Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trên lâm sàng, bệnh trứng cá đỏ cần đặt ra chẩn đoán phân biệt với nhiều bệnh như: trứng cá thông thường, trứng cá đỏ do corticoid, viêm da dầu, viêm da quanh miệng, viêm da tiếp xúc, viêm da do ánh sáng, lupus ban đỏ,…

Trên lâm sàng, bệnh trứng cá đỏ cần đặt ra chẩn đoán phân biệt với nhiều bệnh như: trứng cá thông thường, trứng cá đỏ do corticoid, viêm da dầu, viêm da quanh miệng, viêm da tiếp xúc, viêm da do ánh sáng, lupus ban đỏ,…

Tải bản đầy đủ - 0trang

27



Bảng 1.3: Chẩn đoán phân biệt với bệnh trứng cá đỏ [18]

Bệnh



Điểm giống

Điểm khác nhau

nhau

Trứng

cá - Tổn thương - Comedones.

thông

sẩn, mụn mủ, - Khởi phát sớm.

thường

ban đỏ.

- Không bị giới hạn ở phần

trung tâm của mặt.

- Khơng có giãn mạch hoặc

cơn nóng bừng mặt.

Trứng cá đỏ - Ban đỏ, sẩn, - Có tiền sử bơi corticoid trước

do corticoid mụn mủ, giãn đó.

mạch.

Khơng

Comedone

- Trung tâm của

mặt

Viêm

da - Viêm bờ mi.

- Có vảy da, tổn thương dạng

dầu

- Ban đỏ.

chàm.

- Vị trí: cạnh mũi, rãnh mũi

má, vùng ngoài của mặt.

Viêm

da - Ban đỏ, sẩn.

- Phân bố quanh vùng miệng.

quanh

- Tổn thương nhỏ hơn.

miệng

- Khơng có giãn mạch, cơn

nóng bừng mặt hay cơn đỏ

mặt.

Viêm

da - Ban đỏ, sẩn, - Thường phân bố theo kích

tiếp xúc

mụn mủ.

thước và vị trí tiếp xúc.

Cảm

giác - Bong vảy.

bỏng,

châm - Có hiện tượng xốp bào và á

chích.

sừng trên mơ bệnh học.

Viêm da do - Ban đỏ, sẩn, - Thay đổi theo mùa.

ánh sáng

mụn mủ.

- Thường bị ở vùng ngoài của

mặt.

Lupus ban - Ban đỏ vùng - Phân bố thường gặp là ban

đỏ

mặt.

hình cánh bướm.

- Nhạy cảm ánh sáng.

- Có thể kèm các triệu chứng

khác như đau khớp, rụng tóc,

loét miệng,…



28



- Xét nghiệm miễn dịch đặc

hiệu.

1.10. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị bệnh

trứng cá đỏ

Trứng cá đỏ là bệnh có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm

lý, xã hội của bệnh nhân. Bệnh gây ra tình trạng lo lắng, bối

rối, tự ti và có xu hướng tránh né các hoạt động xã hội. Trong

các nghiên cứu thì điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

trứng cá đỏ thấp hơn và ở nhóm đối tượng này có sự gia tăng

bệnh trầm cảm. Bệnh đặt ra một gánh nặng đáng kể đối với

chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, gánh nặng này không

chỉ từ vấn đề ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà còn do sự khó chịu,

kích thích, châm chích từ các triệu chứng của bệnh [23], [24] .

Có nhiều thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống của

bệnh nhân bị bệnh trứng cá đỏ như DLQI, Skindex – 29,

RosaQoI.



Trong



nghiên



cứu



này



chúng



tôi



sử



dụng



Dermatology Life Quality Index – DLQI. DLQI được hình thành

và sử dụng lần đầu tiên tại nước Anh vào năm 1994 bởi

A.Y.Finlay và G.K.Khan [25], là thang điểm về chất lượng cuộc

sống đầu tiên được dùng và có tính đặc thù cho chuyên ngành

da liễu, dễ sử dụng, có độ tin cậy và độ nhạy cao.. DLQI gồm

10 câu hỏi về triệu chứng bệnh, cảm xúc, hoạt động hàng

ngày, giải trí, công việc, luyện tập, học tập, các mối quan hệ

và về vấn đề điều trị (bảng 1.4). DLQI được dùng phổ biến

trong chuyên ngành da liễu, đánh giá cho hơn 30 tình trạng

bệnh lý về da [25], [26], [27].



29



30



Bảng 1.4: Bộ câu hỏi của DLQI

Câu hỏi



Điể

m



Trong tuần qua, da của anh/chị có bị tình trạng ngứa,

nhức, đau hoặc châm chích nhiều khơng?

2. Trong tuần qua, anh/chị có xấu hổ hay mặc cảm vì

bệnh của mình khơng?

3. Trong tuần qua, bệnh của anh/chị có làm ảnh hưởng

đến việc mua sắm, chăm sóc nhà cửa, vườn tược

khơng?

4. Trong tuần qua, bệnh của anh/chị có làm ảnh hưởng

đến việc lựa chọn quần áo để mặc nhiều khơng?

5. Trong tuần qua, bệnh có ảnh hưởng đến hoạt động xã

hội và giải trí của anh/chị nhiều khơng?

6. Trong tuần qua, bệnh có gây khó khăn trong việc chơi

thể thao khơng?

7. Trong tuần qua, anh/chị có khơng thể học tập/ làm

việc vì bệnh của mình khơng?

- Nếu “Có”: 3 điểm

- Nếu “Khơng”, trong tuần qua, bệnh có gây ra vấn

đề gì trong cơng việc/ học tập khơng? (Nhiều / Một

ít / Khơng)

8. Trong tuần qua, bệnh có gây ra vấn đề gì đến mối

quan hệ với vợ/chồng, người yêu, bạn thân hay họ

hàng của anh/chị không?

9. Trong tuần qua, bệnh có gây ảnh hưởng nhiều đến

đời sống tình dục của anh/chị khơng?

10. Trong tuần qua, việc điều trị bệnh có gây ra khó

khăn nhiều cho anh/ chị khơng? Ví dụ: nhà cửa bề

bộn, mất thời gian,…

Tổng điểm

1.



Trong đó điểm cho từng câu hỏi được đánh giá như sau:

Rất nhiều: 3; Nhiều: 2; Một ít: 1; Khơng/ Không liên quan: 0.

Tổng điểm từ 0 – 30, sau đó dựa vào tổng điểm cuối cùng,

DLQI được chia thành 5 mức độ với 5 mức ảnh hưởng đến

chất lượng cuộc sống khác nhau:



31



Bảng 1.5: Phân nhóm mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống của

BN theo DLQI

Nhó

Mức độ ảnh hưởng

m

0 - 1 Khơng ảnh hưởng

2 - 5 Ảnh hưởng ít

6 - 10 Ảnh hưởng mức độ

trung bình

11 - Ảnh hưởng nhiều

20

21 - Ảnh

hưởng

nghiêm

30

trọng

1.11. Các phương pháp điều trị

Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị được chứng

minh là có hiệu quả đối với bệnh trứng cá đỏ: điều trị bằng bơi

tại chỗ, thuốc uống tồn thân, laser/IPL, phẫu thuật,... Lựa

chọn phương pháp điều trị phù hợp phụ thuộc vào các thể

bệnh và mức độ nặng của từng thể bệnh.

Điều quan trọng đầu tiên trong điều trị bệnh trứng cá đỏ

là tư vấn cho bệnh nhân về tính chất mạn tính, tái phát của

bệnh và cần được điều trị và theo dõi lâu dài. Tránh các yếu tố

khởi phát hoặc làm nặng bệnh như rượu, đồ ăn cay, nóng,

tránh căng thẳng, tia UV, nhiệt độ nóng hoặc lạnh, gió, tập

luyện thể dục, tránh sử dụng các mỹ phẩm, sản phẩm chăm

sóc da có chứa các chất gây kích ứng như toners, methol,

camphor và sodium lauryl sulfate… Có thể sử dụng kem

dưỡng ẩm, kem chống nắng, các chất tẩy rửa không chứa xà

phòng. Các yếu tố khởi phát hoặc làm nặng bệnh là đặc hiệu

với từng cá nhân, và những tác nhân phổ biến không phải tác

động đến tất cả bệnh nhân, vì vậy, việc hỏi bệnh kỹ lưỡng để



32



khai thác được các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong

việc tư vấn cho bệnh nhân [3], [28].

Việc tránh nắng và sử dụng kem chống nắng là quan

trọng. Tuy nhiên, một số sản phẩm chống nắng có chứa các

chất gây kích ứng có thể là yếu tố khởi phát bệnh, làm tăng

tình trạng ban đỏ. Kẽm oxyd và titanium dioxide dung nạp tốt

ở đa số bệnh nhân.

1.11.1. Điều trị tại chỗ

Các thuốc điều trị tại chỗ đã được FDA công nhận trong

điều trị trứng cá đỏ là azelaic acid gel 15%, metronidazol 1%

(dạng kem, gel và lotion), sodium sulfacetamide 10% với lưu

huỳnh 5% [18]. Sử dụng các thuốc này một lần/ ngày được

chứng minh là làm giảm tổn thương sẩn viêm và mụn mủ và

giảm ban đỏ. Các thuốc này có thể cân nhắc sử dụng hai lần/

ngày hoặc phối hợp phương pháp khác nếu điều trị đơn độc

khơng có hiệu quả. Metronidazol và azelaic acid được khuyến

cáo ở mức độ B khi dùng cho phụ nữ có thai, trong khi đó

sodium sulfacetamide và lưu huỳnh là mức độ C [3].

Một số các thuốc tại chỗ khác như benzoyl peroxide,

clindamycin, erythromycin, ức chế kênh calcineurin (tacrolimus,

pimecrolimus), ivermectin và retinoid, brimonidine tartrate

gel,… cũng đã được chứng minh có hiệu quả ở một số nghiên

cứu, tuy nhiên các thuốc này chưa được FDA công nhận trong

điều trị bệnh trứng cá đỏ.

1.11.2. Điều trị đường uống

Sử dụng thuốc tại chỗ nhìn chung được ưa thích hơn so

với các thuốc đường uống, đặc biệt là cân nhắc hậu quả đến



33



sự kháng kháng sinh và các nguy cơ liên quan đến việc sử

dụng lâu dài các kháng sinh đường uống. Hơn nữa, ánh nắng

mặt trời là một trong những yếu tố khởi phát và làm nặng

bệnh đã được chứng minh, nên sử dụng các thuốc nhạy cảm

ánh sáng ở những đối tượng này cần phải thận trọng. Các

kháng sinh đường uống được sử dụng ngắn ngày để đạt được

kiểm soát nhanh các triệu chứng, và nên điều trị duy trì lâu

dài bằng các thuốc tại chỗ để làm giảm được tỷ lệ tái phát

của bệnh.

Hiện nay, trong các thuốc điều trị tồn thân chỉ có duy

nhất doxycyclin USP 40mg (chứa 30 mg giải phóng nhanh và

10mg giải phóng chậm) được FDA cơng nhận để điều trị trứng

cá đỏ [29].

Với cơn nóng bừng hoặc ban đỏ mức độ trung bình đến

nặng, việc sử dụng thuốc uống ngắn ngày (2-4 tháng) với

nhóm cyclin hoặc isotretinoin có thể có hiệu quả kiểm sốt

bệnh ban đầu. Tetracyclines làm giảm nhanh hơn các tổn

thương sẩn đỏ, mụn mủ và ban đỏ khi so sánh với isotretinoin,

và kể từ những năm 1950, trứng cá đỏ đã được sử dụng điều

trị duy trì bằng nhóm tetracycline (với cả liều kháng khuẩn và

liều dưới kháng khuẩn). Tỷ lệ tái phát khoảng ¼ sau khi

ngừng tetracycline 1 tháng, và hơn ½ tái phát sau 6 tháng kể

từ khi ngừng điều trị. Vì vậy, điều trị duy trì bằng thuốc bơi

được bổ sung vào chiến lược điều trị. Nhóm cyclin đường uống

khơng dùng cho phụ nữ có thai, chuẩn bị có thai và đang cho

con bú [3].

Isotretinoin đường uống cũng là một trong những chỉ



34



định đối với trứng cá đỏ thể nặng. Isotretinoin không chỉ làm

giảm kích thước tuyến bã, làm giảm sản xuất chất bã nhờn và

còn có tác dụng chống viêm, miễn dịch và chống lại sự tăng

sinh của tổ chức [30]. Ở một nghiên cứu nhỏ, người ta nhận

thấy khi sử dụng isotretinoin (30mg × 2 lần/ ngày trong 10

tuần) để điều trị làm giảm có ý nghĩa lưu lượng dòng chảy của

mạch máu ở da mặt (đo bằng máy laser – Doppler), trong khi

đó sử dụng tetracycline (250mg 2 lần/ ngày trong 10 tuần) thì

khơng có sự khác biệt. Liều thấp isotretinoin (10-40mg/ ngày

hoặc ít hơn 0,5mg/kg/ngày) cũng đạt được hiệu quả và dung

nạp tốt hơn ở bệnh nhân trứng cá đỏ. Vì isotretinoin đi qua

rau thai nên cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ trong lứa

tuổi sinh đẻ.

Các thuốc khác sử dụng để điều trị trứng cá đỏ bao gồm:

nhóm macrolide, metronidazol, tác nhân kháng androgenic

(thuốc tránh thai, spironolactone, và cyproterone acetate),

chẹn β giao cảm, cloidine, naloxone, và các chất ức chế tái hấp

thu serotonin chọn lọc. Ở bệnh nhân có tiền sử trứng cá hoặc

overlap giữa trứng cá thông thường và trứng cá đỏ,

spironolacton liều thấp (25-50 mg/ ngày) và/hoặc thuốc tránh

thai tỏ ra có hiệu quả.

Khi xét nghiệm thấy demodex với số lượng lớn, hoặc ở

những trường hợp kháng trị với nhóm cyclin, có thể sử dụng

ivermectin thêm vào hoặc sử dụng đơn độc với liều 0,2

mg/kg/lần; lặp lại hàng tuần hoặc hàng tháng đến khi kiểm

soát được triệu chứng [3].

1.11.3. Điều trị bằng laser hoặc IPL

Laser mạch máu và Intense pulsed light (IPL) có thể được



35



sử dụng hỗ trợ với điều trị tại chỗ và đường uống để kiểm soát

triệu chứng nhanh hơn và triệt để hơn. Phương pháp này có

thể loại bỏ được các tổn thương giãn mạch, làm giảm hoặc

loại bỏ được tổn thương ban đỏ, giảm số lượng sẩn, mụn mủ

và kéo dài thời gian tái phát [24]. Nhược điểm của phương

pháp này là chi phí điều trị đắt, có các tác dụng phụ như: ban

đỏ thoáng qua, sưng nề, xuất huyết, bọng nước, bỏng rát và

có thể có hiện tượng bong vảy.

Laser (đặc biệt là PDL) và IPL có hiệu quả chủ yếu trong

điều trị làm giảm giãn mạch và ban đỏ trong bệnh trứng cá đỏ

[3], [31].

1.11.4. Điều trị một số thể đặc biệt





Điều trị thể phì đại:



Uống isotretinoin đơn độc hiệu quả trong trường hợp thay

đổi vùng tuyến bã nhẹ hoặc trung bình. Phì đại thể nặng có

thể sử dụng phẫu thuật, laser Co2 để đảm báo tính thẩm mỹ

cho bệnh nhân [24], [32].





Điều trị thể mắt:



Với viêm bờ mi thể nhẹ có thể điều trị tại chỗ bằng các

dung dịch rửa nhẹ hoặc natri sulfacetamide/lưu huỳnh, dùng

một



hoặc



hai



lần/ngày.



Thuốc



mỡ



tra



mắt



sodium



sulfacetamide 10% cũng có hiệu quả. Một số nghiên cứu mới

đây sử dụng Cyclosporin A tại chỗ cũng cho hiệu quả tốt đối

với điều trị trứng cá đỏ thể mắt [33]. Khi điều trị tại chỗ đáp

ứng kém, sử dụng nhóm cyclin uống thường có hiệu quả [34].

1.12. Điều trị bệnh trứng cá đỏ bằng phối hợp

Doxycyclin uống và Metronidazol bôi

1.12.1. Metronidazol tại chỗ



36



Pye và Burton là những tác giả đầu tiên đã mô tả sử

dụng thành công metronidazol đường uống để điều trị trứng

cá đỏ [35]. Nielsen đã chứng minh hiệu quả của metronidazol

tại chỗ để điều trị trứng cá đỏ trong những năm 1980 và

thuốc đã được FDA công nhận trong điều trị trứng cá đỏ năm

1988 [36]. Về sau có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra hiệu quả điều

trị bệnh trứng cá đỏ bằng metronidazol tại chỗ.

Cơ chế hoạt động của metronidazol trong trứng cá đỏ

chưa được làm rõ. Hiệu quả của kháng sinh



phổ rộng này



được cho là do tính kháng khuẩn và chống viêm của nó. Trong

nghiên cứu in vitro đã chỉ ra rằng metronidazol làm giảm sự

giải phóng các phân tử oxygen hoạt hóa – chất gây tổn

thương mô tại vùng bị viêm từ bạch cầu đa nhân trung tính.

Hoạt tính chống oxy hóa này có thể là cơ sở tác dụng chống

viêm trong bệnh trứng cá đỏ [10].

Hai công thức được sử dụng rộng rãi là metronidazol

0,75% và 1%. Dahl và cộng sự (2001) đã tiến hành nghiên

cứu đa trung tâm so sánh giữa hai nhóm điều trị bằng kem

metronidazol 0,75% và 1% sử dụng tại chỗ một lần/ngày, tiến

hành trên 72 bệnh nhân trứng cá đỏ mức độ trung bình và

nặng. Kết quả cho thấy khơng có sự khác biệt giữa hai nhóm

sau 12 tuần điều trị về sự giảm số lượng tổn thương, ban đỏ,

mức độ nặng của bệnh theo đánh giá của bác sỹ, mức độ khơ

da và độ an tồn khi sử dụng thuốc [37]. Nghiên cứu này cũng

chỉ ra rằng metronidazol tại chỗ dung nạp tốt, tác dụng phụ

thường gặp là bề mặt da khô và bong vảy (chiếm 25-28%),

viêm da tiếp xúc, nặng hơn tình trạng trứng cá đỏ (6-14%).



37



Tuy nhiên, các tác dụng phụ này giảm đi sau khi giảm lượng

thuốc bôi.

Nghiên cứu của Joseph L. Jorizzo và cộng sự (1998) tiến

hành trên 277 bệnh nhân trứng cá đỏ, chia thành bốn

nhóm điều trị: sử dụng metronidazol 1% bơi một lần/ ngày;

metronidazol 1% bơi hai lần/ ngày; nhóm giả dược bơi một

lần/ ngày, và nhóm giả dược bơi hai lần/ ngày. Kết quả cho

thấy việc sử dụng metronidazol 1% bôi tại chỗ có hiệu quả

làm giảm nhanh tổn thương sẩn, mụn mủ và ban đỏ hơn so

với nhóm được dùng giả dược (sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê). Và khi so sánh giữa hai nhóm dùng metronidazol 1% bơi

tại chỗ một lần/ngày và hai lần/ngày có tác dụng làm giảm

triệu chứng sẩn, mụn mủ khơng có sự khác biệt [38]. Sự

thuyên giảm của các tổn thương viêm có thể xảy ra sau ít

nhất 2 - 4 tuần điều trị, nhưng để đạt được hiệu quả tối đa

thường xảy ra sau 8 - 9 tuần điều trị. Sự tái phát có thể xảy ra

sau khi ngừng điều trị, vì vậy điều trị duy trì sau đó cũng đóng

vai trò quan trọng [39].

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, mù đôi, đa trung tâm

của Karl Beutner và cộng sự (2005) đã so sánh điều trị trứng

cá đỏ bằng metronidazol 1% dạng kem, metronidazol 1%

dạng gel và giả dược. Kết quả cho thấy, sau 10 tuần điều trị,

số lượng tổn thương viêm giảm 66,7% ở nhóm sử dụng dạng

gel; 58,3% ở nhóm sử dụng dạng kem và 46,2% ở nhóm giả

dược (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,0001). Và sự

khác biệt này bắt đầu có ở tuần thứ 4 và tiếp tục đến khi kết



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trên lâm sàng, bệnh trứng cá đỏ cần đặt ra chẩn đoán phân biệt với nhiều bệnh như: trứng cá thông thường, trứng cá đỏ do corticoid, viêm da dầu, viêm da quanh miệng, viêm da tiếp xúc, viêm da do ánh sáng, lupus ban đỏ,…

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×