Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hiện tượng thẩm thấu (Gradient áp suất thẩm thấu= ASTT)

Hiện tượng thẩm thấu (Gradient áp suất thẩm thấu= ASTT)

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



thấu thấp hơn áp suất thẩm thấu của tế bào, nghĩa là nếu cho tế bào vào

dung dịch này thì nước sẽ đi vào tế bào, tế bào trương lên.



a

b

c

(a) tế bào trong mơi trường bình thường

(b) tế bào trong môi trường ưu trương

(c) tế bào trong môi trường nhược trương

Như vậy áp suất thẩm thấu đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động

sống của tế bào.

Màng tế bào có tính thấm chọn lọc, nghĩa là màng để cho nước và các

chất hoà tan trong nước đi qua nhiều hơn so với các chất khác. Vì vậy mà áp

suất thẩm thấu được giữ ổn định nhờ có cơ chế điều hoà nồng độ các chất hoà

tan trong nước ở trong tế bào.

Để đánh giá tế bào sống hay chết người ta thường dùng thuốc nhuộm

như trypan blue, eosin. Những tế bào chết sẽ bắt mầu thuốc nhuộm do màng

của tế bào chết khơng còn khả năng ngăn cản sự xâm nhập của thuốc nhuộm

vào nội bào. Trong khi tế bào sống thì khơng bắt mầu. Tuy nhiên tế bào sau

khi làm nghiệm pháp nhuộm mầu không thể được sử dụng tiếp.

Tinh trùng là một tế bào hoàn chỉnh, được bao bên ngoài bởi màng tế

bào với đầy đủ các chức năng của màng sinh chất. Vì vậy các nhà khoa học đã

ứng dụng tính chất tính thấm có chọn lọc của màng bào tương để phát hiện

tinh trùng bất động nhưng còn sống mà khơng gây ảnh hưởng đến sự sống của

tinh trùng thông qua HOS Test.

1.4.1.2. Nguyên lý của HOS Test



19



HOS Test đánh giá sự toàn vẹn màng bào tương bằng cách xác định xem

màng tinh trùng còn khả năng duy trì sự cân bằng giữa bên trong và bên ngồi

màng tinh trùng hay khơng. Trong HOS Test, khi tinh trùng trong môi trường

áp lực thẩm thấu thấp, nước đi vào tinh trùng cho đến khi cân bằng đạt được

giữa trong và ngoài màng tinh trùng. Sự chuyển dịch của dòng nước do stress

áp lực thẩm thấu thấp gây ra làm màng tinh trùng phồng lên không đồng đều

làm đuôi cuộn lại hay phồng đồng đều làm đuôi ngắn lại. Những tinh trùng có

biểu hiện như vậy cho thấy màng tinh trùng vẫn còn nguyên vẹn và đầy đủ

chức năng, hay đơn giản là tinh trùng đó còn sống.

Do dòng chảy của nước vào tinh trùng, tinh trùng nở rộng ra, phồng lên.

Những sợi ở phần đuôi tinh trùng (phức hợp sợi trục) bình thường được bao

quanh bởi màng tinh trùng. Khi màng tinh trùng phồng lên do nước đi vào

tinh trùng dưới điều kiện áp suất thẩm thấu thấp, phần sợi ở đuôi sẽ uốn cong,

cuộn lại bên trong màng tinh trùng. Sự thay đổi ở đuôi này dễ dàng quan sát

thấy dưới kính hiển vi. Vì không thể nhận diện rõ ràng màng bào tương tinh

trùng ở tình trạng khơng nhuộm màu dưới kính hiển vi ánh sáng, nhưng phức

hợp sợi đi có thể xác định được, quan sát được dưới kính hiển vi, phần đi

sẽ cuộn lại, uốn cong và hiện tượng này gọi là cuộn đuôi. Cuộn đuôi là do sự

phồng lên của màng bào tương (thể tích nội bào tăng tối đa, màng căng tối

thiểu), vì vậy lúc này tinh trùng có hiện tượng sưng phồng. Chỉ những tinh

trùng có màng bào tương toàn vẹn cả về cấu trúc và chức năng mới thể hiện

phồng lên và cuộn đuôi, những tinh trùng màng bào tương khơng ngun vẹn

thì khơng có hiện tượng này [27].

1.5. Các nghiên cứu về HOS Test

HOS Test lần đầu tiên được mô tả bởi Jayendran và cộng sự vào năm 1984.

Vì đường và các chất điện phân được biết đến là các chất duy trì tính

tồn vẹn chức năng tinh trùng nên ban đầu ba loại đường với trọng lượng



20



phân tử khác nhau đã được thử nghiệm là fructose, melitose, sucrose và các

chất điện phân là natri citrate, natri chlorid. Các chất trên hòa tan trong nước

cất, tạo dung dịch với các loại áp suất thẩm thấu khác nhau từ 0 mosmol/l đến

300 mosmol/l.

Jeyendran đã xác định áp suất thẩm thấu có tỉ lệ tinh trùng phồng đi

cao nhất là 150 mosmol/l của hỗn hợp natri citrate và fructose với tỉ lệ thích

hợp (ở 0 mosmol/l tỉ lệ phồng đuôi là 47,5%, ở 50 mosmol/l là 41,9%, ở 100

mosmol/l là 44,4%, ở 150 mosmol/l là 60,0%, ở 250 mosmol/l là 47,1%, ở 300

mosmol/l là 34,1%). Kết quả cho thấy ở 150 mosmol/l tỉ lệ tinh trùng cuộn đuôi

cao hơn đáng kể so với các loại dịch còn lại. Ở 150 mosmol/l, trong ba loại

đường thì đường melitose cho kết quả cuộn đi thấp nhất với 36,1% tinh trùng

có phản ứng, sucrose là 43,2% và fructose là cao nhất với 60,0%.

Trong nghiên cứu về HOS Test, Jayendran cuối cùng đã đưa ra loại dung

dịch HOS Test có áp lực thẩm thấu phù hợp là 150 mosmol/l bằng cách pha

7,35 gram muối citrate và 13,5 gram đường fructose trong 1000ml nước cất.

Hỗn hợp tinh trùng và dung dịch HOS Test sau đó được ủ ít nhất là 30 phút

nhưng khơng q 3- 4 giờ. Với loại dịch cùng thời gian ủ như trên cho thấy tỉ

lệ tinh trùng có phản ứng HOS Test cao, quan sát dễ dàng hình ảnh cuộn đi

của tinh trùng dưới kính hiển vi [2], [27].

Nghiên cứu của Jayendran ban đầu với mục đích đánh giá tính tồn vẹn

chức năng màng tinh trùng. Sau đó HOS Test được WHO khuyến cáo sử dụng

HOS Test như một test đánh giá tỉ lệ tinh trùng sống trong mẫu tinh dịch có

thể thay thế cho phương pháp nhuộm màu trước đó [28], [29].

Qua các nghiên cứu thấy rằng hỗn hợp HOST natri citrate – fructose có

phần trăm tinh trùng có phản ứng HOS Test tối ưu ở tinh trùng các lồi dê,

cừu, người (ở 150 mosmol/l trong mơi trường chứa fructose tỉ lệ cuộn đuôi là

60,0% cao hơn đáng kể so với môi trường chứa sucrose tỉ lệ cuộn đuôi là



21



43,2%) trong khi đó hỗn hợp natri citrate- sucrose gây phản ứng HOS Test tối

ưu ở tinh trùng các loài thỏ, ngựa. Có sự khác biệt này là do những yếu tố ảnh

hưởng đến qua trình khuếch tán như đã trình bày ở trên, trong đó yếu tố ảnh

hưởng ở đây là trọng lượng, kích thước phân tử của chất hòa tan, fructose là

monosaccharide, sucrose là dicaccharide và độ dày cũng như tính chất màng

tinh trùng ở mỗi lồi. Sự khác biệt này làm dòng nước vào tinh trùng là khác

nhau ở các lồi.

Vì vậy với mỗi lồi có thể lựa chọn loại dịch áp suất thẩm thấu phù hợp

nhất để thực hiện HOS Test với kết quả tối ưu nhất.

Các loại dịch áp suất thẩm thấu thấp ngày càng được phát triển để tăng

hiệu quả phản ứng HOS Test, thực hiện dễ dàng và thuận tiện hơn cũng như

đảm bảo tính an tồn cho tinh trùng để sử dụng cho các mục đích khác, đặc

biệt là dùng cho ICSI. Loại dung dịch như Jayendran đã đề cập ở trên khá

phức tạp trong quá trình thực hiện, dung dịch đơn thuần chỉ có đường và

muối, trong khi mơi trường xung quanh tinh trùng và trứng cần nhiều thành

phần hơn để đảm bảo khả năng tồn tại của tinh trùng cũng như sự sống của

trứng là tốt nhất. đặc biệt trong quá trình ICSI ta cần tạo ra loại dịch áp lực

thẩm thấu thấp nhanh chóng, gọn gàng, dễ làm và cũng cung cấp môi trường

sao cho sau HOS Test tinh trùng có khả năng hồi phục nhanh hơn.

Năm 1997, Verheyen đã so sánh ba loại dịch áp suất thẩm thấu thấp

trong việc lựa chọn tinh trùng sống trong các mẫu bất động hoàn toàn, loại

dịch thứ nhất là dung dịch Jeyendran cổ điển chứa muối natri citrat và đường

fructose, thứ hai là nước cất, loại dịch thứ ba là dung dịch áp suất thẩm thấu

thấp cải tiến gồm 50% môi trường và 50% nước cất [30].

Khi đánh giá ảnh hưởng của dịch thẩm thấu thấp, phản ứng HOS Test

của tinh trùng ở loại dịch 50% môi trường và 50% nước cất là tối ưu nhất. Ở

môi trường 50/50 này tỉ lệ phản ứng HOS Test của tinh trùng khá cao đồng



22



thời tổn thương do áp suất thẩm thấu thấp là tương đối ít, khả năng hồi phục

của tinh trùng sau khi cho vào môi trường cân bằng đạt tỉ lệ cao rất phù hợp

trong các tình huống thực hiện ICSI với mẫu tinh trùng bất động hoàn toàn.

Ngược lại, tỉ lệ tinh trùng có phản ứng HOST ở loại dịch 100% nước cất tuy

cao nhưng chủ yếu là loại g- loại phản ứng HOST mạnh nhất, những tinh

trùng có phản ứng mạnh này có sức sống khơng bền và thường chết sau đó do

stress áp lực thẩm thấu. Kết quả đã cho thấy loại dịch thẩm thấu thấp cho

phản ứng HOST tối ưu là dịch với tỉ lệ 50/50. Kết quả này cũng thấy trên tinh

trùng của một số loài như bò, dê, lợn.

Trong nghiên cứu của Hossain và cộng sự thấy rằng phản ứng HOS Test

ở 37 độ C trong các khoảng thời gian khác nhau cho thấy có sự biến đổi kết

quả phản ứng HOS Test theo thời gian. Với mục đích xác định sự biến đổi các

dạng biểu hiện của tinh trùng trong phản ứng HOS Test theo thời gian, mẫu

tinh trùng thử nghiệm được lọc rửa để lấy mẫu thực nghiệm HOS Test là

100% tinh trùng di động, tinh trùng có biểu hiện cuộn đi ngay khi tiếp xúc

với dung dịch HOS Test và tăng nhanh ở những phút đầu (phút đầu tiên tỉ lệ

phản ứng là 41%). Phần trăm tinh trùng có phản ứng HOS Test tăng dần lên

(ở 5 phút là 66%), tăng mạnh ở thời điểm 15 phút (89%) và đạt tối ưu xung

quanh thời điểm 30 phút (93%) tính từ khi cho tinh trùng vào môi trường áp

lực thẩm thấu thấp. Trong khoảng thời gian từ 30 phút đến 60 phút phần trăm

tinh trùng có phản ứng HOST có tăng lên chút ít (97%) nhưng khơng có sự

khác biệt nhiều so với thời điểm 30 phút, nhìn chung là khơng thay đổi. Sau

60 phút tỉ lệ tinh trùng có phản ứng HOS Test có tăng lên nhưng chủ yếu là

tinh trùng có biểu hiện loại g- loại phản ứng mạnh nhất, loại này có nguy cơ

cao bị chết sau HOS Test do tress áp lực thẩm thấu thấp. Thực tế, nhiều

nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng stress do áp lực thẩm thấu thấp kéo dài có

thể dẫn đến những tổn thương không thể hồi phục và hậu quả là gây chết tế



23



bào. Điều này được khẳng định bằng test sống chết thấy tỉ lệ tinh trùng chết

tăng lên sau 60 phút thực hiện HOS Test [31].

HOS test đã được phát triển bởi Jeyendran và cộng sự (1984) để đánh giá

sự toàn vẹn màng bào tương tinh trùng. Tinh trùng bất động nhưng còn sống

có chức năng màng bào tương ngun vẹn sẽ bị trương phồng khi đưa vào

môi trường thẩm thấu thấp. Dung dịch Jeyendran ban đầu, bao gồm hỗn hợp

75mmol/l fructose và 25 mmol/l muối natri citrate, được sử dụng để kiểm tra

chức năng tinh trùng qua đánh giá tính tồn vẹn màng bào tương tinh trùng.

Các tinh trùng sau khi chuẩn bị được cho vào các môi trường có áp lực thẩm

thấu thấp với tỉ lệ 1/10. Ủ ấm trong tủ ấm 37 trong các khoảng thời gian khác

nhau. Sau thời gian quy định kiểm tra sự sống chết của tinh trùng. Nếu tinh

trùng bị cuộn đuôi nghĩa là tinh trùng đó sống, tinh trùng đi thẳng hay

khơng cuộn là tinh trùng chết. Tinh trùng được kiểm tra sống chết bằng eosin

nồng độ 0,5%. Tinh trùng bắt màu đỏ của eosin là tinh trùng chết, tinh trùng

không bắt màu là tinh tùng sống [1], [31].

Sau đó test này đã được sử dụng trong quy trình ICSI để lựa chọn tinh

trùng bất động từ xuất tinh nhưng bản thân nó ảnh hưởng đến trứng đã thụ

tinh hoặc kết quả phôi chưa được đánh giá. Một loại dịch áp lực thẩm thấu

khác chứa 150 mOsm NaCl được đề nghị bởi Tsai và cộng sự, sau đó Liu và

cộng sự đã sử dụng nó để lựa chọn tinh trùng bất động từ xuất tinh cho ICSI

và đã báo cáo có thai [32].

Vào năm 1997, Verheyen và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu trong ống

nghiệm và so sánh ba loại dịch áp lực thẩm thấu thấp: dịch ban đầu

Jeyendran, nước khử ion, dịch chứa 50% môi trường và 50% nước đã khử

ion. Họ đã tìm ra rằng mặc dù ba loại dịch cho kết quả đuôi tinh trùng quăn

với tinh trùng bất động nhưng sống, tác động có hại trên khả năng sống của

tinh trùng là ít nhất với dịch 50/50 [30].



24



Jeyendran (1984), Verheyen (1997), cũng như Vazquer và cộng sự

(1997) thơng qua các thử nghiệm đã nhận định rằng có rất nhiều loại dung

dịch áp lực thẩm thấu khác nhau để làm HOS test. Tuy nhiên dung dịch tốt là

dung dịch nên gây một áp lực thẩm thấu đủ lớn đủ để gây ra sự cuộn đuôi của

tinh trùng quan sát thấy được nhưng cũng đủ nhỏ để ngăn chặn sự tổn thương

màng tinh trùng. Các loại dung dịch có áp lực thẩm thấu thấp được dùng có

áp lực thẩm thấu thấp nhất là 0 mOsm/L (nước cất), và có đường fructose với

áp lực 50 mOsm/L, 100 mOsm/L, 150 mOsm/L, 200 mOsm/L. Kết quả cho

thấy nước cất có tỉ lệ HOS test dương tính cao nhất với mức độ cuộn đi của

tinh trùng ít nhất , với các loại dịch còn lại, áp lực thẩm thấu càng cao thì tỉ lệ

HOS test dương tính của tinh trùng giảm tuyến tính tương ứng, mức độ cuộn

đuôi của tinh trùng cao hơn nhưng tỉ lệ tổn thương màng tinh trùng cũng tăng

cao theo [1], [30].

Nhiều khoảng thời gian đã được khuyến cáo cho quá trình HOS test từ

vài phút cho tới hai giờ. Neild (2009), Matson (1999) cũng nhận định rằng

HOS test dương tính xuất hiện sớm trong những phút đầu tiên và sự thay đổi

sau nhiều khoảng thời gian khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê [33], [34].

Trong q trình đánh giá phản ứng HOS Test của mẫu tinh dịch,

Jayendran đã quan sát thấy một số dạng biểu hiện của phản ứng HOS Test,

gồm 7 dạng như sau:



25



Hình 1.2. Các dạng biểu hiện của tinh trùng trong phản ứng HOS Test.



Hình 1.3. Các dạng biểu hiện của tinh trùng có phản ứng HOS Test dưới kính

hiển vi quang học với độ phóng đại 400 lần.

a.

b.

c.

d.

e.

f.

g.



Các dạng biểu hiện của phản ứng HOS Test được mơ tả như sau:

Khơng có phản ứng, đuôi thẳng, không phồng

Phần nhỏ ở cuối của đuôi phồng lên, những phần còn lại bình thường

Phần cuối của đi phồng kèm cuộn đi hình hẹp tóc

Phần cuối của đi và phần giữa đi phồng kèm cuộn đi hình hẹp tóc

Phần giữa đi phồng kèm cuộn đi hình kẹp tóc

Đi phồng ít và đồng đều, đi ngắn lại

Tồn bộ đuôi to phồng lên và ngắn lại.

Các nghiên cứu của một số tác giả về sau cũng khẳng định điều trên.

Có nhiều loại biểu hiện cuộn đi như chỉ cuộn ở phần cuối của đi,



cuộn hình kẹp tóc, đi ngắn lại và dầy lên, tồn bộ đi đều phồng lên và

cuộn lại, đi cuộn ở nhiều mức độ.



26



Có sự chuyển dạng giữa các loại biểu hiện HOS Test từ dạng b ban đầu

thành các loại c, d, e, f, g. Trong đó, loại a giảm dần, loại g tăng dần, loại b

tăng đột ngột lúc ban đầu sau đó giảm dần. Sự chuyển từ dạng b sang g có thể

trực tiếp hoặc thơng qua các dạng trung gian. Phân tích siêu cấu trúc cho thấy

có các dạng khác nhau của biểu hiện HOS Test là do có sự khác biệt về cấu

trúc khung xương tế bào ở đuôi tinh trùng ở các nhóm tinh trùng khác nhau,

phản ánh sự thay đổi về sinh lý học giữa các nhóm.

1.6. Ứng dụng

1.6.1. Đánh giá mẫu tinh dịch [3]

HOS Test đã được sử dụng rộng rãi như một test đánh giá tỉ lệ tinh trùng

sống trong mẫu tinh dịch bên cạnh các kỹ thuật khác như nhuộm sống chết

bằng eosin, eosin- nigrosin. HOS Test có giá trị để đánh giá chất lượng tinh

dịch bằng cách đánh giá tính tồn vẹn màng bào tương tinh trùng trên người

và nhiều loài động vật khác như ngựa, heo, gia súc. Jayendran bắt đầu sử

dụng HOS Test để đánh giá tính tồn vẹn chức năng màng tinh trùng năm

1984 (Jay 1984). Sau đó năm 1993, Kumi Diaka đã sử dụng HOS Test để

đánh giá chất lượng tinh trùng của chó, năm 1988 Watson và Duncan sử dụng

HOS Test để đánh giá tinh trùng cừu, Rod Gil đánh giá tinh trùng lợn năm

1996, đánh giá tinh trùng sư tử năm 1998 do Vidament, bò đực năm 2006 do

Samard thực hiện. Jayendran và cộng sự vào năm 1984 đã bắt đầu sử dụng

HOS test để đánh giá tính tồn vẹn trong chức năng màng bào tương ở người.

Sau đó, HOS test đã được sử dụng trong đánh giá chất lượng tinh dịch ở chó,

cừu, lợn, ngựa, bò. [2], [28].

Trong đánh giá các thông số tinh dịch, mẫu tinh dịch được coi là bình

thường nếu có từ 60% tinh trùng có phản ứng HOS Test trở lên, và được coi là

bất thường nếu có ít hơn 50% tinh trùng có phản ứng HOS Test. Khoảng giới



27



hạn từ 50- 59% được gọi là khoảng “xám” hay khoảng nghi ngờ vì chưa thể

kết luận được là mẫu bình thường hay bất thường.

HOS Test dựa trên khả năng sưng phồng của tinh trùng khi thực hiện

trong loại dịch áp suất thẩm thấu thấp. Hiện nay WHO khuyến cáo sử dụng

HOS Test trong các labo về nam học, hỗ trợ sinh sản như một thông số quan

trọng trong đánh giá tinh dịch do mối tương quan mạnh của nó với các thơng

số tinh dịch khác.

1.6.2. HOS Test cũng đã được sử dụng như một tiêu chí dự đốn khả năng

thụ tinh của tinh trùng, góp phần chẩn đốn vơ sinh nam [35], [36]

Một trong những khó khăn nhất khi đối mặt với việc đánh giá và điều trị

vơ sinh nam là các phân tích tinh dịch theo chuẩn khơng có khả năng dự đốn

khả năng thụ tinh của tinh trùng. Các kiểm tra cần được phát triển để đánh giá

các chức năng thực thể khác nhau của tinh trùng hơn là các thông số tiêu

chuẩn thông thường, cùng với các thông số chuẩn cần có cái nhìn tồn diện về

hoạt động chức năng của mẫu tinh trùng. Vì màng tinh trùng với đầy đủ chức

năng rất cần thiết cho quá trình thụ tinh nên việc kiểm tra đặc tính của màng

là một chỉ dẫn hữu dụng cho khả năng thụ tinh. HOS Test là một test như vậy,

vì test này kiểm tra được tính toàn vẹn màng tinh trùng bằng cách đánh giá

phản ứng của nó dưới điều kiện áp suất thẩm thấu thấp.

1.6.3. HOS Test giúp lựa chọn tinh trùng có sự tồn vẹn DNA cao [37],

[38], [39]

Mối quan tâm lớn trong quá trình lựa chọn tinh trùng cho ICSI là tinh

trùng được lựa chọn có thể làm tăng nguy cơ đứt gãy DNA. Phân mảnh DNA

là một trong những bất thường di truyền của tinh trùng, chiếm 20% các

trường hợp vô sinh nam. Bất thường này ảnh hưởng đến khả năng thụ tinh của

tinh trùng. Xét nghiệm này có vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán và đưa

ra hướng điều trị vơ sinh nam.



28



Q trình thụ tinh giữa trứng và tinh trùng thành công trải qua nhiều giai

đoạn phức tạp như sự trưởng thành của trứng, quá trình giải nén nhân tinh

trùng, sự xuất hiện tiền nhân đực, tiền nhân cái và q trình hòa nhập hai tiền

nhân. Bản chất hòa nhập hai tiền nhân là quá trình sắp xếp lại bộ nhiễm sắc

thể loài. Quan điểm truyền thống cho rằng tinh trùng đóng góp một nửa bộ

gen, được coi như là véc tơ đưa DNA vào trứng. Tuy nhiên các nghiên cứu

gần đây cho thấy sự đóng góp quan trọng của tinh trùng đến quá trình thụ tinh

cũng như sự phát triển của phôi. Sự phát triển của phôi phụ thuộc vào một số

cấu trúc, cơ quan, phân tử có trong tinh trùng như bộ gen, tín hiệu kích hoạt

trứng, trung thể. Trung thể định hướng cho sự hình thành trục thoi phân bào,

giúp cho hợp tử phân chia trong lần phân bào đầu tiên.

Trong ICSI tinh trùng được lựa chọn chủ yếu dựa trên hình thái bên

ngồi và độ di động và tiêm thẳng vào bào tương trứng. Chính vì vậy đã bỏ

qua một số giai đoạn so với thụ tinh tự nhiên. Việc lựa chọn tinh trùng chỉ dựa

trên hình thái và độ di động có thể chọn cả những tinh trùng có tổn thương

DNA, vì những tổn thương DNA là những tổn thương rất tinh tế. Một số

nghiên cứu đã chỉ ra rằng tinh trùng bị đứt gãy DNA hoặc phân mảnh DNA

khơng có khả năng thụ tinh, vẫn có khả năng thụ tinh nhưng phơi khơng phát

triển hay chỉ phát triển đến một giai đoạn nhất đinh rồi thối triển, sảy thai,

thai lưu, có thể có trẻ được sinh ra nhưng những ảnh hưởng của tổn thương

DNA lên sự phát triển của trẻ như trẻ đó sau này có thể bị vơ sinh, ung thư….

Nhũng tinh trùng trong các mẫu bất động thì tỉ lệ phân mảnh DNA cũng như

tổn thương DNA cao hơn so với tinh trùng trong các mẫu bình thường. Tỉ lệ

tổn thương DNA trong các tinh trùng có hình thái bất thường cũng cao hơn so

với những tinh trùng có ình thái bình thường. Để đảm bảo DNA của các tinh

trùng tham gia thụ tinh là tồn vẹn, bình thường cũng như vì một thế hệ trẻ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hiện tượng thẩm thấu (Gradient áp suất thẩm thấu= ASTT)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×