10ml Marcain 0.25% + 10 ml nước muối sinh lý) ở BN TVĐĐ L5-S1

với BN TVĐĐ L4-L5, cho thấy có cải thiện điểm đau khi so sánh trước và sau

tiêm, đồng thời hiệu quả giảm đau tương đương nhau ở cả hai nhóm [60].

+V G Murakibhavi và cộng sự (2011),[18] tiến hành một thử nghiệm lâm

sàng ngẫu nhiên có đối chứng để đánh giá và cập nhật hiệu quả của tiêm

corticoid ngoài màng cứng đường cùng cụt trong điều trị đau thần kinh toạ.

Nghiên cứu được tiến hành trên 102 bệnh nhân, chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm:

Nhóm A (Nhóm điều trị bảo tồn): được điều trị bởi các thuốc giãn cơ,

thuốc giảm đau, thuốc giảm đau thần kinh và các phương pháp vật lý trị liệu.

Nhóm B (Nhóm NC): được tiêm corticoid NMC đường cùng cụt với hỗn

hợp thuốc gồm: 20ml nước muối sinh lý, 2 ml Xylocain 2% và 2 ml(40mg)

triamcinelone acetate.



75



Từ kết quả nghiên cứu tác giả kết luận: Tiêm steroid NMC theo đường

cùng cụt điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân đau thắt lưng và thần kinh

tọa. Nó là một kỹ thuật dễ tiến hành, không yêu cầu nhiều kỹ thuật và tỉ lệ

biến chứng thấp khi so với các biện pháp điều trị bảo tồn khác.

Như vậy, tiêm corticoid NMC là một biện pháp điều trị tốt, có hiệu quả

giảm đau ở bệnh nhân đau thần kinh tọa do thốt vị đĩa đệm.

Vì sao tiêm corticoid NMC lại có hiệu quả như vậy?

Nhiều bằng chứng nghiên cứu cho rằng cơ chế gây đau trong bệnh đau

thần kinh tọa do TVĐĐ có vai trò hỗn hợp của yếu tố viêm, miễn dịch và

chèn ép rễ, liên quan đến hiện tượng đau theo rễ thần kinh.[4],[19],[44]

Đau thần kinh tọa thường là hậu quả của viêm rễ thần kinh với có hoặc

khơng có các kích thích cơ học. Các nghiên cứu và thực hành lâm sàng đã

chứng minh, chèn ép cơ học rễ thần kinh đơn độc chỉ là nguyên nhân gây ra

các thiếu hụt vận động và thay đổi cảm giác nhưng không đủ để gây ra đau.

Các yếu tố viêm bên trong khoang ngoài màng cứng và rễ thần kinh, được

kích động bởi đĩa đệm thoát vị, là yếu tố quan trọng gây ra đau kiểu rễ.

Các Cytokine cũng được thấy là có liên quan đến nguồn gốc các đáp ứng

viêm này. Khi phân tích dịch mơ từ các đĩa đệm được lấy ra trong phẫu thuật

của các bệnh nhân đau thần kinh tọa thấy sự có mặt của IL-1α, IL-1β, IL-6,

IL-8, TNF- α.

Đau thần kinh tọa gây ra bởi hẹp, chèn ép tủy sống có thể liên quan đến

ức chế dòng máu bình thường tới rễ thần kinh làm giảm nuôi dưỡng, phù nề và

bất thường chức năng rễ. Chèn ép rễ mạn tính có thể gây thiếu máu sợi trục, cản

trở lưu thơng tĩnh mạch, thốt protein huyết tương và gây viêm tại chỗ.

Chính bởi vậy corticoid được sử dụng để điều trị giảm đau trong đau

thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm vì các lý do:

*Ức chế PLA2 và các yếu tố viêm

*Ức chế sự dẫn truyền thần kinh trong các sợi cảm nhận đau bị tổn thương

*Giảm tính thấm mao mạch.



76



4.2.2. Sự cải thiện khoảng cách tay đất

Cùng với độ giãn CSTL, góc độ Lasegue..,thì nghiệm pháp tay đất là một

trong số những tiêu chí đo lường về hiệu quả điều trị của bệnh nhân TVĐĐ.

Nghiệm pháp tay đất thể hiện khả năng vận động, khả năng gập của cột sống và

độ mềm mại của các tổ chức phần mềm, gân, cơ cột sống thắt lưng.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, khoảng cách tay đất trước tiêm của

nhóm chứng là 15.4 cm, của nhóm NC là 24.6 cm, sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p < 0.05.(Bảng 3.13) Khoảng cách tay đất sau tiêm của nhóm

chứng và nhóm NC ở các thời điểm sau tiêm 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng khác biệt

khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0.05. Nhưng khi so sánh khoảng cách tayđất ở thời điểm trước và sau tiêm trong từng nhóm, cho thấy sự cải thiện tốt

chỉ số này ở cả hai nhóm ngay từ tuần đầu.

Khi so sánh mức độ thay đổi khoảng cách tay - đất ở các thời điểm trước

tiêm và sau tiêm giữa nhóm chứng và nhóm NC (Biểu đồ 3.8), chúng tơi thấy

mức độ thay đổi chỉ số này sau tiêm 7 ngày, 15 ngày và 30 ngày so với thời

điểm trước tiêm ở nhóm NC cao hơn nhóm chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p < 0.05. (Mức thay đổi KC T-Đ sau tiêm 7 ngày: nhóm chứng 4.3

± 5.5 cm, nhóm NC 9.2 ± 7.0 cm; sau 15 ngày: Nhóm chứng 7.1 ± 8.6, nhóm

NC 13.8 ± 10.7; Sau 30 ngày: nhóm chứng 7.7 ± 10.0, nhóm NC 15.1 ± 11.8)

Với cách quy ước trong nghiên cứu, đánh giá kết quả điều trị dựa vào

mức độ thay đổi khoảng cách T-Đ trước và sau điều trị: kết quả tốt: giảm ≥

20cm; kết quả khá giảm từ 10 đến < 20 cm, kết quả trung bình giảm tử 5 đến

< 10cm, kém giảm < 5 cm. Kết quả điều trị từ khá trở lên ở nhóm NC cao hơn

ở nhóm chứng, có ý nghĩa thống kê, với p<0.05 (bảng 3.14)

Kết quả của chúng tôi và báo cáo của một số tác giả trong nước và ngoài

nước đều cho thấy tiêm corticoid NMC cải thiện tốt khoảng cách tay đất của

bệnh nhân.[12,13],[24],[61].



77



+ Col Rashmi Datta và CS (2011) thực hiện nghiên cứu trên 163 bệnh

nhân đau thần kinh tọa do TVĐĐ chia thành 4 nhóm, trong đó có nhóm được

tiêm NMC đường cùng cụt với (80mg methyl prednisolon + 10-15ml 0.125%

bupivacaine) kết quả cho thấy ở nhóm này khoảng cách tay đất trước tiêm là

45,6 cm, sau 2 tuần giảm còn 31,4 cm và sau 4 tuần giảm còn 20,3cm [24].

+ Michel Revel và CS (1996) thực hiện nghiên cứu ngẫu nhiên có đối

chứng đánh giá hiệu quả của tiêm corticoid NMC với áp lực để điều trị đau

thần kinh tọa ở bệnh nhân sau phẫu thuật CSTL. Nhóm NC tiêm qua khe cùng

cụt hỗn hợp thuốc gồm 125mg prednisolon acetate + 40ml nước muối sinh lý.

Nhóm đối chứng chỉ tiêm 125mg prednisolon acetate qua đường cùng cụt.

Kết quả cho thấy sau 6 tháng theo dõi các triệu chứng của đau thần kinh tọa,

chỉ số Schober và khoảng cách tay đất tiến triển tốt hơn có ý nghĩa thống kê ở

nhóm NC so với nhóm chứng [61]

4.2.3. Cải thiện độ Lasegue

Nghiệm pháp Lasegue là 1 nghiệm pháp thường dùng trong trong thăm

khám lâm sàng các bệnh cơ xương khớp nói chung và đau dây thần kinh toạ nói

riêng. Nghiệm pháp Lasegue là góc được tạo bởi mặt giường và chân bệnh nhân

đến khi đau, trong nghiên cứu của chúng tôi đánh giá là dương tính khi góc độ

Lasegue < 800.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi so sánh giá trị trung bình độ

Lasegue giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu ở các thời điểm trước và sau

tiêm khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0.05 (Bảng 3.15). Tuy nhiên

khi so sánh trong cùng 1 nhóm độ Lasegue ở các thời điểm trước tiêm và sau

tiêm khác biệt có ý nghĩa thống kê với p* và p** < 0.05.

Với cách quy ước trong nghiên cứu, đánh giá kết quả điều trị dựa vào

mức độ cải thiện độ Lassègue trước và sau điều trị: kết quả tốt cải thiện so với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Về độ tuổi mắc bệnh, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng bệnh gặp chủ yếu ở độ tuổi lao động, trong nghiên cứu của chúng tôi, lứa tuổi lao động từ 33-55 tuổi chiếm 50% và từ 56 tuổi trở lên chiếm 50%. Kết quả của chúng tôi khác khi so sánh với một số tác

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×