Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đặc điểm vi thể của HGPIN

Đặc điểm vi thể của HGPIN

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



• Đại thể:

-



Bề mặt cắt của UTBM TTL là khác nhau. Những khối u có thể nhìn



thấy trên lâm sàng thường chắc, màu có thể nâu, trắng hoặc vàng. Những

khối u khác gồm các tổn thương mà xâm nhập một cách tinh tế vào mô

xơ cơ gây tách rời các vùng chuyển tiếp và ngoại vi hoặc phá vỡ vỏ TTL.

Một số khối u khác là không rõ ràng về đại thể. Hầu hết những khối u

giai đoạn T1c không nhìn thấy được trên đại thể. Các khối u phía

trước/chuyển tiếp có thể bị che khuất bởi quá sản lành tính TTL. Ngược

lại, những khối u ngoại vi sau/bên có thể nhận thấy dễ dàng do sự tương

phản với nhu mơ lành màu vàng nhạt và lỗ rỗ [33].

• Vi thể

-Nguyên tắc chung trong chẩn đoán

-



Chẩn đoán ung thư TTL ln ln dựa vào một nhóm các đặc điểm



chứ khơng phải từng đặc điểm riêng biệt. Chẩn đoán UTTTL là đánh giá

các đặc điểm vi thể phổ biến hơn ở UTTTL so với các tăng sản tuyến

lành tính [34].

-Đặc điểm cấu trúc

• Nhìn thấy các tuyến nhỏ dày đặc là đáng nghi ngờ nhưng khơng

đủ để chẩn đốn UTBM.

• Đặc điểm đặc hiệu hơn là sự xuất hiện một hàng thẳng các tuyến

khơng điển hình hoặc những tuyến nhỏ khơng điển hình ở cả hai

phía của một tuyến lành tính.

• Trong trường hợp u nhỏ, không nên chỉ sử dụng đặc điểm cấu

trúc để chẩn đoán mà phải dựa vào cả đặc điểm ác tính của tế

bào.

-Đặc điểm nhân



30



• Hạt nhân rõ là đặc điểm tế bào có giá trị nhất để chẩn đoán

UTTTL . Nhiều hạt nhân và hạt nhân nằm ở ngoại vi là những

đặc điểm không hữu ích trong chẩn đốn UTBM TTL [35].

• Nhân lớn, tăng sắc và hình ảnh nhân chia cũng là đặc điểm nhân

thường gặp ở ung thư hơn so với tuyến lành. Hình ảnh nhân chia

là phổ biến ở ung thư hơn tuyến lành, đặc biệt UTTTL độ cao

nhưng không rõ ràng ở các ổ nhỏ ung thư với điểm Gleason 6

trên sinh thiết kim [34].

• Thể chết theo chương trình cũng gặp ở 1/3 các trường hợp có ổ

nhỏ UTTTL và 13% các trường hợp HGPIN.

-Đặc điểm bào tương

-



Ngoài đặc điểm nhân, đặc điểm bào tương có thể hữu ích cho chẩn



đốn UTBM TTL.





Bào tương tế bào UTTTL ưa base hơn tuyến lành [34].







Bào tương rộng và lòng tuyến sắc nét trong các tuyến lớn cũng

là đặc điểm gợi ý.



-Thành phần trong lòng tuyến

-



Ba thành phần lòng tuyến có tính chất gợi ý cho chẩn đoán UTTTL



là chất á tinh thể, chất nhầy xanh và chất tiết đặc khơng định hình.

• Chất á tinh thể là chất có cấu trúc giống tinh thể, ưa acid và có

nhiều hình dạng khác nhau [34]. Nó khơng phải là một tiêu

chuẩn để chẩn đốn ung thư nhưng được tìm thấy trong ung thư

nhiều hơn tuyến lành tính. Nếu chất á tinh thể được nhìn thấy

trong những tuyến nhỏ với hình ảnh xâm nhập giữa các tuyến

lành tính, nó có thể giúp khẳng định thêm cho chẩn đốn ung

thư.



31



• Chất nhầy xanh và chất tiết đặc khơng định hình thường gặp

trong UTTTL, có thể nhìn thấy đơn lẻ hoặc kết hợp với nhau

[34]. Nhuộm hóa mô chất nhầy không thể phân biệt được ung thư

và các tổn thương giống ung thư [36].

• Các chất tiết đặc khơng định hình cần được chẩn đốn phân biệt

với kết thể TTL có hình dạng tròn hoặc bầu dục, ranh giới rõ sắp

xếp đồng tâm, phổ biến ở tuyến lành nhưng khơng nhìn thấy ở

ung thư [37].

-Các tính chất đặc hiệu để chẩn đốn ác tính

-



Ba tính chất đặc hiệu để chẩn đoán xác định ung thư là tăng sinh xơ



nhầy (vi nốt collagen), hình ảnh cầu thận và xâm nhập thần kinh.

• Xâm nhập quanh thần kinh có thể theo chiều dọc hoặc bao quanh

sợi thần kinh. Thỉnh thoảng, những tuyến ung thư có sự xâm lấn

thần kinh khá giống với tuyến tăng sản lành tính, được gọi là

“xâm lấn thần kinh giả tăng sản”. Trong một số trường hợp, xâm

lấn quanh thần kinh được xem là đặc điểm chìa khóa cho chẩn

đốn UTTTL.

• Tăng sinh xơ nhầy bao gồm mô liên kết xơ lỏng lẻo được vùi bên

trong bởi các nguyên bào xơ và có liên quan với chất tiết nhầy

xanh trong lòng ống [38].

• Hình ảnh cầu thận là một dạng đặc biệt của cấu trúc hình sàng,

giống với cầu thận.

- Xác định tế bào đáy

• Mất lớp tế bào đáy quanh các tuyến không điển hình là một tiêu

chuẩn quan trọng để chẩn đốn UTTTL. Một số trường hợp trên

nhuộm HE hình ảnh ung thư đã rõ ràng, nhưng có những tế bào



32



khá giống với tế bào đáy. Tuy nhiên, những tế bào này lại âm tính

với các dấu ấn tế bào đáy và thực chất chúng là những nguyên

bào sợi nằm sát với những tuyến của u.

• Một ổ nhỏ các tuyến có cấu trúc của ung thư và có những đặc

điểm khác hỗ trợ chẩn đốn, việc tìm kiếm tế bào đáy bằng kính

hiển vi quang học có thể phản tác dụng. Do khó có thể phân biệt

giữa tế bào đáy và nguyên bào sợi hoặc do nhân tế bào xếp tầng

trong lát cắt tiếp tuyến, lát cắt dày hoặc nhân tế bào u kết đặc

giống với tế bào đáy. Khi đó, việc sử dụng HMMD để xác định

tế bào đáy là cần thiết.

1.4.5. Một số biến thể của ung thư biểu mô tuyến nang.

1.4.5.1.

-



UTBM tuyến nang biến thể teo.



Biến thể teo gặp ở 2% các trường hợp sinh thiết kim [39]. UTBM



tuyến nang biến thể teo gồm các tuyến đơn teo nhỏ nằm giữa các tuyến

lớn hơn; bất thường tế bào nhiều hơn teo lành tính. Tế bào mất thể tích

bào tương nên thường có hình ảnh ưa base điển hình. Lòng các tuyến

thường chứa chất tiết protein và chất nhầy xanh. Việc chẩn đoán biến thể

teo nên thận trọng trên sinh thiết kim.

1.4.5.2.

-



UTBM tuyến nang biến thể vi nang



Sự biến đổi tạo nang hoặc giãn các tuyến ở vùng teo hoặc giả tăng



sản với lớp biểu mơ lát đơn lót lòng nang là điển hình cho UTBM tuyến

vi nang [40].

1.4.5.3.

-



UTBM tuyến nang biến thể tuyến bọt bào



UTBM tuyến bọt bào được đặc trưng bởi bào tương dạng bọt phong



phú, nhân kết đặc và khơng điển hình nhẹ [41]. Về vi thể, các tuyến bọt

bào thường dày đặc hoặc xâm nhập. Những đặc điểm tế bào điển hình



33



của UTBM tuyến nang thường vắng mặt như nhân lớn, hạt nhân rõ gây

khó khăn trong chẩn đoán, đặc biệt trên sinh thiết kim.

1.4.5.4.

-



UTBM tuyến nang biến thể nhầy



UTBM tuyến nhầy được xác định khi một khối u có ít nhất 25% chất



nhầy ngoại bào. Vì vậy, có thể được chẩn đốn chính xác trên bệnh phẩm

cắt TTL triệt căn. Về vi thể, u gồm các tuyến đơn lẻ, các tuyến hợp nhất,

và ổ hình sàng bơi trong bể chất nhầy. Những tế bào u đơn lẻ có các đặc

điểm tương tự UTBM tuyến nang thơng thường. Nhuộm mucin thường

dương tính với chất nhầy, nhưng âm tính với bào tương tế bào u. Các vi

nốt collagen có thể xuất hiện [42].

1.4.5.5.

-



UTBM tuyến nang biến thể tế bào giống nhẫn



UTBM tế bào giống nhẫn là hiếm,với khoảng 30 ca trong 100000 ca



UTTTL [43]. Không giống tế bào nhẫn, bào tương tế bào giống nhẫn có

các khơng bào trống rỗng, khơng chứa chất nhầy [44]. Chẩn đốn khi có

ít nhất 25% u là các tế bào giống nhẫn.

1.4.5.6.

-



UTBM tuyến nang biến thể tế bào khổng lồ đa hình



Là một biển thể cực hiếm, khoảng 10 trường hợp trong y văn. U



được đặc trưng bởi các tế bào với nhân khổng lồ đa hình. Về mơ học, u

đặc trưng bởi sự xuất hiện của đám hoặc dải các tế bào bất thục sản, kỳ

quái, một nhân và đa nhân với bào tương phong phú. Những tế bào u

thường khơng có sự liên kết, thường có hoại tử mở rộng [39], [45].

1.4.5.7.

-



UTBM tuyến dạng sarcom



Là một u ác tính hai pha với cả biệt hóa biểu mơ và trung mơ. Về mơ



học, thành phần biểu mơ gồm nhiều hình ảnh khác nhau, thường có điểm

Gleason khá cao. Thành phần trung mô bao gồm sarcom xương, sarcom

sụn, sarcom cơ vân, sarcom cơ trơn, sarcom mỡ, sarcom mạch hoặc biệt



34



hóa khơng đồng nhất. Thành phần biểu mơ dương tính với CK, PSA và

PSAP. Ngược lại, thành phần trung mơ dương tính với các marker trung

mô khác nhau [41].

1.4.6. Một số loại ung thư biểu mô TTL khác

1.4.6.1.

-



UTBM nội ống



UTBM nội ống là sự tăng sinh biểu mơ trong ống hoặc lòng nang mà



có các đặc điểm của HGPIN nhưng sự khơng điển hình rõ ràng hơn về

cấu trúc và tế bào, thường liên quan đến UTBM TTL độ cao, giai đoạn

muộn [65].Về cấu trúc, UTBM nội ống có cấu trúc đặc,hình sàng, hoặc

vi nhú, với nhân khơng điển hình rõ (kích thước nhân lớn hơn 6 lần bình

thường) hoặc có hoại tử trứng cá. Các tế bào u thường hình trụ, chứa đầy

trong các ống hoặc nang lớn, nhưng vẫn duy trì tồn bộ hoặc một phần tế

bào đáy.

1.4.6.2.

-



UTBM tuyến ống



UTBM tuyến ống là một dưới típ của UTBM TTL với các tuyến lớn



được lót bởi biểu mơ trụ cao giả tầng. Bào tương ưa base, ít khi ưa acid

hoặc sáng màu. Nhân thn dài và khơng điển hình hơn UTBM tuyến

nang. Hạt nhân rõ, chất nhiễm sắc thô và nhiều nhân chia. Hoại tử lòng

ống thường thấy trong cả thành phần nội ống và xâm nhập. Cấu trúc

tuyến phức tạp hơn UTBM tuyến nang, hay gặp nhất là nhú hoặc hình

sàng hoặc kết hợp cả hai.

1.4.6.3.

-



UTBM đường niệu



UTBM đường niệu có thể nguyên phát hoặc thứ phát từ bàng quang



lan xuống. Hình thái mơ học tương tự UTBM đường niệu ở các vị trí

khác. Tế bào u có nhân đa hình thái rõ và nhiều nhân chia. U có thể lấp

đầy các ống và có hoại tử trứng cá.



35



1.5. Một số dấu ấn HMMDsử dụng trong chẩn đoán UTTTL

1.5.1. Các dấu ấn đặc hiệu cho dòng tuyến tiền liệt.

1.5.1.1.

-



PSA (prostate-specific antigen)



Sau khi được phát hiện vào năm 1979, rất nhiều cơng trình NC sự



phân bố kháng ngun đặc hiệu TTL này trong mô cũng như chỉ số của

chúng trong huyết thanh và coi nó là yếu tố dự báo UTTTL [46]. PSA

khơng có trong TTL trước tuổi dậy thì. Các kháng thể đơn dòng và đa

dòng trực tiếp kháng lại kháng nguyên này thường dương tính rất mạnh

và lan toả trong bào tương của tế bào chế tiết trong TTL bình thường và

q sản. Các tế bào đáy khơng nhuộm với PSA. Biểu mô tuyến thuộc các

vùng TTL đều dương tính với PSA. Hầu hết các ung thư biểu mơ TTL

dương tính với PSA. Biểu mơ của túi tinh, ống phóng tinh, biểu mơ

chuyển tiếp của niệu đạo TTL và các ống quanh niệu đạo đều âm tính với

PSA[57].

1.5.1.2.

-



PAP (prostate acid phosphatase)



PAP tương ứng với một nhóm izoenzym thuỷ phân các este



phosphoric ở môi trường pH acid. Rất nhiều mô và cơ quan trong cơ thể

có PAP, như hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, lách, gan, xương và tuyến tiền

liệt. Do đó, PAP khơng có tính đặc hiệu cơ quan như PSA nên hiện nay

PAP chỉ được dùng để cung cấp thêm bằng chứng trong trường hợp phát

hiện di căn của UTTTL. Tuy nhiên, theo một số tác giả, PAP còn có ý

nghĩa trong việc phân giai đoạn lâm sàng và tiên lượng bệnh.

1.5.2. Các dấu ấn liên quan đến tế bào đáy

1.5.2.1.

-



Cytokeratin trọng lượng phân tử cao



Cả tế bào chế tiết và tế bào đáy đều có có ấn cytokeratin. Các tế bào



đáy biểu hiện các dấu ấn CK5, CK14, CK5/6 và đặc biệt là CK34βE12,



36



trong khi tế bào chế tiết lại biểu hiện với CK8, CK18 và đôi khi CK19.

Trong một số tổn thương của TTL như teo tuyến, quá sản tế bào đáy,

người ta thường gặp tăng sinh các ống tuyến nhỏ (dễ nhầm với ung thư

biểu mơ TTL).

-



Để phân biệt các tổn thương lành tính nhưng lại có đặc điểm mơ



bệnh học dễ nhầm với UTBM TTL vừa được nêu trên, các tác giả đã sử

dụng một dấu ấn thực sự có ích cho chẩn đốn là CK34βE12 (CK903).

Nếu CK34βE12 cho thấy còn lớp tế bào đáy (dù còn liên tục hoặc

khơng) thì đó là bằng chứng thuyết phục để khẳng định tính chất lành

tính của tổn thương [48].

1.5.2.2.

-



P63



P63 là một đồng đẳng của P53. P63 bộc lộ ở tế bào đáy và tế bào cơ



biểu mô của nhiều cơ quan khác nhau. Ở TTL, sự biểu hiện của p63 chỉ

giới hạn ở tế bào đáy và không thấy ở tế bào chế tiết và tế bào thần kinh

nội tiết. Các NC đã khẳng định lợi ích lâm sàng của nhuộm HMMD p63

như một dấu ấn tế bào đáy TTL. Ngoài ra, việc sử dụng cocktail CK903

và p63 có thể giảm bớt tỷ lệ dương tính giả và âm tính giả so với chỉ

nhuộm từng dấu ấn đơn lẻ [49].

1.5.3. Các dấu ấn đặc hiệu cho UTTTL

1.5.3.1.

-



Α-methylacyl Coenzym A Racemase (AMCAR/P504S)



Enzym AMCAR nằm chủ yếu trong các cấu trúc peroxisom. Trong



UTTTL và HGPIN có sự biểu hiện cao hơn đáng kể so với biểu mô TTL

lành tính. Một NC đa trung tâm bởi Jiang và cộng sự cho thấy độ nhạy

và độ đặc hiệu của AMCAR trong UTTTL là 97% và 92% [50]. Tuy

nhiên, AMCAR cũng biểu hiện ở HGPIN và vài tổn thương giống

UTTTL như teo tuyến, teo cục bộ và bệnh tuyến. Vì vậy, AMCAR có lợi



37



ích giới hạn khi sử dụng đơn lẻ. Việc sử dụng kết hợp với p63 và CK903

là được khuyên dùng để xác định các ổ tuyến TTL không điển hình [51],

[52].

1.5.3.2.

-



ERG



ERG biểu hiện quá mức trong UTTTL, leukemia cấp, sarcom Ewing.



Các NC đánh giá liên quan sự biểu hiện của ERG bởi HMMD cho thấy

tỷ lệ dương tính là 38-45% trong UTTTL, 22-29% trong HGPIN và

hiếm khi biểu hiện ở tuyến lành tính, tăng sinh sau teo, teo cục bộ và

bệnh tuyến [53]. Hạn chế lớn nhất của ERG là độ nhạy thấp nên nếu

nhuộm âm tính cũng không loại trừ được UTTTL.

1.5.4. Dấu ấn sử dụng trong tiên lượng

1.5.4.1.

-



Ki67



Kháng nguyên Ki67 mã hoá cho 2 đồng phân protein với trọng lượng



phân tử là 345 và 395 kDa, được xác định đầu tiên bởi Scholzer và

Gerdes vào những năm đầu thập niên 1980. Protein có thời gian bán huỷ

ngắn, khoảng 1-1,5h, xuất hiện trong tất cả các pha hoạt động của chu kỳ

tế bào (G1, S, G2 và M) và vắng mặt khi tế bào ngừng hoạt động (G0).

Trong pha muộn của chu kỳ phân bào xảy ra sự giảm mạnh nồng độ

Ki67. Sự bộc lộ của protein Ki67 có liên quan đến hoạt động tăng sinh

của các quần thể tế bào nội sinh trong các khối u ác tính, cho phép sử

dụng nó như một dấu ấn sinh học (marker) đánh giá sự tiến triển khối u.

Giá trị tiên lượng của Ki67 đã được minh chứng sau một loạt các NC

như một dấu ấn đáng tin cậy trong các ung thư: UTTTL, ung thư vú, ung

thư phổi, ung thư cổ tử cung, U hệ thần kinh trung ương, các khối u ác

tính của mơ mềm [54].



38



-



Trong ung thư biểu mô tuyến của tuyến tiền liệt, các điểm mô bệnh



học và độ Gleason dựa vào đặc điểm cấu trúc, không bao gồm tốc độ

tăng sinh của tế bào u. Các NC đã cho thấy giá trị tiên lượng bổ sung

của chỉ số tăng sinh Ki67 [54]. Có nhiều NC tìm hiểu mối liên quan giữa

điểm Gleason và chỉ số Ki67. NC của M.Sulik và CS cho thấy có 64%

BN UTTTL có bộc lộ với Ki67 và có mối tương quan mạnh mẽ giữa sự

bộc lộ Ki67 với BN có điểm Gleason ≥ 7 [55]. Các NC khác cũng tìm

thấy mối tương quan giữa hai yếu tố này trên cà sinh thiết kim và bệnh

phẩm phẫu thuật [56],[57], [58].

-



39



2.1.

-



CHƯƠNG 2



ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NC



Đối tượng và địa điểm NC

126 BN được sinh thiết kim TTL dưới hướng dẫn của siêu âm qua



đường trực tràng và được chẩn đoán xác định là UTBM TTL tại khoa

giải phẫu bệnh bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ 1/2015 đến 5/2017.

2.2.



Tiêu chuẩn lựa chọn BN



-Các BN có sinh thiết kim TTL được chẩn đốn là UTBM TTL ngun

phát.

-Có thơng tin hành chính đầy đủ.

-Có ít nhất 06 lõi sinh thiết ở 6 vị trí khác nhau của TTL.

-Được mơ tả chi tiết số lượng mẫu sinh thiết và vị trí của từng mẫu.

-Được xét nghiệm nồng độ PSA/Hth trước khi làm sinh thiết.

-Còn tiêu bản lưu trữ, đảm bảo chất lượng để chẩn đốn.

-Còn khối nến có đủ bệnh phẩm để cắt nhuộm chẩn đoán MBH và

HMMD.

Tiêu chuẩn loại trừ

-UTBM di căn từ nơi khác đến.

-Đã được điều trị bằng xạ trị hoặc hormon.

-Các trường hợp không đảm bảo bất kỳ một trong các tiêu chuẩn lựa

chọn trên.

2.3.



Phươngpháp NC:



2.3.1. Thiết kế NC

-



NC theo phương pháp mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đặc điểm vi thể của HGPIN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×