Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.18: Sự thay đổi IGAS sau 12 tuần điều trị

Bảng 3.18: Sự thay đổi IGAS sau 12 tuần điều trị

Tải bản đầy đủ - 0trang

65



từ 31,3% xuống 21,9%; có 25% đạt mức độ 1 và 15,6% đạt

mức độ 0 sau 12 tuần điều trị.



66



3.6. Đánh giá tác dụng không mong muốn của

thuốc

3.6.1. Tác dụng không mong muốn tại chỗ

Biểu đồ 3.8: Tác dụng không mong muốn tại chỗ xuất hiện

trong quá trình điều trị

Nhận xét: Trong q trình điều trị, có 4 bệnh nhân xuất

hiện cảm giác châm chích tại vùng tổn thương, 3 bệnh nhân

có ngứa, 3 bệnh nhân có vùng tổn thương đỏ lên. Chỉ có 1

bệnh nhân có cảm giác căng tức vùng da tổn thương.



67



3.6.2. Tác dụng không mong muốn tồn thân



Biểu đồ 3.9: Tác dụng khơng mong muốn tồn thân xuất hiện

trong quá trình điều trị

Nhận xét: Trong quá trình điều trị, có 3 bệnh nhân xuất

hiện đau đầu, 2 bệnh nhân có buồn nơn/ nơn, 1 bệnh nhân có

biểu hiện viêm dạ dày và 1 bệnh nhân có tăng sắc tố ở da.



68



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Phân bố về tuổi và thời gian bị bệnh

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tơi tại bảng 3.1 cho

thấy tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu tại thời điểm

đến khám và được chẩn đoán là 41,7 tuổi; lớn nhất là 78 tuổi

và nhỏ nhất là 12 tuổi.

Theo nghiên cứu của J. Tan và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 135

bệnh nhân bị trứng cá đỏ từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2010 ở Đức, tuổi trung

bình của đối tượng nghiên cứu là 52,0 tuổi [48]. Nghiên cứu của You In Bae

và cộng sự tiến hành trên 168 bệnh nhân trứng cá đỏ tại Hàn quốc (2007) cho

kết quả tuổi trung bình tại thời điểm bệnh nhân được chẩn đoán là 47,8 tuổi

[49]. Như vậy, tuổi trung bình của bệnh nhân tại thời điểm đến khám và được

chẩn đoán trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với hai nghiên cứu của

J. Tan và Y.I. Bae.

Thời gian bị bệnh trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 30,7 tháng.

Kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của J. Tan (20,41 ± 13,21 tháng)

nhưng lại thấp hơn so với kết quả của Y.I. Bae (3,5 năm - tương đương với

khoảng 42 tháng).

Sở dĩ có các sự khác biệt kể trên có thể là do đối tượng của các nghiên

cứu có sự khác nhau về chủng tộc, về địa lý, mơi trường và khí hậu. Bên cạnh

đó, một phần có thể là do hạn chế trong cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tơi.

Tuổi khởi phát bệnh trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là

39,1 ± 12,2 tuổi. Kết quả này gần giống với kết quả nghiên cứu mô tả cắt

ngang trên 600 bệnh nhân của James Q. Del Roso và cộng sự năm 2015 (tuổi



69



khởi phát bệnh trung bình là 37,9 tuổi .

Khi đánh giá phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi (theo

bảng 3.2), nghiên cứu của chúng tơi cho thấy rằng, nhóm tuổi

mắc bệnh cao nhất là 40-49 tuổi (38,8%), sau đó là nhóm tuổi

30-39 tuổi (25,4%). Kết quả của chúng tôi thấp hơn so với

nghiên cứu của Y.I. Bea (nhóm tuổi mắc bệnh cao nhất là 50 59 tuổi), điều này cũng phù hợp với kết quả về tuổi trung bình

của bệnh nhân của chúng tơi có sự thấp hơn so với kết quả

của Y.I. Bae. Tuy nhiên khi so sánh với một số nghiên cứu khác

thì kết quả của chúng tơi lại có sự tương đồng như theo một

nghiên cứu tổng quan năm 2014 của Esther J van Zuuren và

cộng sự đánh giá trên 106 nghiên cứu, với 13631 bệnh nhân,

thì tuổi trung bình của bệnh nhân là 48,6 tuổi; và nhóm tuổi

của bệnh hay gặp nhất là 40-50 tuổi [50]. Nghiên cứu của

Kristi ABRAM và cộng sự (năm 2010) cũng chỉ ra rằng nhóm

tuổi thường gặp nhất của bệnh là 40-49 tuổi [51].

Từ các kết quả nghiên cứu nói trên, chúng tơi thấy rằng

bệnh trứng cá đỏ là bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên

nhóm tuổi hay gặp nhất là nhóm 30 - 49 tuổi, là nhóm nằm

trong độ tuổi lao động và có nhiều mối quan hệ giao tiếp xã

hội và như thế bệnh ảnh hưởng đến một mức độ nhất định

đến công việc, hoạt động hàng ngày của người bệnh.

Cũng trong nghiên cứu này, chúng tơi nhận thấy có sự

chênh lệch trong khoảng thời gian bị bệnh (được tính là từ khi

có triệu chứng đầu tiên cho đến thời điểm khám) từ 2 tháng

đến 10 năm, điều này cho thấy rằng trứng cá đỏ là một bệnh

mạn tính có thể tiến triển kéo dài nhiều tháng, nhiều năm.

Trong số những bệnh nhân có thời gian bị bệnh kéo dài, có



70



những bệnh nhân chưa từng khám bệnh ở bất kỳ cơ sở y tế

nào về tình trạng da của mình, và cũng có những bệnh nhân

đã từng thăm khám vài đợt tại các cơ sở y tế nhưng chưa

được quản lý, tư vấn và điều trị thường xuyên. Vì thế đối với

mỗi bệnh nhân, việc tư vấn kỹ về biểu hiện bệnh, mức độ

nặng, tính kéo dài, dai dẳng và hay tái phát đóng vai trò rất

quan trọng, đồng thời nên đưa ra các chiến lược điều trị cụ

thể và quản lý thường xuyên hơn để tránh các tình trạng này.

4.1.2. Phân bố về giới

Trong đặc điểm dịch tễ của bệnh trứng cá đỏ, tỷ lệ mắc

bệnh ở nữ cao hơn nam và tuổi khởi phát bệnh thường từ 30-50

tuổi [7]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả như vậy, tỷ

lệ nữ : nam xấp xỉ 2,3 : 1, với p = 0,001. Kết quả này phù hợp

với đặc điểm dịch tễ học của bệnh và kết quả của một số

nghiên cứu như nghiên cứu của Y.I. Bae (tỷ lệ nữ: nam là

2,29:1); nghiên cứu của Yanyu Wu (2017) (nữ: nam là 2,14: 1)

[49], [52].

4.1.3. Phân bố theo địa dư, nghề nghiệp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mắc bệnh ở 2 vùng

nông thôn và thành thị là tương đương nhau (48% và 52%, p

= 0,807). Như vậy các yếu tố liên quan đến sự khác biệt giữa

2 vùng địa dư này như mơi trường sống khói bụi, ô nhiễm,

mật độ dân cư đông đúc, chế độ sinh hoạt, lối sống,… là

những yếu tố ít ảnh hưởng đến bệnh. Hơn nữa, hiện nay, sự

chênh lệch về kinh tế và hiểu biết về bệnh tật giữa vùng nông

thôn và thành thị đã có sự thay đổi. Bệnh nhân ở vùng nơng

thơn có sự quan tâm nhiều hơn về sức khỏe nên tỷ lệ đi khám



71



và điều trị bệnh cũng có xu hướng tăng lên.

Trong số 67 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tơi,

nhóm bệnh nhân có nghề nghiệp là cán bộ công chức, viên

chức, nhân viên văn phòng chiếm tỷ lệ cao nhất với 28,4%;

sau đó là nhóm cơng nhân (16,4%); nhóm học sinh - sinh viên

chiếm tỷ lệ thấp nhất với 6%, ngồi ra có một số nghề nghiệp

khác như: bn bán, hưu trí,.... cũng gặp với tỷ lệ ít hơn. Điều

này phù hợp với đặc điểm dịch tễ học của bệnh khi đối tượng

học sinh sinh viên đa số là người trẻ tuổi, nên tỷ lệ bị bệnh

chiếm thấp nhất. Nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất là cán bộ cơng

chức, viên chức, văn phòng; đây là nhóm có sự giao tiếp

nhiều trong cơng việc, xã hội nên sử dụng mỹ phẩm trang

điểm nhiều hơn, công việc cũng căng thẳng hơn; các yếu tố

nêu trên được xem là yếu tố gớp phần khởi phát và làm nặng

bệnh trứng cá đỏ. Một phần nữa là do phải giao tiếp nhiều

trong công việc, nên khi bệnh gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ

thì nhóm người này thường chủ động đi khám bệnh sớm hơn.

4.2. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.2.1. Triệu chứng lâm sàng

Hội đồng chuyên gia thuộc Hiệp hội trứng cá đỏ Hoa Kỳ

(2002) đã chia các đặc điểm lâm sàng của bệnh thành 2

nhóm, các triệu chứng nguyên phát bao gồm cơn nóng bừng

mặt/ ban đỏ thoáng qua, ban đỏ dai dẳng, giãn mạch và sẩn

mụn mủ, đây là các triệu chứng chính nằm trong tiêu chuẩn

chẩn đốn của bệnh; và nhóm triệu chứng thứ phát, bao gồm

các triệu chứng như bỏng rát châm chích, mảng đỏ, khơ da,



72



biểu hiện mắt, biểu hiện phì đại,.. [3], [7].

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy triệu chứng nguyên

phát trên lâm sàng thường gặp nhất của bệnh trứng cá đỏ là

ban đỏ dai dẳng (92,5%). Triệu chứng thường gặp khác là cơn

nóng bừng mặt/ ban đỏ thống qua (56,7%); giãn mạch

(64,2%) và sẩn mụn mủ (59,7%). Kết quả này phù hợp với

nhiều nghiên cứu trên thế giới, như theo nghiên cứu của Y.I.

Bae thì ban đỏ dai dẳng cũng là triệu chứng hay gặp nhất

(85,1%); sau đó là ban đỏ thống qua hay cơn nóng bừng

mặt (chiếm 72%); các triệu chứng thường gặp khác là giãn

mạch (61,3%) và sẩn mụn mủ (54,8%) [49].

Triệu chứng thứ phát thường gặp nhất trong nghiên cứu

của chúng tôi là bỏng rát/châm chích (50,7%); và khơ da

(40,3%). Kết quả này cũng gần giống với kết quả của Y.I. Bae

với các triệu chứng thứ phát thường gặp là bỏng rát/ châm

chích (69,6%); khơ da (39,3%). Kết quả trong nghiên cứu của

chúng tôi cho thấy có 14,9% bệnh nhân có biểu hiện mắt;

16,4% có biểu hiện phì đại; và khơng gặp bệnh nhân nào có

biểu hiện ở ngoại vi.

Trong đặc điểm lâm sàng và cũng như trong tiêu chuẩn

chẩn đốn chính của bệnh trứng cá đỏ, các tổn thương và

triệu chứng nguyên phát thường gặp ở các vị trí trung tâm

của mặt như má, mũi, trán, cằm [20]. Trong nghiên cứu của

chúng tôi, má là vị trí xuất hiện tổn thương nguyên phát nhiều

nhất (85,1%); có 68,7% bệnh nhân có tổn thương ở cằm;

40,3% ở mũi và 25,4% ở trán (theo biểu đồ 3.3). Kết quả này

gần tương tự với kết quả nghiên cứu của J. Tan tiến hành ở



73



Đức với 135 bệnh nhân. Nghiên cứu của J. Tan cho thấy có

80% bệnh nhân có tổn thương ở má; 67% ở mũi, 47% ở cằm

và 40% ở trán. Một nghiên cứu khác của Kristi ABRAM (2010)

cho thấy vị trí tổn thương hay gặp nhất là má, và sau đó là

mũi [51].

Vị trí xuất hiện tổn thương ở vùng trung tâm của mặt là

một trong những đặc điểm giúp chẩn đoán phân biệt bệnh

trứng cá đỏ với một số bệnh khác như viêm da quanh miệng,

trứng cá,... Nghiên cứu của Nguyễn Minh Thương trên bệnh

nhân viêm da quanh miệng cho kết quả: vị trí tổn thương ở

quanh miệng chiếm tỷ lệ cao nhất (88,9%); sau đó là cánh

mũi miệng (38,9%) và khơng có tổn thương ở cằm, mũi và

trán [53]. Hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hồng (2008)

trên bệnh nhân trứng cá thông thường thì vị trí hay gặp nhất

là má (98,6%); góc hàm (67,9%) [54].

Khi khai thác tiền sử bệnh của đối tượng nghiên cứu,

chúng tơi thấy rằng có 32,8% bệnh nhân thấy bệnh nặng hơn

vào mùa hè; có 28,4% bệnh nhân thấy bệnh nặng hơn về

mùa đơng và có 29,9% bệnh nhân thấy bệnh của mình khơng

chịu tác động của mùa (theo bảng 3.5). Theo một khảo sát

trên 852 bệnh nhân của Hội trứng cá đỏ quốc gia của Mỹ

(National Rosacea Society) thì có gần 90% bệnh nhân cho

rằng bệnh của họ bị ảnh hưởng bởi mùa trong đó 58% bệnh

nhân thấy các triệu chứng nặng hơn vào mùa hè, 29% người

nặng hơn vào mùa đơng và có 11% bị ảnh hưởng vào mùa

xuân [55]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả mùa hè

là mùa bệnh nhân cảm thấy bệnh nặng lên nhiều nhất giống



74



khảo sát này, tuy nhiên có sự khác nhau về tỷ lệ cũng như

mức độ ảnh hưởng của các mùa khác. Sự khác biệt này xuất

phát từ sự khác nhau về mặt khí hậu, địa lý và chủng tộc của

2 nước vì Mỹ là một nước có khí hậu chủ yếu là ơn đới và đa

chủng tộc (trong đó chủ yếu là người da trắng), trong khi Việt

Nam là nước có khí hậu nhiệt đới và chủ yếu là người da vàng.

4.2.2. Thể lâm sàng

Năm 2004, NRSEC đã phân bệnh trứng cá đỏ thành bốn

thể: thể đỏ da – giãn mạch, thể sẩn mủ, thể phì đại, thể mắt

và một bệnh nhân có thể mắc nhiều thể bệnh cùng một lúc.

Các nghiên cứu trên thế giới khi sử dụng phân loại này hầu

hết đều cho thấy trong 4 thể bệnh nêu trên, thể đỏ da giãn

mạch là thể bệnh hay gặp nhất, đứng thứ 2 là thể sẩn mủ.

Thể phì đại và thể mắt là hai thể gặp với tỷ lệ thấp hơn. Như

theo nghiên cứu của Kristi ABRAM trong 78 bệnh nhân trứng

cá đỏ thì thể đỏ da giãn mạch chiếm 87%, thể sẩn mủ chiếm

22%; và chỉ có 1 bệnh nhân thể mắt và thể phì đại [51]. Theo

nghiên cứu của Y.I. Bea thể đỏ da giãn mạch và thể sẩn mủ

cũng là 2 thể bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất (96,4% và 50,6%)

[49]. Kết quả nghiên cứu trên 67 bệnh nhân của chúng tôi

cũng cho kết quả tương tự với các nghiên cứu trên, trong đó

thể lâm sàng hay gặp nhất thể đỏ da giãn mạch (95,5%); có

59,7% bệnh nhân ở thể sẩn mủ; thể mắt chiếm 14,9%; thể phì

đại chiếm 16,4% bệnh nhân.

Thể phì đại là thể ít gặp trong bệnh trứng cá đỏ. Thể phì đại

đa số gặp ở nam giới và thường xuất hiện sau tuổi 40 [56].

Trong nghiên cứu của chúng tơi thì thể phì đại gặp nhiều hơn ở



75



nam (tỷ lệ mắc thể phì đại ở nam: nữ là 2,7:1 với sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê p < 0,05), và kết quả nghiên cứu của

Y.I.Bae cũng cho kết quả tương tự (tỷ lệ mắc thể phì đại ở nam:

nữ là 3:1) [49].

4.2.3. Đánh giá mức độ nặng của các thể bệnh

Trong 64 bệnh nhân thể đỏ da giãn mạch, số bệnh nhân ở

mức độ nhẹ chiếm phần lớn (62,5%); 32,8% bệnh nhân ở mức

độ trung bình, và chỉ có 4,7% bệnh nhân ở mức độ nặng.

Trong 40 bệnh nhân thể sẩn mủ, có 70% bệnh nhân ở mức độ

trung bình; 17,5% bệnh nhân ở mức độ nhẹ và 12,5% bệnh

nhân ở mức độ nặng. Trong 11 bệnh nhân thể phì đại, có

63,6% bệnh nhân ở mức độ nhẹ và 18,2% bệnh nhân ở mức

độ nặng; 18,2% bệnh nhân ở mức độ trung bình. Trong 10

bệnh nhân thể mắt, có 60% bệnh nhân ở mức độ nhẹ, 20%

bệnh nhân ở mức độ nặng và 20% bệnh nhân ở mức độ trung

bình.

Theo nghiên cứu của Y.I. Bae thì trong thể đỏ da giãn

mạch có 52,4% ở mức độ nhẹ; 45,1% ở mức độ trung bình và

2,5% ở mức độ nặng; đối với thể sẩn mủ thì có 63,6% ở mức

độ nhẹ; 28,2% ở mức độ trung bình, và 8,2% ở mức độ nặng;

100% bệnh nhân ở thể phì đại đều có mức độ bệnh là nhẹ. Và

có 12,5% ở mức độ trung bình và 87,5% ở mức độ nhẹ đối với

thể mắt.

Nghiên cứu của chúng tơi có tỷ lệ mức độ nặng nhẹ trong

mỗi thể bệnh có sự khác với nghiên cứu của Y.I. Bae. Hạn chế

trong cỡ mẫu của chúng tơi có thể là một trong những lý do có

thể lý giải cho sự khác biệt này. Ngồi ra còn có thể do sự khác



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.18: Sự thay đổi IGAS sau 12 tuần điều trị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×