Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khi xem xét riêng từng nhóm bệnh nhân theo ĐMV thủ phạm, chúng tôi nhận thấy ở nhóm NMCT do thủ phạm là LAD thì có mối tương quan nghịch biến giữa TAPSE với Troponin –T và NT- BNP (r=-0,31;-0,33, p<0,05); còn ở nhóm NMCT do thủ phạm là RCA thì không th

Khi xem xét riêng từng nhóm bệnh nhân theo ĐMV thủ phạm, chúng tôi nhận thấy ở nhóm NMCT do thủ phạm là LAD thì có mối tương quan nghịch biến giữa TAPSE với Troponin –T và NT- BNP (r=-0,31;-0,33, p<0,05); còn ở nhóm NMCT do thủ phạm là RCA thì không th

Tải bản đầy đủ - 0trang

52



3.3.3. Mối tương quan giữa TAPSE với các thông số siêu âm tim

3.3.3.1. Mối tương quan giữa chức năng tâm thu thất phải (TAPSE) và phân

suất tống máu EF thất trái chung ở các BN nghiên cứu .

Bảng 3.18. Mối tương quan giữa TAPSE với phân suất tống máu thất trái

chung ở các bệnh nhân nghiên cứu.

Tương quan



Hệ số



TAPSE với

EF

FS



tương quan

0,33

0.36



P



Phương trình



0,002

0,001



TAPSE =0,07* EF + 12,56

TAPSE = 0,112*FS + 13,078



Biểu đồ 3.5.Tương quan giữa chức năng thất phải (điểm TAPSE) và chức

năng thất trái(EF)

Nhận xét: Khi tìm hiểu mối tương quan giữa TAPSE với EF ta thấy có sự

tương quan tuyến tính thuận với hệ số tương quan r = 0,33; p <0,001. Phương



53



trình hồi quy TAPSE = 0,07*EF + 12,56 cho thấy khi EF tăng lên 1% thì

TAPSE sẽ tăng 0,07 mm.



3.3.3.2. Tương quan giữa TAPSE với các thông số siêu âm tim ở chung cho

các BN nghiên cứu

Bảng 3.19. Mối liên quan TAPSE với một số thông số siêu âm tim chung ở

các bệnh nhân nghiên cứu

Đặc điểm



TAPSE

Hệ số tương quan



P -value



ALĐMP



0,137



p>0,05



ĐK Nhĩ trái



0,065



p>0,05



ĐK thất trái cuối tâm thu Ds



-0,169



p>0,05



ĐK Thất phải



-0,068



p>0,05



0,029



p>0,05



0,225



P<0,05



Bề dày vách liên thất cuối tâm

trương (VLTd)

Bề dày vách liên thất cuối

tâm thu (VLTs)



54



Bề dày thành sau thất trái cuối

tâm trương TSTTd

Bề dày thành sau thất trái

cuối tâm thu TSTTs



0,191



p>0,05



0,304



P<0,01



Biểu đồ 3.6. Tương quan giữa TAPSE và độ dày thành sau thất trái cuối tâm thu

Nhận xét:

-Khơng có tương quan giữa TAPSE với các thơng số ĐK Nhĩ trái, ĐK

thất trái cuối tâm thu Ds, áp lực động mạch phổi, đường kính thất phải.

- Có tương quan tuyến tính giữa TAPSE với độ dầy vách liên thất và

thành sau thất trái tâm thu cuối tâm thu (p< 0,05, p<0,01).

3.3.3.3. Tương quan giữa TAPSE với các thông số siêu âm tim ở các BN

NMCT thành sau (thủ pham là ĐMV phải)

Bảng 3.20. Mối tương quan giữa TAPSE với động mạch thủ phạm RCA

Tương quan TAPSE với



Hệ số tương quan(r)



p- value



55



Đường kính thất phải



-0,46



<0,05



EF thất trái



0,35



>0,05



Dd



-0,089



>0,05



Ds



-0,0311



>0,05



Biểu đồ 3.7. Mối tương quan giữa TAPSE và đường kính thất phải.

Nhận xét: ở nhóm nhồi máu cơ tim thành sau (thủ phạm là RCA) ta thấy có

mối tương quan đồng biến giữa TAPSE với phân suất co ngắn cơ (%D)

( r=0,49; p<0,05) và tương quan nghịch biến với đường kính thất phải (r=0,46, p<0,05), không thấy rõ tương quan TAPSE với phân số tống máu EF

(P>0,05).



56



3.3.4.3.Tương quan giữa TAPSE với các thông số siêu âm tim ở các BN

NMCT thành trước (thủ pham là LAD)

Bảng 3.21. Tương quan giữa TAPSE với các thông số siêu âm tim ở các

BN NMCT thành trước (thủ pham là LAD,n=46)



Tương quan TAPSE



Hệ số tương quan



p-value



EF thất trái



0,33



<0,05



D%(phân suất co rút)



0,32



< 0,05



Dd



-0,38



>0,05



Ds



-0,148



>0,05



Đường kính thất phải



-0,014



>0,05



Troponin –T



-0,31



<0,05



NT-BNP



-0,33



<0,05



57



Biểu đồ 3.8. Mối tương quan TAPSE và NT- BNP.

Nhận xét: ở nhóm NMCT thành trước (thủ phạm là LAD) ta thấy có mối

tương quan đồng biến giữa chức năng thất phải với EF thất trái và phân số co

ngăn cơ (r=0,33;0,32, p<0,05)



58



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN



4.1 Đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu.





Tuổi



Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước đã chỉ ra rằng đối với

NMCT cấp , tuổi càng cao tiên lượng càng nặng do các bệnh nhân cao tuổi

thường đến muộn và tổn thương nhiều nhánh mạch vành, bản thân tổn thương

phức tạp vơi hóa nhiều. Kết quả của chúng tôi cho thấy tuổi trung bình là 66,5

± 12,1, trẻ nhất là 37 tuổi , cao nhất 83 tuổi . Trong đó nhóm tuổi trên 65 tuổi

chiếm tỷ lệ cao nhất 55,7% . So sánh với một số tác giả trong nước tuổi trung

bình của chúng tôi cao hơn của nguyễn Anh Quân 61,6 ±11,5 (p<0,05)[29] .

Nghiên cứu của chúng tơi tuổi trung bình 66,5 ± 12,1 khá tương đồng với

nghiên cứu của Châu Ngọc Hoa và cộng sự tuổi trung bình 65,2 ± 12,5 và

nhiều nghiên cứu trên thế giới.





Giới

Đối tượng thường bị NMCT là nam giới, tuy nhiên nữ giới bị NMCT thì



tiên lượng thường nặng nề hơn, nhiều bệnh phối hợp và đến viện thường

muộn do triệu chứng khơng điển hình. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ

nữ giới 17,7 % tỷ lệ tương đồng với tác giả Văn Đức Hạnh tỷ lệ nữ 18,7[30]

và cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Huyền năm (2016) tỷ lệ

nữ là 14,9%. Tỷ lệ nữ giới của chúng tôi thấp hơn nhiều so với nghiên cứu

của Arruda –Olson và cộng sự (2008) và Kwon nữ chiếm 26,8%. Từ các

nghiên cứu sổ bộ của Framingham được tiến hành từ năm 1948 theo dõi dọc

một quần thể nghiên cứu trong vòng 44 năm, bao gồm cả nam và nữ tuổi từ



59



35 đến 94 tuổi, nghiên cứu cho thấy nữ bị nhồi máu cơ tim muộn hơn nam

giới từ 10 đến 20 năm. Các biến chứng động mạch vành trầm trọng của hai

giới đều tăng theo tuổi.

Lý giải cho sự khác biệt này theo chúng tơi có lẽ do nam giới chịu nhiều

ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ như THA, hút thuốc lá, đái tháo đường, rối

loạn chuyển hóa lippid máu…





Yếu tố nguy cơ mạch vành.

Trong nghiên cứu của chúng tôi các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá,

tăng huyết áp, đái tháo đường , rối loạn lipid máu lần lượt 51,9%, 46,8%,

21,5%,20,2%. Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt năm

2011. Và trên cùng đối tượng nhồi máu cơ tim kết quả của chúng tôi khá

tương đồng với tác giả Văn Đức Hạnh.



-



Tăng huyết áp : Bệnh nhân có tiền sử THA có nguy cơ bệnh mạch vành cao

hơn những người khơng THA. THA còn là yếu tố hiệp đồng làm cho tình

trạng suy tim sau NMCT trở nên xấu hơn. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ

lệ THA 46,8 % khá tương đồng với nghiên cứu của Văn Đức Hạnh 46,4% và

Nguyễn Anh Quân 46,1 %.



-



Đái tháo đường: Tỷ lệ đái tháo đường trong nghiên cứu của chúng tôi là 21,5%

cao hơn so với tác giả Nguyễn Thu Huyền và Nguyễn Anh Quân lần lượt là

18,9% và 11,3%[29-31]. Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với tác

giả Nguyễn Thị Thêm 63,4%. Bệnh đái tháo đường là một yếu tố nguy cơ làm

tăng sự xuất hiện và mức độ trầm trọng của các biến cố tim mạch ở cả nam và

nữ, tăng 1,8 lần với bệnh mạch vành và 2,4 lần với tai biến mạch não.



-



Hút thuốc lá : hút thuốc lá làm tăng nồng độ cacbon monoxide trong máu dẫn

đến phá hủy tế bào nội mô mạch vành, gia tăng kết tập tiểu cầu, tăng nguy cơ

hình thành huyết khối tắc nghẽn. Nghiên cứu INTERHEART cho thấy những



60



người hút thuốc lá có nguy cơ bệnh mạch vành cao hơn 2,04 lần so với những

ngưới không hút thuốc lá và làm tăng nguy cơ tử vong do NMCT lên 2,95 lần.

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 51/79 bệnh nhân hút thuốc lá chiếm 51,9%

cao hơn kết quả nghiên cứu của Văn Đức Hạnh[30] (76/166; 45,8%), nhưng

thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Anh Quân[29] (99/154;

64,3%).

*Triệu chứng lâm sàng lúc nhập viện.

Hầu hết các bệnh nhân nhập viện với triệu chứng lâm sàng là đau ngực

(98,7%) và khó thở (100%) . Đau ngực thường xuất phát đột ngột, đau vùng

ngực T, đau thành cơn kéo dài 15 -20 phút,trong cơn đau bệnh nhân cảm thấy

khó thở, vã mồ hơi. Hướng lan của cơn đau ở hầu hết các bệnh nhân là lan lên

cổ, cằm và lan ra vai trái đến ngón 4,5 bên trái, cảm giác tê bì ngón tay. Ở hầu

hết các bệnh nhân mơ tả khi hít mạnh vào cảm giác bị bóp nghẹt làm bệnh

nhân khơng giám thở mạnh. Trong khi đó thấy ở nhóm nhồi máu cơ tim sau

dưới động mạch thủ phạm là RCA thì đau ngực thường gặp ở vùng thượng vị,

kèm theo nôn và buồn nôn dễ nhầm với triệu chứng dạ dày. Như vậy ta thấy

chỉ dựa vào tính chất cơn đau ta có thể hướng tới nguyên nhân mạch vành

trong phần lớn các trường hợp nhồi máu cấp ,kết hợp với các tiêu chí khác

như điện tâm đồ, men tim ta có thể nhanh chóng chẩn đốn để đưa ra thái độ

xử trí và chiến lược điều trị.

-



Tần số tim trung bình trong nghiên cứu của chúng tơi là 83,6 ± 15,8 ck/p kết

quả của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Phùng Thị Lý 72,53 ± 10,6

ck/p, sự khác biệt này có thể do trong nghiên cứu của chúng tơi đối tượng là

NMCT có ST chênh lên có tình trạng lâm sàng nặng hơn những bệnh nhân

HCVC bao gồm NMCT không ST chênh lên , đau ngực không ổn định trong

nghiên cứu của Phùng Thị Lý[32].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khi xem xét riêng từng nhóm bệnh nhân theo ĐMV thủ phạm, chúng tôi nhận thấy ở nhóm NMCT do thủ phạm là LAD thì có mối tương quan nghịch biến giữa TAPSE với Troponin –T và NT- BNP (r=-0,31;-0,33, p<0,05); còn ở nhóm NMCT do thủ phạm là RCA thì không th

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×