Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
trước điều trị (n = 32)

trước điều trị (n = 32)

Tải bản đầy đủ - 0trang

62



Biểu đồ 3.5: Sự thay đổi số lượng tổn thương viêm trong 12

tuần điều trị

(n=32)

Nhận xét: Sau 4 – 8 - 12 tuần điều trị, số lượng tổn

thương viêm giảm tương ứng 36%; 55%; 71% ; tương đương

với giảm số lượng tổn thương trung bình là 9,7 ; 14,1; 16,9 tổn

thương. Sự thay đổi này có khác biệt có ý nghĩa thống kê so

với trước khi điều trị (với p < 0,05).



63



Bảng 3.16: Mức độ giảm số lượng tổn thương sau 12 tuần

điều trị (n=32)

Mức độ giảm tổn

thương

Theo %

Theo số lượng trung

bình



Trung bình

(± SD)

70,8 ± 21,7



Thấp

nhất

32,4%



Lớn

nhất

100%



16,9 ± 8,9



7



44



Nhận xét: Sau 12 tuần điều trị, 100% bệnh nhân đều có

đáp ứng, trong đó sự giảm thấp nhất là 32,4% và cao nhất là

100% về số lượng tổn thương.

Bảng 3.17: Các yếu tố ảnh hưởng đến phần trăm giảm tổn

thương viêm sau 12 tuần điều trị (n=32)

Yếu tố ảnh hưởng

IGAS

Giới

Tuổi

Thời gian bị

bệnh



<4

4

Nam

Nữ

< 40

≥ 40

< 12

tháng

≥ 12

tháng



14

18

12

20

13

19



Trung bình %

giảm

(± SD)

89,4 ± 14,0

58,6 ± 11,6

67,4 ± 18,9

72,8 ± 23,4

65,9 ± 21,2

74,1 ± 21,9



11



83,0 ± 19,4



n



p

0,00

0, 49

0,29

0,018



21



64,4 ± 20,3



Nhận xét: Phần trăm giảm tổn thương viêm sau 12 tuần

điều trị có sự khác biệt giữa nhóm bệnh nhân có IGAS là 4 và

nhóm < 4 (p = 0,000); giữa nhóm có thời gian bị bệnh < 12

tháng và từ 12 tháng (p = 0,018). Không có sự khác biệt về

mặt thống kê khi so sánh phần trăm giảm tổn thương viêm



64



giữa 2 giới nam, nữ và giữa 2 độ tuổi từ 40 tuổi và dưới 40

tuổi (p > 0,05).



Biểu đồ 3.6: Sự thay đổi của thang điểm CEAS sau 12 tuần

điều trị

Nhận xét: Sau 4 – 8 -12 tuần điều trị, chỉ số CEAS giảm

tương ứng 24,1%; 32,8%; 37%; tương đương với giảm số

lượng tổn thương trung bình là 1,46; 2,06; 2,34 điểm. Sự

thay đổi này có khác biệt có ý nghĩa thống kê so với trước khi

điều trị (với p < 0,05).

Bảng 3.18: Sự thay đổi IGAS sau 12 tuần điều trị

Điểm giảm IGAS

≥2

<2

Tổng



n

14

18

32



%

43,8

56,2

100



Nhận xét: Sau 12 tuần điều trị, có 56,2% (18/32) bệnh

nhân có IGAS giảm từ 2 điểm trở lên và 43,8% bệnh nhân có

IGAS giảm dưới 2 điểm.

Biểu đồ 3.7: Phân bố của thang điểm IGA tại thời điểm trước

và sau 12 tuần điều trị (n=32)

Nhận xét: Có sự thay đổi về phân bố của thang điểm IGA

sau 12 tuần điều trị. Có sự giảm của IGAS ở mức độ 4 và 3;

đồng thời có sự tăng lên của IGAS ở mức độ 0,1 và 2. Cụ thể:

IGA ở mức độ 4 giảm từ 57,2% xuống 12,5%; mức độ 3 giảm



65



từ 31,3% xuống 21,9%; có 25% đạt mức độ 1 và 15,6% đạt

mức độ 0 sau 12 tuần điều trị.



66



3.6. Đánh giá tác dụng không mong muốn của

thuốc

3.6.1. Tác dụng không mong muốn tại chỗ

Biểu đồ 3.8: Tác dụng không mong muốn tại chỗ xuất hiện

trong quá trình điều trị

Nhận xét: Trong q trình điều trị, có 4 bệnh nhân xuất

hiện cảm giác châm chích tại vùng tổn thương, 3 bệnh nhân

có ngứa, 3 bệnh nhân có vùng tổn thương đỏ lên. Chỉ có 1

bệnh nhân có cảm giác căng tức vùng da tổn thương.



67



3.6.2. Tác dụng khơng mong muốn tồn thân



Biểu đồ 3.9: Tác dụng khơng mong muốn tồn thân xuất hiện

trong quá trình điều trị

Nhận xét: Trong quá trình điều trị, có 3 bệnh nhân xuất

hiện đau đầu, 2 bệnh nhân có buồn nơn/ nơn, 1 bệnh nhân có

biểu hiện viêm dạ dày và 1 bệnh nhân có tăng sắc tố ở da.



68



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Phân bố về tuổi và thời gian bị bệnh

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại bảng 3.1 cho

thấy tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu tại thời điểm

đến khám và được chẩn đoán là 41,7 tuổi; lớn nhất là 78 tuổi

và nhỏ nhất là 12 tuổi.

Theo nghiên cứu của J. Tan và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 135

bệnh nhân bị trứng cá đỏ từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2010 ở Đức, tuổi trung

bình của đối tượng nghiên cứu là 52,0 tuổi [48]. Nghiên cứu của You In Bae

và cộng sự tiến hành trên 168 bệnh nhân trứng cá đỏ tại Hàn quốc (2007) cho

kết quả tuổi trung bình tại thời điểm bệnh nhân được chẩn đoán là 47,8 tuổi

[49]. Như vậy, tuổi trung bình của bệnh nhân tại thời điểm đến khám và được

chẩn đoán trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với hai nghiên cứu của

J. Tan và Y.I. Bae.

Thời gian bị bệnh trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 30,7 tháng.

Kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của J. Tan (20,41 ± 13,21 tháng)

nhưng lại thấp hơn so với kết quả của Y.I. Bae (3,5 năm - tương đương với

khoảng 42 tháng).

Sở dĩ có các sự khác biệt kể trên có thể là do đối tượng của các nghiên

cứu có sự khác nhau về chủng tộc, về địa lý, môi trường và khí hậu. Bên cạnh

đó, một phần có thể là do hạn chế trong cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tơi.

Tuổi khởi phát bệnh trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là

39,1 ± 12,2 tuổi. Kết quả này gần giống với kết quả nghiên cứu mô tả cắt

ngang trên 600 bệnh nhân của James Q. Del Roso và cộng sự năm 2015 (tuổi



69



khởi phát bệnh trung bình là 37,9 tuổi .

Khi đánh giá phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi (theo

bảng 3.2), nghiên cứu của chúng tơi cho thấy rằng, nhóm tuổi

mắc bệnh cao nhất là 40-49 tuổi (38,8%), sau đó là nhóm tuổi

30-39 tuổi (25,4%). Kết quả của chúng tôi thấp hơn so với

nghiên cứu của Y.I. Bea (nhóm tuổi mắc bệnh cao nhất là 50 59 tuổi), điều này cũng phù hợp với kết quả về tuổi trung bình

của bệnh nhân của chúng tơi có sự thấp hơn so với kết quả

của Y.I. Bae. Tuy nhiên khi so sánh với một số nghiên cứu khác

thì kết quả của chúng tơi lại có sự tương đồng như theo một

nghiên cứu tổng quan năm 2014 của Esther J van Zuuren và

cộng sự đánh giá trên 106 nghiên cứu, với 13631 bệnh nhân,

thì tuổi trung bình của bệnh nhân là 48,6 tuổi; và nhóm tuổi

của bệnh hay gặp nhất là 40-50 tuổi [50]. Nghiên cứu của

Kristi ABRAM và cộng sự (năm 2010) cũng chỉ ra rằng nhóm

tuổi thường gặp nhất của bệnh là 40-49 tuổi [51].

Từ các kết quả nghiên cứu nói trên, chúng tơi thấy rằng

bệnh trứng cá đỏ là bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên

nhóm tuổi hay gặp nhất là nhóm 30 - 49 tuổi, là nhóm nằm

trong độ tuổi lao động và có nhiều mối quan hệ giao tiếp xã

hội và như thế bệnh ảnh hưởng đến một mức độ nhất định

đến công việc, hoạt động hàng ngày của người bệnh.

Cũng trong nghiên cứu này, chúng tơi nhận thấy có sự

chênh lệch trong khoảng thời gian bị bệnh (được tính là từ khi

có triệu chứng đầu tiên cho đến thời điểm khám) từ 2 tháng

đến 10 năm, điều này cho thấy rằng trứng cá đỏ là một bệnh

mạn tính có thể tiến triển kéo dài nhiều tháng, nhiều năm.

Trong số những bệnh nhân có thời gian bị bệnh kéo dài, có



70



những bệnh nhân chưa từng khám bệnh ở bất kỳ cơ sở y tế

nào về tình trạng da của mình, và cũng có những bệnh nhân

đã từng thăm khám vài đợt tại các cơ sở y tế nhưng chưa

được quản lý, tư vấn và điều trị thường xuyên. Vì thế đối với

mỗi bệnh nhân, việc tư vấn kỹ về biểu hiện bệnh, mức độ

nặng, tính kéo dài, dai dẳng và hay tái phát đóng vai trò rất

quan trọng, đồng thời nên đưa ra các chiến lược điều trị cụ

thể và quản lý thường xuyên hơn để tránh các tình trạng này.

4.1.2. Phân bố về giới

Trong đặc điểm dịch tễ của bệnh trứng cá đỏ, tỷ lệ mắc

bệnh ở nữ cao hơn nam và tuổi khởi phát bệnh thường từ 30-50

tuổi [7]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả như vậy, tỷ

lệ nữ : nam xấp xỉ 2,3 : 1, với p = 0,001. Kết quả này phù hợp

với đặc điểm dịch tễ học của bệnh và kết quả của một số

nghiên cứu như nghiên cứu của Y.I. Bae (tỷ lệ nữ: nam là

2,29:1); nghiên cứu của Yanyu Wu (2017) (nữ: nam là 2,14: 1)

[49], [52].

4.1.3. Phân bố theo địa dư, nghề nghiệp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mắc bệnh ở 2 vùng

nông thôn và thành thị là tương đương nhau (48% và 52%, p

= 0,807). Như vậy các yếu tố liên quan đến sự khác biệt giữa

2 vùng địa dư này như mơi trường sống khói bụi, ô nhiễm,

mật độ dân cư đông đúc, chế độ sinh hoạt, lối sống,… là

những yếu tố ít ảnh hưởng đến bệnh. Hơn nữa, hiện nay, sự

chênh lệch về kinh tế và hiểu biết về bệnh tật giữa vùng nông

thôn và thành thị đã có sự thay đổi. Bệnh nhân ở vùng nơng

thơn có sự quan tâm nhiều hơn về sức khỏe nên tỷ lệ đi khám



71



và điều trị bệnh cũng có xu hướng tăng lên.

Trong số 67 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tơi,

nhóm bệnh nhân có nghề nghiệp là cán bộ cơng chức, viên

chức, nhân viên văn phòng chiếm tỷ lệ cao nhất với 28,4%;

sau đó là nhóm cơng nhân (16,4%); nhóm học sinh - sinh viên

chiếm tỷ lệ thấp nhất với 6%, ngồi ra có một số nghề nghiệp

khác như: bn bán, hưu trí,.... cũng gặp với tỷ lệ ít hơn. Điều

này phù hợp với đặc điểm dịch tễ học của bệnh khi đối tượng

học sinh sinh viên đa số là người trẻ tuổi, nên tỷ lệ bị bệnh

chiếm thấp nhất. Nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất là cán bộ cơng

chức, viên chức, văn phòng; đây là nhóm có sự giao tiếp

nhiều trong cơng việc, xã hội nên sử dụng mỹ phẩm trang

điểm nhiều hơn, công việc cũng căng thẳng hơn; các yếu tố

nêu trên được xem là yếu tố gớp phần khởi phát và làm nặng

bệnh trứng cá đỏ. Một phần nữa là do phải giao tiếp nhiều

trong công việc, nên khi bệnh gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ

thì nhóm người này thường chủ động đi khám bệnh sớm hơn.

4.2. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.2.1. Triệu chứng lâm sàng

Hội đồng chuyên gia thuộc Hiệp hội trứng cá đỏ Hoa Kỳ

(2002) đã chia các đặc điểm lâm sàng của bệnh thành 2

nhóm, các triệu chứng nguyên phát bao gồm cơn nóng bừng

mặt/ ban đỏ thoáng qua, ban đỏ dai dẳng, giãn mạch và sẩn

mụn mủ, đây là các triệu chứng chính nằm trong tiêu chuẩn

chẩn đốn của bệnh; và nhóm triệu chứng thứ phát, bao gồm

các triệu chứng như bỏng rát châm chích, mảng đỏ, khơ da,



72



biểu hiện mắt, biểu hiện phì đại,.. [3], [7].

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy triệu chứng nguyên

phát trên lâm sàng thường gặp nhất của bệnh trứng cá đỏ là

ban đỏ dai dẳng (92,5%). Triệu chứng thường gặp khác là cơn

nóng bừng mặt/ ban đỏ thống qua (56,7%); giãn mạch

(64,2%) và sẩn mụn mủ (59,7%). Kết quả này phù hợp với

nhiều nghiên cứu trên thế giới, như theo nghiên cứu của Y.I.

Bae thì ban đỏ dai dẳng cũng là triệu chứng hay gặp nhất

(85,1%); sau đó là ban đỏ thống qua hay cơn nóng bừng

mặt (chiếm 72%); các triệu chứng thường gặp khác là giãn

mạch (61,3%) và sẩn mụn mủ (54,8%) [49].

Triệu chứng thứ phát thường gặp nhất trong nghiên cứu

của chúng tơi là bỏng rát/châm chích (50,7%); và khô da

(40,3%). Kết quả này cũng gần giống với kết quả của Y.I. Bae

với các triệu chứng thứ phát thường gặp là bỏng rát/ châm

chích (69,6%); khơ da (39,3%). Kết quả trong nghiên cứu của

chúng tôi cho thấy có 14,9% bệnh nhân có biểu hiện mắt;

16,4% có biểu hiện phì đại; và khơng gặp bệnh nhân nào có

biểu hiện ở ngoại vi.

Trong đặc điểm lâm sàng và cũng như trong tiêu chuẩn

chẩn đốn chính của bệnh trứng cá đỏ, các tổn thương và

triệu chứng nguyên phát thường gặp ở các vị trí trung tâm

của mặt như má, mũi, trán, cằm [20]. Trong nghiên cứu của

chúng tôi, má là vị trí xuất hiện tổn thương nguyên phát nhiều

nhất (85,1%); có 68,7% bệnh nhân có tổn thương ở cằm;

40,3% ở mũi và 25,4% ở trán (theo biểu đồ 3.3). Kết quả này

gần tương tự với kết quả nghiên cứu của J. Tan tiến hành ở



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

trước điều trị (n = 32)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×