Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mức độ sụt giảm FEV1 trung bình ở nhóm bệnh nhân COPD và ACOS lần lượt là 34,4 ± 146,7 (ml) và 40 ± 177,0 (ml). Mức độ sụt giảm ở hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p=0,891).

Mức độ sụt giảm FEV1 trung bình ở nhóm bệnh nhân COPD và ACOS lần lượt là 34,4 ± 146,7 (ml) và 40 ± 177,0 (ml). Mức độ sụt giảm ở hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p=0,891).

Tải bản đầy đủ - 0trang

47



CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

4.1.1. Đặc điểm lâm sàng

4.1.1.1. Đặc điểm tuổi

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được đặc trưng bởi tình trạng viêm mạn

tính, phá hủy, tái tạo, xơ hóa cấu trúc của đường dẫn khí do tiếp xúc với các

phân tử khí độc hại. Quá trình này diễn ra lặp đi lặp lại do phơi nhiễm với tác

nhân gây bệnh thường xuyên, nặng dần theo thời gian và thường biểu hiện

triệu chứng khi ngồi 40 tuổi.

Nghiên cứu của chúng tơi trên 88 bênh nhân có độ tuổi trung bình là:

67,4 ± 7,9 (tuổi), trong đó bệnh nhân trẻ nhất là 45 tuổi và già nhất là 89 tuổi.

Đa số các bệnh nhân đều từ 50-70 tuổi với tỷ lệ 69,2% bệnh nhân COPD và

59,1% bệnh nhân ACOS. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng

với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trong nước như Trương Thị Tuyết

năm 2015 với độ tuổi trung bình 67,02 ± 9,1 (tuổi) [38]; Đỗ Quyết và cộng sự

(2010) với tuổi trung bình của nam là 66,9 tuổi, nữ là 65,5 tuổi [39]. Khi so

sánh với các nghiên cứu nước ngồi, chúng tơi cũng nhận thấy sự tương đồng

về kết quả này như nghiên cứu của Suchit Kumbhare và cộng sự tại Mỹ năm

2016 cho kết quả độ tuổi trung bình là 67,1 ± 11,8 (tuổi) [40], hay nghiên cứu

của Toshio Suzuki và cộng sự năm 2015 tại Nhật Bản trên hai nhóm bệnh

nhân COPD và ACOS có độ tuổi trung bình lần lượt là 69,7 ± 8,3 (tuổi) và

67,2 ± 10,3 (tuổi) [41].

4.1.1.2. Đặc điểm giới

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nam giới chiếm đa số với tỷ lê nam/nữ

là 5,3/1. Kết quả này phù hợp với đặc điểm bệnh nhân ở Việt Nam nói riêng

và các nước đang phát triển nói chung khi thói quen hút thuốc chủ yếu gặp ở

nam giới: nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy (2013) với nam chiếm 88,4%



48



và nữ chiếm 11,6% [42]; nghiên cứu của Thái Thị Huyền (2006) với nam

chiếm 84,7% và nữ chiếm 15,4% [43]. Tuy nhiên khi so sánh với các nghiên

cứu khác về COPD và ACOS trên các nước phát triển, chúng tơi thấy có sự

khác biệt. Nghiên cứu của Megan Hardin và cộng sự năm 2011 tại Mỹ cho tỷ

lệ nam và nữ tương ứng là 53,1% và 46,9% [3];



nghiên cứu của Lea



Schirnhofer và cộng sự năm 2007 tại Úc trên 1258 đối tượng có tiền sử hút

thuốc lá tương đương nhau cho kết quả tỷ lệ nam giới là 54,5% còn nữ chiếm

45,5% [44]. Điều này cho thấy giới tính chỉ là yếu tố thuận lợi tác động đến

tình trạng hút thuốc lá, thuốc lào gián tiếp tác động lên tỷ lệ phân bố bệnh

giữa nam và nữ.

Khi phân tích về tỷ lệ giới tính ở hai nhóm COPD và ACOS chúng tơi

nhận thấy ở nhóm ACOS có tỷ lệ nữ giới cao hơn với tỷ lệ 29,5% so với 2,3%

nhóm COPD đơn thuần. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của

Trương Thị Tuyết (2015) trên 43 bệnh nhân ACOS có 16 bệnh nhân là nữ giới

chiếm 37,6% cao hơn tỷ lệ nữ giới trong nhóm COPD là 11,1% [38]; nghiên

cứu của Miravitles và cộng sự (2013) có tỷ lệ nữ giới trong nhóm ACOS là

55,2% còn trong nhóm COPD là 29,6% [12]. Điều này được giải thích do tiền

sử hen phế quản trong nhóm bệnh nhân ACOS. Ở trước tuổi dậy thì, hen phế

quản phổ biến hơn ở các bé trai, tuy nhiên sau tuổi dậy thì mơ hình bệnh tật

thay đổi vởi tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới. Ở Việt Nam, tỷ lệ nam giới nhiều

hơn do thói quen hút thuốc lá gặp chủ yếu ở nam giới.

4.1.1.3. Tiền sử hút thuốc lá

Vai trò của thuốc lá đối với các bệnh lý hơ hấp nói chung và bệnh phổi

tắc nghẽn mạn tính nói riêng đã được biết đến từ lâu và được đề cập trong rất

nhiều các nghiên cứu khác nhau. Trong nghiên cứu của chúng tơi trên 44 bệnh

nhân ACOS có 36 bệnh nhân hút thuốc lá chủ động hoặc thụ động chiếm

81,8% với số bao năm trung bình là 25,5 ± 16,7 (bao – năm) còn trên nhóm



49



COPD tỷ lệ này là 100% với số bao năm trung bình là 31,7 ± 15,1 (bao –

năm). Tuy nhiên, hiện tại khơng có bệnh nhân nào trong nghiên cứu còn hút

thuốc lá, thuốc lào cho thấy các bệnh nhân trong chương trình quản lý bệnh

phổi tắc nghẽn được tuyên truyền, giáo dục thường xuyên nên hiểu rõ được

tác hại và nguy cơ của khói thuốc. Tỷ lệ hút thuốc trong nghiên cứu của

chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Trương Thị Tuyết (2015) trên 43 bệnh nhân

ACOS có 53,5% bệnh nhân có tiền sử hút thuốc với số bao năm trung bình là

22,3 ± 14,8 (bao – năm) [38], hay nghiên cứu của Miravitlles (2013) trên 67

BN ACOS, có 43,3% BN có tiền sử hút thuốc với số bao năm trung bình là

27,5 ± 20,4 (bao- năm) [12]. Có thể nhận thấy dù tỷ lệ hút thuốc khác nhau

nhưng số bao năm trung bình giữa các nghiên cứu tương tự nhau. Điều này có

thể là do trong nghiên cứu của chúng tơi có tỷ lệ bệnh nhân hút thuốc lá thụ

động cao hơn với 16% bệnh nhân.

4.1.1.4. Tiền sử hen phế quản và các bệnh lý dị ứng.

Hiện nay, bệnh nhân ACOS được chẩn đốn từ hai nhóm chính: một là từ

nhóm bệnh nhân có tiền sử mắc hen phế quản hoặc các bệnh lý dị ứng có hút

thuốc lá hoặc tiếp xúc với khói bụi nhiều năm dẫn tới tắc nghẽn luồng khí cố

định, hai là từ nhóm bệnh nhân COPD nhưng có hồi phục đáng kể với test giãn

phế quản hoặc có các đặc điểm của viêm đường thở theo đường bạch cầu ái

toan biểu hiện bằng bạch cầu ái toan trong đờm tăng, nồng độ NO trong hơi thở

ra cao… Trong đó, các bệnh nhân từ nhóm có tiền sử dị ứng chiếm phần lớn

bệnh nhân ACOS được chẩn đoán. Do đó, việc khai thác tiền sử hen phế quản

và các bệnh lý dị ứng khác như: viêm mũi dị ứng, viêm da cơ địa… đóng vai

trò vơ cùng quan trọng trong việc đưa ra chẩn đoán hội chứng chồng lấp. Trong

nghiên cứu của chúng tôi trên 44 bệnh nhân ACOS có 29 bệnh nhân có tiền sử

hen phế quản chiếm 65,9% và có 24 bệnh nhân mắc các bệnh lý dị ứng khác

chiếm 54,5%. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trương Thị Tuyết



50



(2015) có 72% bệnh nhân có tiền sử hen phế quản và 74,4% bệnh nhân mắc

các bệnh lý dị ứng khác [38]. Các nghiên cứu nước ngoài cũng cho kết quả

tương tự như nghiên cứu của J.W.Chung và cộng sự (2014) thì tỷ lệ các bệnh dị

ứng bao gồm hen, viêm mũi dị ứng, viêm da cơ địa là 52% [45].

4.1.1.5. Tiền sử các bệnh đồng mắc.

Các bệnh nhân COPD hay ACOS thường mắc các bệnh lý khác đi kèm do

COPD cũng như ACOS thường tiến triển trong một thời gian dài ở những

người cao tuổi hút thuốc lá, thuốc lào nhiều năm nên thường mắc nhiều bệnh lý

liên quan đến thuốc lá và tuổi tác. Ngồi ra còn do bản thân COPD cũng gây ra

nhiều rối loạn như: phản ứng viêm toàn thân, thiếu oxy mạn tính, hạn chế vận

động do khó thở, tác dụng phụ của thuốc…

Nghiên cứu của chúng tôi trên 44 bệnh nhân ACOS có 70,4% bệnh nhân

mắc ít nhất một bệnh đồng mắc, trong đó phổ biến nhất là tăng huyết áp với

20 bệnh nhân chiếm 45,5%, tiếp đến là loãng xương với 18,2% bệnh nhân, tỷ

lệ đái tháo đường và bệnh mạch vành đều là 9,1%, tương tự trên nhóm COPD

có tỷ lệ tăng huyết áp (34,1%), đái tháo đường (11,4%), bệnh mạch vành

(13,6%) và tỷ lệ loãng xương thấp hơn là 6,8%. Kết quả này phù hợp với

nghiên cứu của Trương Thị Tuyết (2015) với tỷ lệ tăng huyết áp là 44,2%, đái

tháo đường 9,3% và bệnh mạch vành 14,2%, tỷ lệ loãng xương 41,9% cao

hơn nghiên cứu của chúng tơi [38]. Kết quả này góp phần cảnh báo cho các

bác sỹ lâm sàng cần có sự quan tâm đúng mức về bệnh lý lỗng xương trong

nhóm các bệnh nhân ACOS cũng như COPD. Khi so sánh với các nghiên cứu

nước ngồi, chúng tơi nhận thấy kết quả tương tự như nghiên cứu của

J.W.Chung và cộng sự (2014) tại Hàn Quốc cho tỷ lệ tăng huyết áp là 28%,

đái tháo đường 13% và loãng xương 23% [45] nhưng lại khác biệt vơi nghiên

cứu của Suchit Kumbhrae và cộng sự (2016) tại Mỹ có tỷ lệ bệnh mạch vành

23,6%, đột quỵ 14,2%, đái tháo đường 29,7%, trầm cảm 45,9% [40]. Điều



51



này là do mơ hình bệnh tật tại các nước phát triển chủ yếu là các bệnh rối loạn

chuyển hóa và hậu quả của nó như: đái tháo đường, bệnh mạch vành, đột

quỵ... Cũng từ đây, chúng ta có thể thấy bệnh lý trầm cảm là bệnh lý đồng

mắc rất phổ biến nhưng chưa được quan tâm đúng mức tại Việt Nam.

Bệnh đồng mắc là nguyên nhân dẫn đến tăng tần suất nhập viện, tăng tỷ

lệ tử vong và chi phí điều trị của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bên cạnh việc

chẩn đốn và điều trị COPD thì phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh đồng

mắc là yếu tố quan trọng trong đánh giá và tiên lượng bệnh phổi tắc nghẽn

mạn tính.

4.1.1.6. Tiền sử đợt cấp trong 12 tháng

Nghiên cứu của chúng tôi trên 44 bệnh nhân ACOS có số đợt cấp trung

bình trong 12 tháng trước là 4,4 ± 2,8 (đợt), số đợt cấp phải nằm viện là 1,1 ±

1,9 (đợt) với thời gian nằm viện trung bình là 13,3 ± 22,8 (ngày). Bệnh

nhân ACOS phải chịu nhiều đợt cấp hơn bệnh nhân COPD đơn thuần (2,6 ±

1,1; p=0,019) và thời gian nằm viện kéo dài hơn (5,1 ± 12,7 ngày,

p=0,042). Đây là nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng cuộc sống,

tăng tỷ lệ tử vong và để lại nhiều gánh nặng cho gia đình, xã hội của các

bệnh nhân mắc hội chứng chồng lấp. Kết quả tương tự với nghiên cứu của

Megan Hardin và cộng sự (2011) cho thấy bệnh nhân ACOS phải chịu

nhiều đợt cấp hơn (OR = 3,55, p<0,0001), số đợt cấp nặng nhiều hơn (OR

= 1,93, p= 0,004) so với bệnh nhân COPD đơn thuần [3]. Khi so sánh với

nghiên cứu của Trương Thị Tuyết (2015) trên 43 bệnh nhân ACOS có tần

suất đơt cấp trung bình 1,5 ± 1,4 (đợt) thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi

[38]. Điều này là do trong nghiên cứu của chúng tôi chọn các bệnh nhân

GOLD C, D nên tần suất đợt cấp cao hơn.



52



4.1.1.7. Triệu chứng cơ năng

Ở cả hai nhóm bệnh nhân các triệu chứng thường gặp là: khó thở, ho và

khạc đờm với tỷ lệ xuất hiện trên nhóm bệnh nhân COPD là 97,7%; 70,5% và

75% còn trên nhóm bệnh nhân ACO là 88,6%, 68,2% và 81,8%. Kết quả này

tương đồng với nghiên cứu của một số tác giả trong nước như: Nguyên Thanh

Thủy (2013) trên 112 bệnh nhân COPD thấy tỷ lệ khó thở (95,5%), ho (92%)

và khạc đờm (82,1%) [42]; Lê Thị Huyền Trang (2007) trên 74 bệnh nhân

COPD có tỷ lệ khó thở (90,2%), ho (76,8%), khạc đờm (78%) [46].

Trên nhóm bệnh nhân ACOS, tần suất xuất hiện các triệu chứng khò khè,

tức ngực về đêm, gần sáng cao hơn nhiều so với bệnh nhân COPD đơn thuần

với tỷ lệ lần lượt là 95,5% và 86,4%. Kết quả tương tự với Trương Thị Tuyết

(2015) với tỷ lệ khò khè (60,5%) và nặng ngực về đêm, gần sáng (44,5%)

[38]. Đây là các triệu chứng điển hình của bệnh nhân mắc hội chứng chồng

lấp khi mang trong mình đặc điểm của cả hen và COPD.

Hiện nay, nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc đánh giá bệnh nhân COPD

cũng như bệnh nhân ACOS chỉ dựa vào chức năng thơng khí là chưa đủ bởi lẽ

yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và chất lượng cuộc sống của bệnh

nhân chính là mức độ triệu chứng và khơng có mối liên quan giữa mức độ bất

thường trên chức năng thông khí với mức độ triệu chứng của bệnh nhân. Vì

vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi dùng thang điểm mMRC và thang điểm

CAT để đánh giá toàn diện tác động của bệnh tật đến đời sống của bệnh nhân,

đây là các thang điểm đơn giản, dễ thực hiện, bệnh nhân tự điền nên mang

tính thực tế cao nên được áp dụng rộng rãi trong thực tế lâm sàng.

Khi dùng thang điểm mMRC để đánh giá mức độ khó thở kết quả thu

được có 93,2% bệnh nhân ACOS có MMRC≥2 với điểm MRC trung bình là

2,5 ± 0,7, trong đó chủ yếu là mức độ 2 và mức độ 3 với tỷ lệ 43,2% và



53



45,5%, khơng có bệnh nhân nào có MRC=0. Kết quả cũng tương tự ở nhóm

COPD đơn thuần. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả

Trương Thị Tuyết (2015) có 81,4% bệnh nhân ACOS có mức độ khó thở

MRC ≥ 2 với 1% độ 0, 21,3% độ 1, 42% độ 2, 33,8% độ 3 1,9% độ 4 [38];

Paul Jones và cộng sự (2009, n = 36) có 2,8% MRC 1, 52,8% MRC 2, 30,6%

MRC 3, 13,9% MRC 4 [45]. Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cũng có sự

khác biệt với một vài nghiên cứu khác như nghiên cứu của Miravitlles (2013)

có điểm MRC trung bình là 1,9 ± 0,83 [12] hay nghiên cứu của Hiromasa

(2017) trên 90 bệnh nhân ACOS có điểm MRC trung bình là 1,0 ± 1,0 [47].

Điều này là do trong nghiên cứu của chúng tôi chọn các bệnh nhân GOLD

C,D nên mức độ khó thở nhiều hơn trong các nghiên cứu trên.

Ngoài ra, trong nghiên cứu này chúng tơi còn dùng thang điểm CAT để

đánh giá mức độ triệu chứng và tác động của chúng đến hoạt động hằng ngày.

Kết quả thu được có 88,7% bệnh nhân có điểm CAT ≥ 10, trong đó điểm CAT

từ 10-20 chiếm đa số với tỷ lệ 68,2%, khơng có bệnh nhân nào có điểm CAT

> 30. Các bệnh nhân ACOS có điểm CAT trung bình 16,0 ± 5,2 cao hơn bệnh

nhân COPD đơn thuần, tuy nhiên sự khác nhau này khơng có ý nghĩa thống

kê. Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Trương Thị Tuyết (2015) có 81,4%

bệnh nhân ACOS có điểm CAT ≥ 10 với điểm CAT trung bình là 18,9 ± 7,7

[38]; Toshio Suzuki (2015) có điểm CAT trung bình là 12,3 ± 7,2 cao hơn

nhóm COPD đơn thuần với ý nghĩa thống kê p = 0,046 [41]; Kurashima

(2016) trên 51 bệnh nhân ACOS có điểm CAT trung bình 16,5 ± 7,6 cao hơn

nhiều so với nhóm COPD đơn thuần với p < 0,001 [48]. Phân bố điểm CAT ở

bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của chúng tôi khác với nghiên cứu

của tác giả Soler và cộng sự (2012) trên 1503 bệnh nhân thấy 18% CAT < 10,

43% CAT từ 10 – 20, 28% CAT từ 20 – 30, 11% CAT ≥ 30 [49].



54



4.1.1.8. Triệu chứng thực thể

Thăm khám lâm sàng là việc bắt buộc khi đánh giá bệnh nhân bệnh phổi

tắc nghẽn mạn tính giúp cho việc chẩn đoán bệnh cũng như phát hiện các

biến chứng và bệnh kết hợp. Khi thăm khám cho 44 bệnh nhân ACOS thì các

triệu chứng thường gặp nhất là RRPN giảm (61,4%), ran rít (72,7%), ran ngáy

(47,7%), ran ẩm và ran nổ - biểu hiện của viêm, xuất tiết dịch trong phế nang

gặp với tỷ lệ thấp 13,6% và 11,4 % do các bệnh nhân nghiên cứu đều trong

giai đoạn ổn định. Các bệnh nhân COPD đơn thuần cũng cho kết quả tương tự

với các triệu chứng thường gặp là RRPN giảm, ran ngáy, ran rít. Tuy nhiên tỷ

lệ triệu chứng RRPN giảm và lồng ngực hình thùng gặp nhiều hơn ở bệnh

nhân COPD đơn thuần với tỷ lệ lần lượt là 95,5% và 25% biểu hiện tình trạng

giãn phế nang quá mức phổ biến hơn trong nhóm COPD. Kết quả nghiên cứu

tương tự với Trương Thị Tuyết (2015) có tỷ lệ RRPN giảm là 83,3%, ran rít

65,1%, ran ngáy 60,1% là các triệu chứng phổ biến nhất [38]. Nghiên cứu của

Nguyễn Thanh Thủy (2013) có tỷ lệ ran ngáy và ran rít tương tự nhưng tỷ lệ

ran ẩm, ran nổ cao hơn rất nhiều do tác giả nghiên cứu trên đối tượng bệnh

nhân đang trong đợt cấp phải điều trị nội trú [42].

Phù chân là một trong các triệu chứng biểu hiện của tâm phế mạn, đây là

triệu chứng dễ nhận biết bởi cả bác sỹ và bệnh nhân. Trong nghiên cứu của

chúng tơi có 31,8% bệnh nhân ACOS và 18,2% bệnh nhân COPD có biểu

hiện phù hai chi dưới. Tỷ lệ gặp tương đối cao do các bệnh nhân nghiên cứu

của chúng tôi đều ở giai đoạn muộn nên tỷ lệ tâm phế mạn cao hơn nhiều so

với nhóm thơng thường như trong nghiên cứu của Trương Thị Tuyết (2015)

chỉ có 13,9% bệnh nhân ACOS có biểu hiện phù chân [38]. Kết quả của

chúng tôi tương đồng với một số nghiên cứu khác tiến hành trên các bệnh

nhân ở giai đoạn muộn như nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy (2013) có

28,6% bệnh nhân bị phù chân hay nghiên cứu của Phan Thị Hạnh (2012) tỷ lệ

này là 15% [42], [50].



55



4.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng

4.1.2.1. Đặc điểm chức năng thơng khí

Đo chức năng hơ hấp là thăm dò khơng thể thiếu trong việc chẩn đốn và

đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính. Chỉ số Gaensler (FEV/FVC) < 0,7 sau test hồi phục phế quản là tiểu

chuẩn vàng để chẩn đốn bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Ngồi ra, mức độ tắc

nghẽn đường thở dựa vào chỉ số FEV1 còn là một tiêu chí rất quan trọng để

xếp loại các bệnh nhân COPD quyết định đến phác đồ điều trị cho bệnh nhân.

Mặc dù đến GOLD 2017, đây khơng còn là tiêu chí để phân nhóm bệnh nhân

nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc tiên lượng nguy cơ đợt cấp,

nhập viện và tỷ lệ tử vong.

Tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu đều được đo chức năng hơ hấp,

trong đó nhóm bệnh nhân ACOS có chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) trung bình

là 55,7 ± 10,6 %; chỉ số FEV1 trung bình 53,9 ± 15,9% với 95,5% bệnh nhân

có mức độ tắc nghẽn đường thở từ trung bình đến nặng tức là có thể tích

FEV1 <80% trị số lý thuyết. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của

Suzuki và cộng sự (2015) có chỉ số Gaensler trung bình là 52,1 ± 11,1 % còn

chỉ số FEV1 trung bình 58,1 ± 17,6% so với trị số lý thuyết [41]; Kitaguchi và

cộng sự (2016) đo chức năng hô hấp 31 bệnh nhân ACOS có chỉ số Gaensler

trung bình 55,98 ± 1,66% còn chỉ số FEV1 là 63,4 ± 3,2 % trị số lý thuyết cao

hơn nghiên cứu của chúng tôi [27]. %FEV1 so với trị số lý thuyết trong

nghiên cứu của J.W.Chung và cộng sự (2014) cũng cao hơn nghiên cứu của

chúng tôi với giá trị 69,4 ± 1,5% [45]. Khi so sánh chức năng thơng khí giữa

hai nhóm, bệnh nhân ACOS và COPD khơng có sự khác nhau về các chỉ số

FVC và FEV1, các nghiên cứu của Suzuki , Kitaguchi và Megan Hardin cũng

cho kết quả tương tự [3], [27], [41]. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của

J.W.Chung và cộng sự (2014) cho kết quả chỉ số FEV1 và FVC so với chỉ số



56



lý thuyết trên nhóm ACOS thấp hơn nhóm COPD đơn thuần với mức ý nghĩa

thống kê p < 0,001 [45].

4.1.2.2. Đặc điểm X-quang ngực thẳng

X-quang ngực khơng có giá trị trong chẩn đốn xác định nhưng giúp

chẩn đoán biến chứng và chẩn đoán phân biệt bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

82 bệnh nhân được chụp X-quang ngực có các tổn thương hay gặp là: hình

ảnh phổi bẩn, KLS giãn rộng và biến đổi vòm hồnh. Trong đó, hình ảnh phổi

bẩn phổ biến trên cả hai nhóm COPD và ACOS với tỷ lệ lần lượt là 85,3% à

78,3%. Các hình ảnh tổn thương biểu hiện tình trạng giãn phế nang quá mức

như: KLS giãn rộng, biến đổi vòm hồnh, phế trường hai bên q sáng gặp

nhiều hơn ở nhóm COPD với tỷ lệ: 56,1%, 70,7%, 58,5%. Hình ảnh tim hình

giọt nước cũng gặp thường xuyên hơn ở bệnh nhân COPD đơn thuần với tỷ lệ

46,3%. Điều này cho thấy các bệnh nhân COPD có nhiều tổn thương trên Xquang hơn đặc biệt là các tổn thương khí phế thũng so với bệnh nhân mắc hội

chứng chồng lấp. Kết quả tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy

(2013) với các hình ảnh: khoang liên sườn giãn rộng (53,6%), biến đổi vòm

hồnh 50%, tim hình giọt nước 40,2% [42]. Ngô Quý Châu và cộng sự

(2011) nghiên cứu đặc điểm X-quang ngực trên 115 bệnh nhân COPD cho các

hình ảnh tổn thương: biến dạng cơ hồnh (59,5%), khí phế thũng (58,3%),

hình ảnh phổi bẩn (48,7%), tim hình giọt nước (33%) [23]. Các tỷ lệ này đều

thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tơi có thể do chúng tôi chọn các bệnh

nhân ở giai đoạn muộn nên tổn thương phổi nhiều hơn.

4.1.2.3.Đặc điểm điện tâm đồ

Hình ảnh điện tâm đồ điển hình trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính là hình ảnh dày nhĩ phải và/hoặc dày thất phải biểu hiện tình trạng tâm

phế mạn do mắc bệnh phổi mạn tính nhiều năm. Ngồi ra, điện tâm đồ còn

giúp phát hiện các rối loạn nhịp hay các bệnh lý tim mạch khác kèm theo.

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 81 bệnh nhân được làm điện tâm đồ bao



57



gồm 41 bệnh nhân COPD và 40 bệnh nhân ACOS. Ở nhóm ACOS có 20%

bệnh nhân có hình ảnh dày nhĩ phải và 7,5% bệnh nhân có hình ảnh dày thất

phải, tỷ lệ này trong nhóm COPD lần lượt là 53,7% và 2%. Kết quả này phù

hợp với kết quả X-quang ngực khi biểu hiện tâm phế mạn như: tim hình giọt

nước... gặp nhiều hơn ở bệnh nhân COPD đơn thuần. Trương Thị Tuyết

(2015) ghi điện tâm đồ cho 43 bệnh nhân ACOS có 23,3% bệnh nhân có hình

ảnh P phế tương tự như kết quả trong nghiên cứu của chúng tơi [38]. Nguyễn

Chính Điện (2010) nghiên cứu trên 102 bệnh nhân thì có 28,4% bệnh nhân có

biểu hiện dày nhĩ phải [51], tỷ lệ này trong nghiên cứu của R.L. Agarwal

(2008) tại Ấn Độ là 35,7% [52] thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi do

đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các bệnh nhân ở giai đoạn muộn.

4.1.2.4. Đặc điểm áp lực động mạch phổi trên siêu âm tim

Tăng áp phổi xảy ra chậm trong diễn tiến của bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính. Yếu tố gây nên tăng áp động mạch phổi là do sự co mạch và tái cấu trúc

cơ trơn mạch máu do sự tác động của tình trạng thiếu oxy mạn tính và sự suy

giảm tổng hợp và phóng thích NO cùng với sự tổng hợp của các peptid co

mạch như endothelein. Trong nghiên cứu này, có 57 bệnh nhân được siêu âm

tim bao gồm 31 bệnh nhân COPD và 26 bệnh nhân ACOS. Áp lực động mạch

phổi trung bình ở hai nhóm là 33,4 ± 6,9 (mmHg) và 30,5 ± 4,9 (mmHg). Đa

số các bệnh nhân đều có tăng áp động mạch phổi mức độ nhẹ (90,3% bệnh

nhân COPD và 96,2% bệnh nhân ACOS). Kết quả này phù hợp với nghiên

cứu của Trương Thị Tuyết (2015) trên 43 bệnh nhân ACOS có 82,1% bệnh

nhân có tăng áp động mạch phổi mức độ nhẹ với áp lực trung bình là 30,3 ±

7,9 (mmHg) [38]; nghiên cứu của Robert Naeije (2001) trên 74 bệnh nhân

COPD có áp lực động mạch phổi trung bình là 35 ± 12 (mmHg) [53]. Tăng áp

động mạch phổi ban đầu là cơ chế thích nghi để chọn lọc được những mao

mạch tốt, cải thiện tỷ suất thơng khí/tưới máu. Tuy nhiên, nếu không được can



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mức độ sụt giảm FEV1 trung bình ở nhóm bệnh nhân COPD và ACOS lần lượt là 34,4 ± 146,7 (ml) và 40 ± 177,0 (ml). Mức độ sụt giảm ở hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p=0,891).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×