Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.2: Bảnh đánh giá của bác sỹ về mức độ nặng theo thể bệnh [5], [7]

Bảng 1.2: Bảnh đánh giá của bác sỹ về mức độ nặng theo thể bệnh [5], [7]

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thể mắt



21



+ Cảm giác có vật

lạ trong mắt, ban đỏ

và giãn mạch ở bờ

mi, thường có vảy.

Nhiễm trùng kết

mạc; tổn thương

chắp, lẹo tái diễn.

Viêm

giác

mạc,

viêm mống mắt có

thể xảy ra, mặc dù

hiếm.

+ Có thể xảy ra

trước, sau hay đồng

thời tổn thương da.

+

Tổn

thương

thường đối xứng 2

bên.



2



3



Bỏng rát, châm chích của mắt,

có vảy tiết hoặc bờ mi không

đều, với ban đỏ hoặc sẩn phù.

Sung huyết kết mạc, viêm kết

mạc rõ ràng. Hình thành tổn

thương chắp, lẹo.

Đau, nhạy cảm ánh sáng, hoặc

nhìn mờ, sự thay đổi của bờ mi

nặng, kèm theo mất lông mi.

Viêm kết mạc nặng, tổn

thương giác mạc với mất thị

lực, viêm màng bồ đào, viêm

màng cứng của mắt.



*Trong đó: 1: Mức độ nhẹ; 2: Mức độ trung bình; 3: Mức độ

nặng.



Hình 1.5: Trứng cá đỏ thể đỏ da giãn mạch. A: nhẹ; B: trung bình;

C: nặng [20]



Hình 1.6: Trứng cá đỏ thể sẩn mủ. A: nhẹ; B: trung bình; C:

nặng [20]



22



Hình 1.7: Trứng cá đỏ thể phì đại. A: nhẹ; B: trung bình; C:

nặng [20]



Hình 1.8: Trứng cá đỏ thể mắt. A: nhẹ; B: trung bình; C: nặng

[20]

Nói chung, sự đánh giá mức độ nặng của trứng cá đỏ trên

lâm sàng chưa thực sự rõ ràng, phụ thuộc nhiều vào đánh giá

chủ quan của các nhà lâm sàng.

Ngoài cách đánh giá mức độ nặng của bệnh đã nêu ở

trên, còn có một cách đánh giá mức độ nặng khác, trong đó

bệnh trứng cá đỏ được chia làm bốn giai đoạn [21]:

-



Giai đoạn I: còn được gọi là tiền trứng cá đỏ (Pre-rosacea).

Giai đoạn này đặc trưng bởi chứng đỏ mặt thường xun,



đặc biệt ở những người có tiền sử gia đình mắc bệnh trứng cá

đỏ. Chứng mặt đỏ là triệu chứng có thể bắt đầu từ thời thơ ấu,

mặc dù tuổi khởi phát trứng cá đỏ thường gặp từ sau tuổi 30.

Cơn nóng bừng mặt có thể tăng lên hoặc đỏ mặt, có cảm giác



23



châm chích khi sử dụng các sản phẩm chăm sóc da phổ biến

hoặc các liệu pháp điều trị bệnh trứng cá thông thường.

-



Giai đoạn II: là giai đoạn tổn thương mạch.

Trong giai đoạn này, các ban đỏ thoáng qua ở vùng trung



tâm của mặt, cũng như các tổn thương giãn mạch nhẹ đã trở

nên rõ nét hơn.

-



Giai đoạn III:

Các ban đỏ, cơn nóng bừng mặt trở nên sâu và dai dẳng



hơn. Các tổn thương giãn mạch tăng lên, sẩn và mụn mủ bắt

đầu phát triển. Trong suốt giai đoạn này, sự thay đổi ở mắt

như viêm kết mạc, viêm bờ mi có thể phát triển. Sẩn phù có

thể xuất hiện ở khu vực trên rãnh mũi má.

-



Giai đoạn IV:

Tình trạng viêm ở da và mắt tiếp tục xuất hiện và tăng lên.



Tổn thương mắt có thể phát triển đến giác mạc và có thể gây

ảnh hưởng đến thị lực. Nhiều tổn thương ban đỏ có thể được

nhìn thấy ở khu vực cạnh mũi. Bắt đầu có sự tăng sinh mơ sợi

và phì đại tuyến bã ở da, có thể làm phì đại mũi (mũi sư tử).

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi sử dụng phân

loại theo 4 thể bệnh: thể đỏ da giãn mạch, thể sẩn mủ, thể

phì đại và thể mắt.

1.7. Cận lâm sàng

Khơng có xét nghiệm nào đặc hiệu để chẩn đoán xác định

trứng cá đỏ.

Mơ bệnh học có thể giúp trong trường hợp sự phân bố

khơng điển hình ở mặt, cần loại trừ một số bệnh lý khác hoặc

nghi ngờ khi có sự bất thường về tuyến bã.



24



Trong thể đỏ da giãn mạch, mơ bệnh học có hình ảnh

thâm nhiễm viêm một vài bạch cầu lympho và mô bào xung

quanh các mạch máu kèm theo là hiện tượng phù, giãn các

mạch máu và bạch mạch ở trung bì. Đơi khi có thể nhìn thấy

thối hố sợi chun rất nhiều. Các đặc điểm mơ học tương tự

được nhìn thấy trong các thể sẩn mủ nhưng thâm nhiễm viêm

chỉ nhìn thấy ở xung quanh nang lơng và tuyến bã.

Trứng cá đỏ thể phì đại đặc trưng bởi thối hố sợi chun,

xơ hóa, thâm nhiễm viêm ở trung bì, tăng sản và phì đại nang

lơng của tuyến bã. Q trình tái tạo biểu mơ trong lòng ống

(có thể trong vùng cổ nang lơng hoặc tại lòng ống tuyến bã)

làm suy yếu sự tăng sản của mô và xuất hiện nhiều các thành

phần viêm. Trứng của demodex folliculorum có thể được nhìn

thấy ở trong tất cả các thể của trứng cá đỏ ở tại cổ của nang

lông hoặc tại lòng ống của tuyến bã. Trứng có thể nở ln

hoặc có thể lưu trú kéo dài [3], [22].

Xét nghiệm tìm demodex có thể cần thiết trong trường

hợp nghi ngờ, có thể tìm thấy demodex ở nang lơng, khi số

lượng trên 5 con/cm² cần cân nhắc điều trị.

1.8. Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán xác định trứng cá đỏ chủ yếu dựa vào triệu

chứng lâm sàng của bệnh nhân. Không có xét nghiệm cận lâm

sàng nào có thể dùng để khẳng định chẩn đốn. Mơ bệnh học

chỉ có giá trị để loại trừ các bệnh lý khác trong trường hợp

nghi ngờ, khơng có giá trị để khẳng định chẩn đốn.

Chẩn đoán xác định bệnh dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán

của Hội đồng chuyên gia thuộc Hiệp hội trứng cá đỏ Hoa Kỳ



25



(NRSEC) [4], [20].

+ Chẩn đoán xác định bệnh trứng cá đỏ khi:

-



Có ít nhất một triệu chứng ngun phát điển hình ở vùng trung

tâm của mặt gồm: cơn nóng bừng mặt, ban đỏ dai dẳng, sẩn

mụn mủ, có thể kèm giãn mạch.



-



Có thể có một hoặc nhiều hơn các triệu chứng thứ phát sau:

bỏng rát, châm chích, mảng đỏ, khô da, phù nề/ sẩn phù, biểu

hiện ở mắt, các thay đổi phì đại.

+ Chẩn đốn các thể của bệnh trứng cá đỏ:



-



Thể đỏ da giãn mạch (subtype 1): Bệnh nhân có cơn nóng

bừng và/ hoặc ban đỏ dai dẳng ở vùng trung tâm của mặt,

có thể kèm theo giãn mạch.



-



Thể sẩn mủ (subtype 2): Bệnh nhân có tổn thương sẩn, mụn

mủ ở vùng trung tâm của mặt. Khơng có tổn thương

comedon.



-



Thể phì đại (subtype 3): Da dày, bề mặt khơng đều, có cục/

khối sần sùi và phì đại, có thể làm biến dạng vùng tổn

thương, thường gặp ở mũi, cằn, trán, má hoặc tai. Ở các

vùng phì đại có thẩy thấy lỗ chân lông mở rộng và biểu lộ

rõ.



-



Thể mắt (subtype 4): Mắt chảy nước hoặc sung huyết kết

mạc, cảm giác có vật lạ trong mắt, châm chích, bỏng rát,

khơ, ngứa, tăng nhạy cảm ánh sáng, nhìn mờ, giãn mạch ở

kết mạc hoặc mi mắt, ban đỏ ở vùng quanh mắt. Có thể có



26



viêm kết mạc, viêm bờ mi, chắp mắt do viêm mạn tính tuyến

sụn mi.

Một bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều thể bệnh.

1.9. Chẩn đốn phân biệt

Trên lâm sàng, bệnh trứng cá đỏ cần đặt ra chẩn đoán

phân biệt với nhiều bệnh như: trứng cá thông thường, trứng cá

đỏ do corticoid, viêm da dầu, viêm da quanh miệng, viêm da

tiếp xúc, viêm da do ánh sáng, lupus ban đỏ,…



27



Bảng 1.3: Chẩn đoán phân biệt với bệnh trứng cá đỏ [18]

Bệnh



Điểm giống

Điểm khác nhau

nhau

Trứng

cá - Tổn thương - Comedones.

thông

sẩn, mụn mủ, - Khởi phát sớm.

thường

ban đỏ.

- Không bị giới hạn ở phần

trung tâm của mặt.

- Không có giãn mạch hoặc

cơn nóng bừng mặt.

Trứng cá đỏ - Ban đỏ, sẩn, - Có tiền sử bơi corticoid trước

do corticoid mụn mủ, giãn đó.

mạch.

Khơng

Comedone

- Trung tâm của

mặt

Viêm

da - Viêm bờ mi.

- Có vảy da, tổn thương dạng

dầu

- Ban đỏ.

chàm.

- Vị trí: cạnh mũi, rãnh mũi

má, vùng ngồi của mặt.

Viêm

da - Ban đỏ, sẩn.

- Phân bố quanh vùng miệng.

quanh

- Tổn thương nhỏ hơn.

miệng

- Khơng có giãn mạch, cơn

nóng bừng mặt hay cơn đỏ

mặt.

Viêm

da - Ban đỏ, sẩn, - Thường phân bố theo kích

tiếp xúc

mụn mủ.

thước và vị trí tiếp xúc.

Cảm

giác - Bong vảy.

bỏng,

châm - Có hiện tượng xốp bào và á

chích.

sừng trên mơ bệnh học.

Viêm da do - Ban đỏ, sẩn, - Thay đổi theo mùa.

ánh sáng

mụn mủ.

- Thường bị ở vùng ngoài của

mặt.

Lupus ban - Ban đỏ vùng - Phân bố thường gặp là ban

đỏ

mặt.

hình cánh bướm.

- Nhạy cảm ánh sáng.

- Có thể kèm các triệu chứng

khác như đau khớp, rụng tóc,

loét miệng,…



28



- Xét nghiệm miễn dịch đặc

hiệu.

1.10. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị bệnh

trứng cá đỏ

Trứng cá đỏ là bệnh có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm

lý, xã hội của bệnh nhân. Bệnh gây ra tình trạng lo lắng, bối

rối, tự ti và có xu hướng tránh né các hoạt động xã hội. Trong

các nghiên cứu thì điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

trứng cá đỏ thấp hơn và ở nhóm đối tượng này có sự gia tăng

bệnh trầm cảm. Bệnh đặt ra một gánh nặng đáng kể đối với

chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, gánh nặng này không

chỉ từ vấn đề ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà còn do sự khó chịu,

kích thích, châm chích từ các triệu chứng của bệnh [23], [24] .

Có nhiều thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống của

bệnh nhân bị bệnh trứng cá đỏ như DLQI, Skindex – 29,

RosaQoI.



Trong



nghiên



cứu



này



chúng



tôi



sử



dụng



Dermatology Life Quality Index – DLQI. DLQI được hình thành

và sử dụng lần đầu tiên tại nước Anh vào năm 1994 bởi

A.Y.Finlay và G.K.Khan [25], là thang điểm về chất lượng cuộc

sống đầu tiên được dùng và có tính đặc thù cho chuyên ngành

da liễu, dễ sử dụng, có độ tin cậy và độ nhạy cao.. DLQI gồm

10 câu hỏi về triệu chứng bệnh, cảm xúc, hoạt động hàng

ngày, giải trí, cơng việc, luyện tập, học tập, các mối quan hệ

và về vấn đề điều trị (bảng 1.4). DLQI được dùng phổ biến

trong chuyên ngành da liễu, đánh giá cho hơn 30 tình trạng

bệnh lý về da [25], [26], [27].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.2: Bảnh đánh giá của bác sỹ về mức độ nặng theo thể bệnh [5], [7]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×