Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.3: Chẩn đoán phân biệt với bệnh trứng cá đỏ [18]

Bảng 1.3: Chẩn đoán phân biệt với bệnh trứng cá đỏ [18]

Tải bản đầy đủ - 0trang

28



- Xét nghiệm miễn dịch đặc

hiệu.

1.10. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị bệnh

trứng cá đỏ

Trứng cá đỏ là bệnh có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm

lý, xã hội của bệnh nhân. Bệnh gây ra tình trạng lo lắng, bối

rối, tự ti và có xu hướng tránh né các hoạt động xã hội. Trong

các nghiên cứu thì điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

trứng cá đỏ thấp hơn và ở nhóm đối tượng này có sự gia tăng

bệnh trầm cảm. Bệnh đặt ra một gánh nặng đáng kể đối với

chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, gánh nặng này không

chỉ từ vấn đề ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà còn do sự khó chịu,

kích thích, châm chích từ các triệu chứng của bệnh [23], [24] .

Có nhiều thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống của

bệnh nhân bị bệnh trứng cá đỏ như DLQI, Skindex – 29,

RosaQoI.



Trong



nghiên



cứu



này



chúng



tôi



sử



dụng



Dermatology Life Quality Index – DLQI. DLQI được hình thành

và sử dụng lần đầu tiên tại nước Anh vào năm 1994 bởi

A.Y.Finlay và G.K.Khan [25], là thang điểm về chất lượng cuộc

sống đầu tiên được dùng và có tính đặc thù cho chuyên ngành

da liễu, dễ sử dụng, có độ tin cậy và độ nhạy cao.. DLQI gồm

10 câu hỏi về triệu chứng bệnh, cảm xúc, hoạt động hàng

ngày, giải trí, công việc, luyện tập, học tập, các mối quan hệ

và về vấn đề điều trị (bảng 1.4). DLQI được dùng phổ biến

trong chuyên ngành da liễu, đánh giá cho hơn 30 tình trạng

bệnh lý về da [25], [26], [27].



29



30



Bảng 1.4: Bộ câu hỏi của DLQI

Câu hỏi



Điể

m



Trong tuần qua, da của anh/chị có bị tình trạng ngứa,

nhức, đau hoặc châm chích nhiều khơng?

2. Trong tuần qua, anh/chị có xấu hổ hay mặc cảm vì

bệnh của mình khơng?

3. Trong tuần qua, bệnh của anh/chị có làm ảnh hưởng

đến việc mua sắm, chăm sóc nhà cửa, vườn tược

khơng?

4. Trong tuần qua, bệnh của anh/chị có làm ảnh hưởng

đến việc lựa chọn quần áo để mặc nhiều khơng?

5. Trong tuần qua, bệnh có ảnh hưởng đến hoạt động xã

hội và giải trí của anh/chị nhiều khơng?

6. Trong tuần qua, bệnh có gây khó khăn trong việc chơi

thể thao khơng?

7. Trong tuần qua, anh/chị có khơng thể học tập/ làm

việc vì bệnh của mình khơng?

- Nếu “Có”: 3 điểm

- Nếu “Khơng”, trong tuần qua, bệnh có gây ra vấn

đề gì trong cơng việc/ học tập khơng? (Nhiều / Một

ít / Khơng)

8. Trong tuần qua, bệnh có gây ra vấn đề gì đến mối

quan hệ với vợ/chồng, người yêu, bạn thân hay họ

hàng của anh/chị không?

9. Trong tuần qua, bệnh có gây ảnh hưởng nhiều đến

đời sống tình dục của anh/chị khơng?

10. Trong tuần qua, việc điều trị bệnh có gây ra khó

khăn nhiều cho anh/ chị khơng? Ví dụ: nhà cửa bề

bộn, mất thời gian,…

Tổng điểm

1.



Trong đó điểm cho từng câu hỏi được đánh giá như sau:

Rất nhiều: 3; Nhiều: 2; Một ít: 1; Khơng/ Không liên quan: 0.

Tổng điểm từ 0 – 30, sau đó dựa vào tổng điểm cuối cùng,

DLQI được chia thành 5 mức độ với 5 mức ảnh hưởng đến

chất lượng cuộc sống khác nhau:



31



Bảng 1.5: Phân nhóm mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống của

BN theo DLQI

Nhó

Mức độ ảnh hưởng

m

0 - 1 Khơng ảnh hưởng

2 - 5 Ảnh hưởng ít

6 - 10 Ảnh hưởng mức độ

trung bình

11 - Ảnh hưởng nhiều

20

21 - Ảnh

hưởng

nghiêm

30

trọng

1.11. Các phương pháp điều trị

Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị được chứng

minh là có hiệu quả đối với bệnh trứng cá đỏ: điều trị bằng bơi

tại chỗ, thuốc uống tồn thân, laser/IPL, phẫu thuật,... Lựa

chọn phương pháp điều trị phù hợp phụ thuộc vào các thể

bệnh và mức độ nặng của từng thể bệnh.

Điều quan trọng đầu tiên trong điều trị bệnh trứng cá đỏ

là tư vấn cho bệnh nhân về tính chất mạn tính, tái phát của

bệnh và cần được điều trị và theo dõi lâu dài. Tránh các yếu tố

khởi phát hoặc làm nặng bệnh như rượu, đồ ăn cay, nóng,

tránh căng thẳng, tia UV, nhiệt độ nóng hoặc lạnh, gió, tập

luyện thể dục, tránh sử dụng các mỹ phẩm, sản phẩm chăm

sóc da có chứa các chất gây kích ứng như toners, methol,

camphor và sodium lauryl sulfate… Có thể sử dụng kem

dưỡng ẩm, kem chống nắng, các chất tẩy rửa không chứa xà

phòng. Các yếu tố khởi phát hoặc làm nặng bệnh là đặc hiệu

với từng cá nhân, và những tác nhân phổ biến không phải tác

động đến tất cả bệnh nhân, vì vậy, việc hỏi bệnh kỹ lưỡng để



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.3: Chẩn đoán phân biệt với bệnh trứng cá đỏ [18]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×