Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trường hợp 3: U có nhiều hơn hai mẫu cấu trúc:

Trường hợp 3: U có nhiều hơn hai mẫu cấu trúc:

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



-



Bảng 1.1. Đặc điểm hình thái các mẫu cấu trúc trong UTTTL



- Mẫu cấu

trúc

- 1



- 2



- 3

- 4



- 5



- Hình thái cấu trúc

- Gồm các nốt ranh giới rõ, xếp sát nhau nhưng các nang vẫn

riêng rẽ, đồng dạng, tròn hoặc bầu dục, kích thước trung bình

(các tuyến lớn hơn mẫu 3).

- Giống mẫu 1, nốt ranh giới khá rõ, bờ các nốt có thể có vi

xâm nhập

- Các tuyến sắp xếp lỏng lẻo hơn và kém đồng dạng hơn mẫu

1

- Gồm các tuyến đơn lẻ, rõ ràng, kích thước khác nhau, bao

gồm cả những tuyến có nhánh.

- Gồm các tuyến khơng rõ ràng, hợp nhất, tuyến hình sàng và

tuyến dạng cầu thận.

- Gồm các dải u, các tế bào đơn lẻ, các dây tế bào.

- Các ổ đặc tế bào với cấu trúc vi nang không rõ ràng hoặc

thỉnh thoảng có cấu trúc tuyến.

- Cấu trúc đặc hoặc hình sàng với hoại tử trứng cá.



-



Biểu đồ 1.1: Minh hoạ độ Gleason sửa đổi theo ISUP 2014 và

TCYTTG 2016



26



1.4.2.2. Phân nhóm điểm Gleason

- Tại hội nghị ISUP 2014 đã đạt được sự đồng thuận cao về chia điểm

Gleason thành 5 nhóm. Sự ra đời của phân nhóm này dựa trên một vài cơ

sở sau [8], [22]:

Điểm Gleason 2-5 là hiếm được sử dụng trên mẫu cắt TTL triệt

căn và không còn được sử dụng trên mẫu sinh thiết.

Các phân nhóm Gleason trong quá khứ không phản ánh đúng tiên

lượng bệnh.

Điểm Gleason 6 thuộc nhóm 1 trong 5 nhóm, giúp các nhà lâm

sàng và BN hiểu rằng nó thuộc nhóm thấp nhất chứ không phải ở

độ trung gian với điểm Gleason 6/10. Điều này là rất quan trọng vì

nhóm 1 có tiên lượng rất tốt.

- Một NC đa trung tâm đánh giá tiên lượng dựa vào bảng phân nhóm

trên ở >20000 trường hợp phẫu thuật TTL triệt căn, >16000 trường hợp

sinh thiết kim và >5000 sinh thiết sau xạ trị đã chứng minh mối tương

quan về di truyền và sinh học phân tử cho hệ thống phân nhóm này [27]

Bảng 1.2: Đặc điểm hình thái các nhóm theo phân độ Gleason

- Nhó - Điểm

- Hình thái cấu trúc

m

Gleason

- 1

- ≤6

- Gồm các tuyến đơn lẻ, rõ ràng, riêng rẽ.

- Nhiều tuyến rõ ràng với một số lượng ít hơn các

- 2

- 3+4=7

tuyến khơng rõ ràng/ hợp nhất hoặc hình sàng.

- Nhiều tuyến khơng rõ ràng/ hợp nhất hoặc hình

- 3

- 4+3=7

sàng với một số lượng ít hơn các tuyến rõ ràng.

- Chỉ gồm những tuyến khơng rõ ràng/hợp

nhất/hình sàng.

- 4+4=8

- Nhiều tuyến rõ ràng và số lượng ít hơn thành phần

- 4

- 3+5=8

không tạo cấu trúc tuyến.

- 5+3=8

- Nhiều thành phần khơng tạo cấu trúc tuyến và ít

hơn các tuyến rõ ràng.

- Thiếu thành phần tuyến (hoặc với hoại tử)

- 9 hoặc

- 5

có/khơng có tuyến khơng rõ ràng/hợp nhất/ hình

10

sàng.



27



1.4.2.3.



Thành cơng của hệ thống phân độ Gleason:



-Các mẫu mô được nhận dạng dựa theo mức độ biệt hoá của tuyến nang.

-Các mẫu cấu trúc được vẽ một cách đơn giản, dễ hiểu và chuẩn hoá mà

hầu hết các nhà giải phẫu bệnh đều có thể hiểu và áp dụng được.

-Hệ thống Gleason cung cấp nhiều thông tin khách quan về sự phát triển

của u: khả năng lan tràn và di căn, khả năng đáp ứng điều trị cũng như

tiên lượng bệnh [28].

-Khác với bất kỳ một hệ thống phân độ mô học nào, hệ Gleason đã cung

cấp cho ta thông tin về tính khơng đồng nhất của u thơng qua mẫu thứ

nhất và thứ hai.

1.4.2.4.



Ý nghĩa lâm sàng của phân độ mơ học



• Liên quan giữa độ mơ học với PSA:

-



Những trường hợp ung thư biểu mơ TTL có nồng độ PSA/Hth cao



thì thường là những u có độ mơ cao hơn, thể tích lớn hơn và ở giai đoạn

bệnh muộn hơn so với u có nồng độ PSA bình thường. Những UTTTL có

trên 30% mẫu Gleason 4 và 5 là những u có thể tích lớn hơn và nồng độ

PSA/Hth cao hơn những u có dưới 30% mẫu 4 và 5 [5].

• Liên quan giữa độ mơ học với giai đoạn bệnh:

-



Độ mô học là một trong những yếu tố dự báo hữu ích nhất và có ý



nghĩa nhất về giai đoạn bệnh. Khi tỷ số Gleason là 8 hoặc cao hơn sẽ là

yếu tố dự báo có giá trị về di căn hạch và gợi ý rằng nên vét hạch trong

những trường hợp này[30].

• Liên quan giữa độ mơ học với thể tích u:

-



Độ Gleason có liên quan chặt chẽ với thể tích u. Như vậy, khi u càng



lớn thì độ biệt hố sẽ càng giảm và u càng nhỏ thì độ biệt hố sẽ càng

cao hơn [31].



28







Liên quan giữa độ mô học và giai đoạn lâm sàng với khả năng

tái phát và thời gian sống thêm:



-



Độ mô học của UTTTL có liên quan chặt chẽ với khả năng tái phát



và thời gian sống thêm, bao gồm thời gian sống tồn bộ và thời gian

sống khơng bệnh sau điều trị, thời gian sống khơng có di căn [32].

1.4.3. Tân sản nội biểu mơ độ cao TTL (HGPIN)

• Định nghĩa:

-



HGPIN là tổn thương đặc trưng bởi sự tăng sinh nội ống có nguồn



gốc từ các tế bào chế tiết, thường đi kèm với những thay đổi toàn diện về

mặt tế bào dẫn đến hậu quả là rất khó phân biệt với UTTTL [16].

• Đặc điểm vi thể của HGPIN

-



HGPIN đặc trưng bởi sự tăng sinh các tế bào chế tiết trong các ống



và nang, với các biến đổi tế bào tương tự trong ung thư, bao gồm nhân

lớn, hạt nhân nhiều và rõ. HGPIN thường đa ổ. Khi lớp tế bào đáy không

liên tục hoặc mất, và các ổ tuyến chớm xâm nhập mô đệm là bằng chứng

sớm nhất của việc chuyển tiếp đến UTBM TTL. Bốn mẫu cấu trúc chính

của HGPIN là dạng chùm, vi nhú, hình sàng, dẹt. Khơng có sự khác biệt

về ý nghĩa lâm sàng đáng kể giữa các mẫu cấu trúc này. Những mẫu cấu

trúc ít gặp hơn là dạng hốc/tế bào nhẫn, tế bào nhỏ, dạng nhầy, tuyến bọt

bào, dạng đảo ngược và HGPIN với biệt hóa vảy [7].

1.4.4. Ung thư biểu mơ tuyến nang thơng thường

• Định nghĩa:

-



UTBM tuyến nang là một UTBM xâm lấm bao gồm các tế bào u



biểu mô tuyến tiền liệt với biệt hóa chế tiết được sắp xếp thành các cấu

trúc mô học khác nhau: tuyến, dây, dải và tế bào đơn lẻ. Tế bào đáy

thường vắng mặt.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trường hợp 3: U có nhiều hơn hai mẫu cấu trúc:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×