Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: NHẬN DẠNG CÁC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC DOANH NGHIỆP THỰC PHẨM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

CHƯƠNG II: NHẬN DẠNG CÁC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC DOANH NGHIỆP THỰC PHẨM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động: Châu Á Thái Bình Dương vẫn là khu vực năng động nhất về kinh tế và là

động lực chính cho tăng trưởng tồn cầu trong gần một thập niên

sau cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu năm 2008. Trong các năm

qua, dù vẫn phải đối mặt với hàng loạt thách thức tồn cầu nhằm

duy trì đà tăng trưởng, nhưng khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn

đi đầu về hội nhập, lãnh đạo các nền kinh tế khu vực đã nỗ lực thúc

đẩy liên kết kinh tế và tự do hóa thương mại. Theo báo cáo của Ủy

ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Liên

hợp quốc (ESCAP), GDP trung bình của các nền kinh tế đang phát

triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương tăng 5,4% trong năm 2017,

chủ yếu là do tiêu dùng trong nước. Ngân hàng Phát triển châu Á

(ADB) thống kê mức tăng trưởng kinh tế của châu Á 6% trong năm

2017, nhờ tăng trưởng xuất khẩu và tiêu thụ nhiên liệu nội địa cao

hơn so với dự kiến. Triển vọng tăng trưởng tại Trung Quốc, nền kinh

tế lớn thứ hai trên thế giới, được điều chỉnh tăng nhờ giữ vững mức

tiêu dùng. Nam Á vẫn là khu vực phát triển nhanh nhất ở khu vực

châu Á - Thái Bình Dương (6,5%). Tăng trưởng của khu vực Đông

Nam Á được hưởng lợi từ các hoạt động đầu tư và xuất khẩu mạnh

mẽ hơn, với mức tăng trưởng cao hơn cho Brunei, Malaysia,

Philippines, Singapore và Thái Lan. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng tiếp tục

đóng vai trò quan trọng ở Indonesia, Philippines và Thái Lan. Nhu

cầu nội địa mạnh mẽ, đặc biệt là tiêu dùng cá nhân và đầu tư, sẽ

tiếp tục hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng ở tiểu vùng.

Kinh tế EU đang dần phục hồi: Năm 2017 là năm khá bất ngờ và

thuận lợi đối với các nền kinh tế EU bất chấp những bất ổn chính trị

tại khu vực. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết, sự phục hồi của châu

Âu rất mạnh, sự phục hồi này đã lan ra khắp thế giới, làm cho khu

vực này trở thành “động cơ” của tăng trưởng kinh tế và thương mại

toàn cầu. Diễn biến trên thị trường lao động tốt hơn, cũng như các

điều kiện tài chính thuận lợi hơn đã làm tăng nhu cầu trong nước.

Trong thời gian tới, lĩnh vực tiêu dùng sẽ giúp tạo thêm việc làm, là

nhân tố chính thúc đẩy sự hồi phục kinh tế. Thu nhập của người dân

sẽ bắt đầu đi lên trong điều kiện số lượng người có việc làm tăng lên,

đi cùng với sự tăng nhẹ của giá cả. Tại một số nước, mơi trường đầu

tư nhờ các chính sách kinh tế được cải thiện một phần. Đáng chú ý,

tại Pháp, dự luật cải cách thuế để kích thích đầu tư đã được thơng

qua và có hiệu lực vào năm 2018. Tại Hà Lan, liên minh chính phủ

mới cũng đang lên kế hoạch cho các biện pháp tăng cường đầu tư.

Sự phục hồi của kinh tế thế giới đã hỗ trợ hoạt động xuất khẩu, mặc

dù đồng euro mạnh lên so với những đồng tiền khác và nhu cầu

hàng hóa, dịch vụ từ châu Âu giảm. Sự hưởng lợi từ kinh tế thậm chí

còn lớn hơn bên ngồi khu vực đồng euro. Ba nền kinh tế lớn nhất

của Đông Âu đã vượt qua cả tốc độ tăng trưởng của Đức trong vài

10



năm qua. Ba Lan, Rumani và Cộng hòa Séc đang trải qua giai đoạn

tăng trưởng kinh tế cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp và lạm phát nằm

trong tầm kiểm soát.

Đặc biệt, Mỹ và Châu Âu là 2 khu vực thương mại chính của Việt

Nam, kinh tế dần phục hồi cũng là nhân tố hỗ trợ tăng trưởng

GDP của Việt Nam. Từ đó, tạo cơ hội phát triển cho các doanh

nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp thực phẩm Việt

Nam nói riêng.

GDP tăng thì nhu cầu sử dụng hàng thực phẩm tăng lên, sẽ thu hút

nhiều vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI và vốn đầu tư gián tiếp

FII. Khi có nhiều nhà đầu tư nước ngồi tham gia, sẽ giúp cải thiện

tính hiệu quả và sự minh bạch của thị trường, kéo theo sự năng động

và làm thị trường phát triển. Hơn nữa, khi tốc độ tăng GDP tăng, khả

năng cao sẽ giúp tăng số lượng doanh nghiệp nói chung và doanh

nghiệp thực phẩm nói riêng, tạo cơng ăn việc làm cho nền kinh tế.

Hoạt động M&A trong ngành thực phẩm - đồ uống cũng diễn ra rất

sôi động trong thời gian qua, cả về số lượng và chất lượng, tạo nên

những "ông lớn" của ngành thực phẩm - đồ uống, điển hình như

Masan, Thành Thành Cơng, Kido, Pan Group… Các tên tuổi lớn trong

ngành FMCG đến từ Thái Lan, Hàn Quốc với lợi thế về tài chính, kinh

nghiệm và cơng nghệ cũng tích cực đầu tư vào Việt Nam. Theo

nghiên cứu của BMI, cơ hội đầu tư cho ngành chế biến thực phẩm

của Việt Nam vẫn còn khá lớn, đặc biệt trong ngành đồ uống, thực

phẩm chế biến và sữa.

-Hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở rộng thị trường xuất nhập

khẩu; tạo điều kiện tiếp thu khoa học, công nghệ tiên tiến;

mở rộng giao lưu guồn lực đối với các doanh nghiệp

Nội dung của hội nhập là mở rộng thị trường cho nhau, vì vậy khi

Việt

nam

gia

nhập

các tổ chức quốc tế sẽ mở rộng quan hệ bạn hàng. Cùng với việc

được hưởng nhiều ưu đãi về thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế

quan



các

chế

độ

đãi

ngộ

khác,

tạo

điều kiện cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập thị trường thế giới.

Khơng chỉ là thị trường tiêu thụ, Việt Nam còn có tiềm năng xuất

khẩu các sản phẩm thực phẩm - đồ uống và hiện đã có những doanh

nghiệp tương đối mạnh, có tên tuổi, có sức cạnh tranh, thường

xuyên dẫn đầu tại thị trường trong nước, đủ cơ sở để xuất khẩu ra

nước ngoài.



11



Khi thời điểm Hiệp định Thương mại tự do EU – Việt Nam (EVFTA) sắp

đi đến ký kết chính thức, các doanh nghiệp đều đặt kỳ vọng đây sẽ

là cơ hội lớn để thương hiệu Việt xuất hiện tại nhiều quốc gia hơn

trên thế giới. Thủy sản, cà phê, bánh kẹo được dự đốn sẽ là 3

ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn trong thời gian tới.

Trong tiến trình hộ nhập và phát triển, điều tất yếu là Việt Nam sẽ

được tiếp thu kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, cơng nghệ tiên tiến

trên thế giới, góp phần cải tiến sản phẩm của mình để nâng cao sức

cạnh tranh trên thị trường.

Với dân số hơn 80 triệu người, nguồn nhân lực nước ta khá dồi dào.

Nhưng

nếu

chúng

ta không hội nhập quốc tế thì việc sử dụng nhân lực sẽ lãng phí và

kém hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho nguồn

lực nước ta được khai thông, giao lưu với các nước, thực hiện theo

đường lối đối ngoại của Đảng: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác

tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”.

2.1.2. Thách thức

-Xuất khẩu gặp khó khăn

Khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, các

hiệp định FTA và BIT mà Việt Nam đang tham gia gặp phải thách

thức lớn. Bởi mấu chốt của các cam kết FTA và BIT là giảm bớt hàng

rào thuế quan, rất có thể các nước giàu sẽ xây dựng hàng rào phi

thuế quan tinh vi (NTBS) để bảo vệ ngành cơng nghiệp nội địa của

mình, dó đó, trên thực tế sẽ gây cản trở cho xuất khẩu Việt Nam.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu thực sự

gặp khó khăn với các quy định NTBS nghiêm ngặt của nước nhập

khẩu. Nhiều loại rào cản phi thuế quan, vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch

động thực vật (SPS), hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và

biện pháp bảo hộ tạm thời đã gây khó khăn cho các sản phẩm thực

phẩm chế biến của Việt Nam.

Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động như

hiện nay, các rào cản kỹ thuật, các đòi hỏi về chất lượng, an tồn vệ

sinh thực phẩm của các nước ngày càng khắt khe và yêu cầu cao,…

cũng là nhân tố gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất

khẩu ra thị trường thế giới.

2.2. Bối cảnh trong nước đối với các doanh nghiệp thực phẩm

Vệt Nam

2.2.1.Cơ hội

-GDP tiếp tục tăng trưởng với lạm phát được kiềm chế

12



GDP Việt Nam tăng trưởng 6,21% năm 2016 từ 5,73% trong năm

2015, có sự phục hồi đáng kể. Trong khi đó, lạm phát tiếp tục được

kiềm chế từ 6,04% năm 2013 còn 4,74% năm 2016. Đến năm 2017,

tăng trưởng GDP đạt 6,81%, lạm phát được kiềm chế ở mức thấp

dưới 4%. Lạm phát toàn phần trong cả năm 2017 nhìn chung suy

giảm mạnh mẽ. Tại thời điểm tháng 12/2017, chỉ số giá tiêu dùng

(CPI) chỉ tăng 2,60% so với cùng kỳ năm trước.

GDP tăng trưởng với mức đáng kể và lạm phát được kiềm chế là

nguyên nhân giúp nhu cầu sửa dụng các mặt hàng thực phẩm gia

tăng, chi tiêu cho các mặt hàng thực phẩm tăng lên. Các doanh

nghiệp sẽ có cơ hội phát mở rộng thị trường, phát triển thị phần.

-Cơ cấu dân số vàng

Là quốc gia có dân số đứng thứ 3 Đơng Nam Á với hơn 92 triệu người

vào cuối năm 2016. Từ năm 2007, dân số tăng trưởng ở mức ổn định

khoảng 1% hay 1 triêu người mỗi năm. Đáng chú ý người trong độ

tuổi 15-39 chiếm 40,1 triệu hay 45,2% dân số, đây là động lực tăng

trưởng chính của ngành hàng tiêu dùng. Hơn nữa, Việt Nam là nước

có dân số trẻ (68% hay 60,7 triệu người dưới 40 tuổi) và lực lượng

lao động dồi dào (76% hay 68,2 triệu người tuổi từ 15-60), đây là

nguồn cung nhân lực chủ yếu cho các doanh nghiệp thực phẩm.

Ngoài ra, thu nhập của người dân cũng tăng đáng kể rong những

năm qua và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.



Cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng Việt Nam 9 tháng đâu năm 2018

(Theo Vietnam Report)



13



Công ty Cổ phần báo cáo đánh giá Việt Nam - Vietnam Report – VNR

cho biết, Việt Nam là một trong những thị trường có sức tiêu thụ

thực phẩm - đồ uống rất tiềm năng. Chỉ số tiêu thụ của ngành sản

xuất chế biến thực phẩm và sản xuất đồ uống trong 9 tháng đầu

năm 2018 chiếm 34% tăng lần lượt 8,1% và 10,2% so với cùng kỳ

năm trước (theo GSO).

-Chính sách giảm thuế và giãn thuế

Năm 2016, chính sách thuế được lới lỏng nhằm hỗ trợ tiêu thụ trong

nước và tăng trưởng kinh tế. Trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ

(SMEs-có dưới 200 lao động và doanh thu dưới 20 tỷ đồng) và doanh

nghiệp trong các lĩnh vực nơng nghiệp (có hơn 300 loa động) được

hưởng 6 tháng gia hạn nộp thuế đối với thuế thu nhập doanh

nghiệp(TNDN) và thuế GTGT (GTGT). Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng

được ưu đãi thuế TNDN ở mức 20% từ ngày 01/07/2013. Hơn nữa,

thuế TNDN chung đã được giảm xuống 22% từ ngày 01/01/2014.

Nhờ đó, các doanh nghiệp thực phẩm có thể mạnh tay đầu tư phát

triển thị trường.

Thêm vào đó, bằng việc tăng các khoản giảm trừ cá nhân (từ 4 triệu

đồng đến 9 triệu đồng) và trợ cấp người phụ thuộc (từ 1,6 triệu đến

3,6 triệu mỗi người), người lao động tiết kiệm được đáng kể thuế thu

nhập cá nhân, từ đó làm tăng thu nhập khả dụng và chi tiêu. Nhu

cầu chi tiêu cho hàng thực phẩm tăng, các doanh nghiệp thực phẩm

có cơ hội phát triển.

-Mạng lưới bán lẻ dày đặc

Việt Nam có một mạng lưới bán lẻ dày đặc, rộng khắp cả nước, bao

gồm 424 siêu thị, 23 đại siêu thị, 365 siêu thị mini và các cửa hàng

tiện lợi gần 779.000 chợ truyền thống và các cửa hàng tư nhân nhỏ.

Các cửa hàng tạp hóa chiếm ưu thế hơn với hơn 636.000 đơn vị. Số

lượng các cửa hàng bán lẻ tăng hằng năm ở mức 1,2% trong giai

đoạn 2009-2013. Ngoài ra các nhà bán lẻ lớn của Việt Nam như

Saigon Coop, Big C, Mega Market đã tiếp tục cam kết mở rộng hệ

thống không chỉ ở các thành phố lớn mà còn ở nhiều tỉnh thành. Việc

mở rộng liên tục các cửa hàng bán lẻ là một trong những nhân tố

khuyến khích người dân mua hàng và làm tăng giá trị tiêu thụ.

Hơn nữa, mạng lưới bán lẻ dày đặc là một lợi thế lớn giúp các doanh

nghiệp thực phẩm mở rộng kênh phân phối của mình.

-Sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng



14



Khi được hỏi về các hoạt động hằng ngày để giữ sức khỏe, ăn uống

điều độ là hoạt động được 78% người khảo sát chọn, tiếp theo là

thức ăn tươi hoặc tự nhiên (47%) và tập thể dục (46%). Trong khi

dinh dưỡng của bữa ăn vị trí thứ tư (41%), người tiêu dùng cũng có

xu hướng duy trì tâm trạng thoải mái như một cách để giữ sức khỏe.

Tiêu thụ thực phẩm tăng trưởng 2 con số năm 2016, tiêu thụ thực

phẩm trong nước đạt 34,8 tỷ USD với tốc độ CAGR đáng kể 11,4%

trong giai đoạn 2011-2016. Hơn nữa, với bản chất là một ngành

hàng phòng thủ và thiết yếu cho cuộc sống, lương thực, thực phẩm

luôn là một trong những ngành mục tiêu để cân bằng danh mục đầu

tư.

2.2.2.Thách thức

-Chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường nội địa

Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm

của Việt Nam đang có xu hướng tăng trưởng mạnh, từng bước cung

ứng nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao, chiếm lĩnh thị trường nội

địa và gia tăng xuất khẩu. Lượng tiêu thụ thực phẩm hàng năm của

Việt Nam ước tính chiếm khoảng 15% GDP, và trong 9 tháng đầu

năm 2017 đã tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2016. Tuy nhiên, mức

tăng của sản lượng sản xuất ngành chế biến thực phẩm mới chỉ tăng

9%, hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường nội địa.

Nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước còn thiếu và khơng ổn

định, ngun liệu nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn. Điều này dẫn đến

các doanh nghiệp không chủ động được số lượng, chất lượng, giá

nguyên liệu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ví dụ như sữa tươi nguyên liệu hiện mới đáp ứng được khoảng 40%

nhu cầu sản xuất và tiêu thụ trong nước, còn lại phải nhập khẩu. Kim

ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa hàng năm trên dưới 1 tỷ

USD. Trong các nguyên liệu sản xuất bia, trừ gạo được sử dụng với

số lượng nhỏ được sản xuất trong nước, còn lại hoa bia và đại mạch

là hồn tồn phải nhập khẩu.

Việt Nam cũng chưa phát triển được cây nguyên liệu có dầu nên

hàng năm các DN phải nhập khẩu trên 90% nguyên liệu dầu thô các

loại để tinh luyện thành dầu ăn tiêu thụ trong nước và phục vụ xuất

khẩu. Nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất bánh kẹo là bột mỳ, hương

liệu và chất phụ gia phần lớn cũng phải nhập khẩu.

-Cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài



15



Việt Nam đã là thành viên của WTO, hàng hóa nói chung, thực phẩm

chế biến riêng của nhiều nước sẽ tràn vào nước ta, gây khơng ít khó

khăn cho ngành công nghiệp thực phẩm, khiến doanh nghiệp dễ

“thua ngay trên sân nhà” chưa nói đến “chiến thắng trên sân người”

nếu như chúng ta khơng có chiến lược phát triển và đầu tư thích

hợp. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là thử thách rất lớn đối với

các doanh nghiệp trong ngành thực phẩm Việt Nam.

Doanh nghiệp thực phẩm-đồ uống Việt có nguy cơ mất chỗ đứng

trên thị trường Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp chế biến thực phẩm

có thương hiệu lớn, vốn đang được xem là trụ cột thị trường, đang

dần mất vào tay những doanh nghiệp ngoại. Cụ thể như các thương

hiệu Việt nổi tiếng như Vissan, Công ty CP chế biến hàng xuất khẩu

Cầu tre, Kinh Đô, Bibica, ABC…

Cụ thể như Tập đoàn CJ Chelijedang (Hàn Quốc) đã chính thức mua

lại cổ phần của Cơng ty Cầu Tre với tỷ lệ sở hữu lên tới 71,6%. Tập

đoàn này cũng đang nắm giữ 64,9% vốn của Công ty TNHH thực

phẩm Minh Đạt và 3,8% cổ phần tại Công ty Vissan.

Hay các doanh nghiệp của Thái Lan hợp tác chiến lược cùng Masan,

đầu tư cổ phiếu Vinamilk; vụ Daesang Corp (Hàn Quốc) đầu tư trọn

100% cổ phần của CTCP thực phẩm Đức Việt; CTCP Á Mỹ Gia trao gửi

toàn bộ 100% cổ phần của mình cho Earth Chemical (Nhật Bản);

Fraser & Neave Ltd. (Singapore) mua 5,4% cổ phần của Vinamilk…

-Trình độ nhân lực hạn chế

Trình độ cán bộ quản lý chưa được chun sâu. Trình độ người lao

động còn khá yếu so với các nước trọng khu vực.

-Cơ sở hạ tầng còn lạc hậu

Mặc dù các doanh nghiệp thực phẩm Việt Nam đã áp dụng những

máy móc, thiết bị hiện đại vào sản xuất, chế biến thực phẩm. Tuy

nhiên, nhìn chung, cơng nghệ của Việt Nam vẫn cần được cải thiện,

nâng cấp để nâng cao năng suất cho sản phẩm

Bên cạnh những thành quả của ngành chế biến nông sản, ngành

cơng nghiệp chế biến thực phẩm phát triển còn khá khiêm tốn so với

tiềm năng. Nguyên nhân có nhiều, song tựu trung lại bao gồm : Liên

kết lỏng lẻo từ khâu sản xuất, thu gom đến phát triển vùng nghiên

liệu, chế biến, cơng nghệ sản xuất vẫn còn lạc hậu, kiểm sốt an

tồn thực phẩm còn bất cập, đầu tư còn hạn chế, sản xuất nhỏ lẻ,

phân tán, đầu vào có chất lượng khơng cao, thiếu ổn định…



16



PHẦN III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP THỰC

PHẨM VIỆT NAM

1.Tập trung Nghiên cứu&Phát triển (R&D) theo đặc thù

ngành

-Hoạt động Nghiên cứu & Phát triển đặc biệt quan trọng, giúp Doanh

nghiệp luôn dẫn đầu đối thủ về phát triển sản phẩm và công nghệ

mới để đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng với giá cả hợp lý và chi

phí tối ưu nhất.

-Đặc biệt, trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của các Doanh

nghiệp Thực phẩm thì cơng tác quản trị Nghiên cứu & Phát triển

được đặt ra và được xem là ưu tiên hàng đầu. Vì sản phẩm của

những ngành này điều liên quan đến sức khỏe người tiêu dùng. Do

đó, Doanh nghiệp rất cần một cơng cụ giúp quản lý, kiểm soát chặt

chẽ được hoạt động Nghiên cứu & Phát triển.

-Phân hệ quản trị Nghiên cứu & Phát triển gồm những chức năng:

Quản lý nghiệp vụ R&D; Quản lý hồ sơ kỹ thuật sản phẩm; Quản lý

sản xuất thử; Quản lý chiết tính giá thành; Bảo mật mã NVL, công

thức nghiên cứu; Tham chiếu thông tin nghiên cứu cho sản phẩm;

Hệ thống phiếu in, báo cáo.

2.Tập trung chủ yếu vào việc quảng bá thương hiệu, hình

ảnh doanh nghiệp, đăng kí nhãn hiệu sản phẩm, bảo hộ sở

hữu công nghiệp

-Thương hiệu là yếu tố giúp khách hàng nhận diện được doanh

nghiệp vì vậy quảng bá thương hiệu chính là mấu chốt giúp doanh

nghiệp phát triển. Lấy được lòng tin của khách hàng nghĩa là doanh

nghiệp đã có một nửa của thành cơng.

-Triển khai các chương trình xây dựng Chiến lược thương hiệu sản

phẩm, định hướng phát triển sản phẩm là điều cần thiết.

-Sản phẩm, hàng hóa đưa ra trên thị trường cần thiết phải đăng ký

nhãn hiệu sản phẩm và được bảo hộ sở hữu công nghiệp

3.Đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và nguồn

nhân lực có chất lượng cao trong mọi quy trình từ sản xuất,

thu hoạch, chế biến , bảo quản và tiêu thụ sản phẩm

-Đối với một quy trình cơng nghệ sản xuất thực phẩm ở bất cứ quy

mô nào, yếu tố nguyên liệu đầu vào là cực kỳ quan trọng, nó quyết

định đến chất lượng và cả giá thành của sản phẩm sau này. Chính vì

vậy, Doanh nghiệp cần quan tâm đến các yếu tố liên quan đến

nguyên liệu cũng như quản lý được nguồn/vùng nguyên liệu để đảm

bảo tình trạng sản xuất ln ổn định.

-Máy móc, thiết bị là điều kiện cần để có thể sản xuất được thực

phẩm. Thiết bị càng hiện đại, càng tự động hóa và được chăm chút

17



về thiết kế cũng như khả năng vận hành sẽ giúp Doanh nghiệp tiết

kiệm được rất nhiều thời gian, tiền bạc trong q trình sản xuất. Có

một sự thật là: chúng ta không thể sản xuất đủ thực phẩm để đáp

ứng nhu cầu sử dụng của con người nếu khơng có sự hỗ trợ đắc lực

của máy móc, thiết bị sản xuất.

-Nối tiếp điều kiện cần là thiết bị thì điều kiện đủ để sản xuất thực

phẩm chính là quy trình cơng nghệ. Như vậy, cùng với một loại

ngun liệu như nhau, mỗi cơng nghệ khác nhau về trình độ sẽ cho

ra những sản phẩm khác nhau về chất lượng và cả hình thức bề

ngồi. Ngồi ra, cơng nghệ tối ưu sẽ giúp sản phẩm thực phẩm trở

nên tốt hơn, an tồn hơn và tiện dụng hơn.

-Bao bì thực phẩm là “ngôn ngữ” giao tiếp đầu tiên của sản phẩm

với khách hàng, do vậy, “ngôn ngữ” càng dễ hiểu, dễ nhận biết,

hoặc dễ thu hút sẽ chiến thắng trong vơ số những “ngơn ngữ” tương

tự nhau. Ngồi ra, bao bì còn là phương tiện tiếp xúc trực tiếp với

thực phẩm, có tác dụng bảo quản, ngăn cách thực phẩm với mơi

trường bên ngồi (các yếu tố gây hại), nên việc lựa chọn loại bao bì

an tồn, kiểu dáng thiết kế và hình thức trình bày như thế nào cho

tối giản nhất mà vẫn đạt được mục tiêu là giao tiếp với khách hàng

dễ dàng nhất là điều không dễ dàng!

-Vấn đề cho đầu ra sản phẩm là yếu tố cần sẽ nghĩ đầu tiên trước

khi xây dựng một kế hoạch sản xuất thật đầy đủ và rõ ràng.

=> Vì vậy, cần ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất, có

chiến lược phát triển ngắn hạn và dài hạn cụ thể, để doanh nghiệp

nâng cao được vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế

4.Phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao năng lực dự báo, đổi

mới công tác xúc tiến thương mại, phát triển thị trường

Hiện nay, cơ sở hạ tầng của hầu hết các doanh nghiệp thực phẩm

Việt Nam nói chung vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, phát triển cơ sở

kết cấu hạ tầng tạo nền tảng vững chắc cho doanh nghiệp phát

triển. Đặc biệt, cần có hệ thống xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi

trường theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Thường xuyên đổi mới, nâng cao công tác xúc tiến thương mại cho

phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn khác nhau để doanh nghiệp

phát triển ổn định



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: NHẬN DẠNG CÁC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC DOANH NGHIỆP THỰC PHẨM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×