Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỰC PHẨM VIỆT NAM

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỰC PHẨM VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tỷ trọng các mặt hàng thực phẩm năm 2015 (Theo VCCI)

Trong năm 2015, nông sản, các loại thịt, trứng và thủy hải sản tiếp

tục là 3 ngành hàng lớn nhất với tổng giá trị 26,7 tỷ USD, đóng góp

76,8% vào tổng giá trị tiêu thụ lương thực, thực phẩm trong nước.

Các sản phẩm nơng sản và sữa có doanh thu tăng trưởng hai con số

11,8% và 16,5% so với năm 2012. Sữa, dầu ăn và chất béo và mì gói

là các ngành hàng có doanh thu năm 2015 vượt 1 tỷ USD, trong đó

doanh thu ngành sữa đath 2,9 tỷ USD với mức tăng trưởng cao nhất

16,5% so với năm ngối. Ngồi ra, doanh thu bánh kẹo và bánh

nướng đạt 1,3 tỷ USD tăng hơn 8,2% so với năm 2015.

Trong 5 năm gần đây, lượng tiêu thụ thực phẩm chế biến và đồ uống

tăng trung bình hàng năm lần lượt ở ngưỡng 9,68% và 6,66%.

Năm 2016, Nielsen đã xếp hạng Việt Nam là quốc gia có mức tăng

trưởng tiêu thụ hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) cao nhất trong khu

vực châu Á với tỷ lệ 24,3%, tiếp theo là Ấn Độ (18,3%) và Trung

Quốc (14,6%).

Năm 2015, tiêu thụ thực phẩm và đồ uống (TPĐU) của Việt Nam là

42,8 tỷ USD chiếm 40,5% tổng mức tiêu thụ của cả nước và có tốc

độ tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) là 11% trong giai đoạn 20102014. Theo tổ chức nghiên cứu Business Monitor International (BMI),

tăng trưởng doanh thu ngành trong 2 năm 2014 và 2015 lần lượt là

14,7% và 14,3%, và dự báo mức tăng trưởng kép hằng năm (CAGR)

trong giai đoạn 2016-2019 có thể đạt 16,1%. Đến năm 2020, Việt

Nam được đánh giá là nước có tăng trưởng tiêu dùng thực phẩm – đồ

uống cao thứ 3 trong nhóm các nước châu Á được khảo sát. Theo dự

báo của Hãng BMI Research, ngành công nghiệp thực phẩm Việt

Nam đạt tăng trưởng kép hàng năm trong giai đoạn 2015-2020 là

10,9%.Thu nhập của người dân Việt Nam vẫn thấp hơn các nước

phát triển, vì vậy, nhu cầu tiêu dùng sẽ tập trung vào nhóm hàng

thực phẩm và đồ dùng thiết yếu công nghệ phục vụ sản xuất...

4



Thị trường thực phẩm - đồ uống được đánh giá rất tiềm năng trong

năm 2017 - 2018. Theo nhận định của một số chuyên gia, sau một

vài năm có dấu hiệu chững lại, ngành thực phẩm - đồ uống đang dần

lấy lại đà và tăng trưởng trở lại. Tổ chức Business Monitor

International (BMI) dự báo, tốc độ tăng trưởng của ngành công

nghiệp thực phẩm và đồ uống sẽ duy trì mức tăng trưởng kép hàng

năm là 10,9% cho giai đoạn 2017 - 2019 nhờ thu nhập cải thiện và

xu hướng tiêu dùng sản phẩm giá trị cao hơn. Còn theo thống kê gần

đây nhất của Tổng cục thống kê, sản xuất, chế biến thực phẩm trong

9 tháng đầu năm 2017 tăng 6,6%, sản xuất đồ uống tăng 5% so với

cùng kỳ năm trước.



Đóng góp và tăng trưởng một số nhóm trong ngành FMCG năm

2017(Nguồn: Nielsen Việt Nam)

Đánh giá về tiềm năng tăng trưởng, ngành thực phẩm và đồ uống

hiện chiếm khoảng 15% GDP và có xu hướng tăng lên trong thời gian

tới. BMI dự đoán, tốc độ tăng trưởng ngành thực phẩm và đồ uống sẽ

cao hơn trong giai đoạn 2016 - 2019, trong đó khả năng Việt Nam sẽ

đứng ở vị trí thứ ba Châu Á. Bên cạnh đó, với tỷ lệ dân số trẻ ngày

một cao (ước tính khoảng trên 50% dân số Việt Nam dưới 30 tuổi),

mức thu nhập được cải thiện và thói quen mua sắm thực phẩm chế

biến sẵn ngày càng phổ biến, sự phong phú cùng với sự dồi dào các

sản phẩm nông nghiệp - nguồn nguyên liệu thô cung ứng cho hoạt

động chế biến thực phẩm, đồ uống… đang là những lợi thế để

các doanh nghiệp trong ngành đa dạng hóa chủng loại sản phẩm

nhằm đáp ứng với nhu cầu liên tục thay đổi của người tiêu dùng, và

5



là những điều kiện thuận lợi góp phần giúp Việt Nam trở thành thị

trường tiêu thụ thực phẩm - đồ uống tiềm năng trong khu vực.

Bia, đồ uống không cồn và thực phẩm là 3 nhóm tăng trưởng nhanh

nhất trong ngành FMCG (ngành hàng tiêu dùng nhanh).

Bộ Công thương đã xếp ngành công nghiệp thực phẩm vào nhóm

ngành đang có lợi thế cạnh tranh và có định hướng, chiến lược phát

triển trên cơ sở sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, khai thác sử

dụng tối đa nguyên liệu trong nước, tạo sản phẩm đa dạng, đảm bảo

chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Ba xu hướng chủ đạo của ngành thực phẩm - đồ uống 2017, 2018:

Khảo sát chuyên gia của Vietnam Report cho thấy, có 3 xu hướng

chính trong ngành thực phẩm - đồ uống trong năm 2017 - 2018:

Thứ nhất, phát triển nhiều dịch vụ và phương thức bán hàng

Một số doanh nghiệp ngành thực phẩm - đồ uống, ví như Vinamilk,

đã ra mắt các website bán hàng trực tuyến nhằm phục vụ nhu cầu

mua sắm online của khách hàng. Đồng thời người tiêu dùng cũng có

thể đặt mua định kỳ sản phẩm tại các đại lý của các công ty thực

phẩm – đồ uống và được giao hàng định kỳ tận nơi, vừa tiết kiệm

thời gian, vừa phù hợp với sở thích và nhu cầu dinh dưỡng của từng

cá nhân/ hộ gia đình ở từng địa phương khác nhau. Việc thay đổi

dịch vụ và phương thức bán hàng sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận

tốt hơn với từng nhóm đối tượng, qua đó tăng doanh số bán hàng và

mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm - dịch vụ của

cơng ty.

Thứ hai, nhóm hàng thực phẩm - đồ uống tiện dụng có nhiều

tiềm năng tăng trưởng nhưng đầy cạnh tranh

Cùng với sự phục hồi của đà tăng trưởng kinh tế, sức cầu về các sản

phẩm thực phẩm - đồ uống cũng tăng nhanh chóng, đặc biệt ở nhóm

ngành thực phẩm đóng gói/ chế biến sẵn (ready to eat) và đồ uống

đóng chai (ready to drink) nhờ tính tiện dụng. Sắp tới, khi các doanh

nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa, phải dồn sức cho cạnh tranh,

tăng năng suất lao động… thì nhu cầu sử dụng các sản phẩm thực

phẩm, đồ uống tiện dụng sẽ còn lớn hơn rất nhiều, tất nhiên kèm

theo đó vẫn phải đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, tính vệ sinh an tồn

thực phẩm…

6



Theo đánh giá của Kantar Worldpanel về ngành hàng thực phẩm

đóng gói (tháng 7/ 2016), số lượng sản phẩm mới được tung ra thị

trường trong ngành hàng Thực phẩm đóng gói cao gấp 2-3 lần so với

ngành hàng sữa và các sản phẩm từ sữa, đem lại cho người tiêu

dùng nhiều hơn các cơ hội lựa chọn. Bên cạnh đó, Kantar Worldpanel

cũng dự báo mức chi tiêu hàng tháng cho các sản phẩm đóng gói sẽ

tăng lên trong giai đoạn 2016 - 2020, trong đó khu vực thành thị

tăng 13%, khu vực nông thôn tăng 18%. Điều này sẽ làm thị trường

có tính cạnh tranh cao hơn bao giờ hết.

Thứ ba, xu hướng đầu tư sản xuất các sản phẩm sạch

Khi thu nhập tăng lên, người tiêu dùng sẵn sàng chi trả mức chi tiêu

cao hơn cho các sản phẩm thực phẩm - đồ uống có lợi cho sức khỏe

và thân thiện với môi trường. Việt Nam là một trong những nước dẫn

đầu về xuất khẩu sản phẩm nông sản nhưng các dòng sản phẩm chế

biến sẵn, đặc biệt là sản phẩm sạch được chế biến an toàn và tinh tế

vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Nguyên nhân chính là do chênh

lệch về trình độ cơng nghệ, trang thiết bị và nguồn nhân lực. Đây là

một yếu điểm của doanh nghiệp nội khi cạnh tranh với các công ty

nước ngồi. Việc bắt tay với các doanh nghiệp ngoại thơng qua hình

thức M&A, hợp tác chiến lược… được kỳ vọng sẽ làm thay đổi

phương thức sản xuất của các doanh nghiệp nội địa hiện nay.

Ba xu thế chủ đạo trong phong cách tiêu dùng ngành thực

phẩm đồ uống năm 2017, 2018:

Thứ nhất, nhu cầu sử dụng các loại thực phẩm tự nhiên, hữu

cơ (organic)

Trong bối cảnh thu nhập đầu người tăng lên, người tiêu dùng có xu

hướng lựa chọn các thực phẩm sạch, có nguồn gốc hữu cơ và thân

thiện với môi trường, và sẵn sàng chi trả khoản tiền cao hơn cho bữa

ăn hàng ngày. Hơn 86% người tiêu dùng tại 2 thành phố lớn là Hà

Nội và TP. Hồ Chí Minh khi được hỏi đã lựa chọn các sản phẩm tự

nhiên và hữu cơ, hoặc các sản phẩm đúng mùa vụ để đảm bảo an

toàn cho sức khỏe.

Thời gian qua, có khá nhiều cơng ty đã mạnh dạn đầu tư vào lĩnh

vực này, đặc biệt có cả sự tham gia của những các ông lớn ngành

bán lẻ (với lợi thế sẵn có các kênh bán hàng: siêu thị, cửa hàng tiện

lợi…)



7



Thứ hai, tái định nghĩa lại thực phẩm tiện lợi

Trong cuộc sống hiện đại, quan điểm về gia đình, đặc biệt ở khu vực

thành thị đã có sự thay đổi: số lượng người trong một gia đình

thường chỉ có 4-5 người, tỷ lệ người sống độc thân tăng…, do đó nhu

cầu với nhóm hàng hóa tiêu dùng nhanh cũng có sự khác biệt so với

trước đây. Để phục vụ cho các đối tượng này, các công ty thực phẩm

- đồ uống đã thay đổi quy cách và trọng lượng hàng hóa đóng gói

sản phẩm nhỏ, sử dụng phù hợp với nhu cầu của cá nhân và dễ dàng

mang theo sử dụng trên đường đi. Ngồi ra, các cơng ty cũng hướng

tới cung cấp các Bữa ăn tươi (ready meals) nhằm mang đến cho

người tiêu dùng không chỉ là những sản phẩm đóng gói/ ăn liền khơ,

mà còn là những sản phẩm tươi, ngon, bổ dưỡng, an toàn và tiện lợi.

Thứ ba, công nghệ làm thay đổi trải nghiệm ẩm thực của

người tiêu dùng

Giới trẻ Việt Nam đa phần là những bạn trẻ năng động, thích trải

nghiệm và sẵn sàng chi trả đề được thưởng thức các loại thực phẩm

- đồ uống ngon và lạ. Cùng với sự phát triển của cơng nghệ, họ có

thể dễ dàng truy cập các xu thế ẩm thực mới nhất, hot nhất qua

mạng xã hội và đặt hàng thông qua các ứng dụng cho phép tìm

kiếm địa điểm ăn uống (Foody), giao đồ ăn (deliveryNow) và đặt bàn

(TableNow)... khiến thị trường ẩm thực trở nên sôi động hơn. Theo

nhận định của Nielsen, thực phẩm và đồ uống là 2 trong 10 sản

phẩm được giao dịch trên mạng nhiều nhất trong năm 2017.

Đối với các cơng ty sản xuất, họ cũng qua đó nắm bắt được xu thế

tiêu dùng thực phẩm - đồ uống để đa dạng hóa và cải thiện các dòng

sản phẩm sao cho phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng hiện đại

(ví dụ: trà sữa đóng gói, ngũ cốc ăn liền…)

Ưu điểm:

Ngành công nghiệp thực phẩm giúp nâng cao sản lượng và GDP, và

cũng là lĩnh vực thu hút nhiều đầu tư nước ngoài trong những năm

gần đây. Một số doanh nghiệp nổi tiếng là Unilever, Nestlé và San

Miguel. Ngoài ra, người tiêu dùng Việt Nam, nhất là giới trẻ và những

người giàu có dần dần có quan tâm đến các sản phẩm thương hiệu.

Tại thời điểm này, với các chương trình tiếp thị, các sản phẩm

phương Tây nổi tiếng đang rất phổ biến ở thị trường Việt Nam.

Bên cạnh đó, trung tâm thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ

Chí Minh đang trở thành thị trường tiềm năng. Ngồi ra, các sản

phẩm nơng nghiệp phong phú trong nước cũng giải quyết sự ổn định

8



của vật liệu cung cấp và giá cả sản xuất trong nước - một trong

những lợi thế quan trọng trong giai đoạn không ổn định như hiện

nay.

Nhược điểm:

Khoảng cách lớn về thu nhập giữa thành phố và nông thôn tạo nên

một sự khác biệt trong việc tiêu thụ thực phẩm theo thu nhập của

người dân. Ngành cơng nghiệp thực phẩm nói chung vẫn còn chưa

mở cửa kinh tế, ngoại trừ một số lĩnh vực chính như bơ và bánh kẹo.

Xem xét điều kiện lâu dài, cơng nghiệp thực phẩm Việt Nam còn

xem là quá chậm trong việc áp dụng công nghệ mới để cạnh tranh

với các nước khác trên thế giới mặc dù Chính phủ đang nỗ lực để

nhận ra điều này. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn rất yếu.

Đường bộ, đường sắt, cảng không thể đáp ứng sự phát triển của nền

kinh tế cũng như liên kết với thế giới bên ngoài.

CHƯƠNG II: NHẬN DẠNG CÁC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO

CÁC DOANH NGHIỆP THỰC PHẨM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH

HIỆN NAY

2.1.Bối cảnh thế giới đối với các doanh nghiệp thực phẩm

Việt Nam

2.1.1. Cơ hội

-Kinh tế thế giới dần ổn định

Năm 2017, kinh tế thế giới hồi phục mạnh mẽ nhờ tiêu dùng cá nhân

tăng, sự phát triển bền vững của đầu tư toàn cầu, sự cải thiện của

thị trường lao động, giá dầu thế giới hồi phục mạnh… Một thập niên

sau cuộc khủng hoảng tài chính làm rung động cả thế giới, tốc độ

tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên tồn cầu đã bắt đầu

có đà phục hồi, kinh tế thế giới đang thực sự khởi sắc.

Kinh tế Mỹ tăng trưởng vững mạnh: Tình hình kinh tế Mỹ lạc quan

hơn, Viện Quản lý Nguồn cung Mỹ (ISM) cho biết, chỉ số Nhà quản lý

mua hàng (PMI) tăng lên mức 59,7% trong tháng 12-2017, so với

mức 58,2% trong tháng 11-2017. Điều này cho thấy, ngành chế tạo

Mỹ tiếp tục tăng trưởng. Báo cáo gần đây của Bộ Thương mại Mỹ cho

biết, chi tiêu xây dựng tăng 0,8%, đạt mức cao nhất từ trước tới nay,

khoảng 1,257 nghìn tỷ USD trong tháng 11-2017, tăng 2,4% so với

cùng kỳ năm 2016. Nhờ số liệu tích cực từ ngành chế tạo của Mỹ, giá

dầu gia tăng, giá cổ phiếu của các doanh nghiệp công nghệ tiếp tục

tăng mạnh, thị trường chứng khốn Mỹ khởi sắc. Nhìn chung, các chỉ

số kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp (4,1%) và lạm

phát (1,7%) đều cho thấy, năm 2017 được đánh giá là năm tăng

trưởng tốt đối với nền kinh tế Mỹ trong thập niên qua.



9



Khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động: Châu Á Thái Bình Dương vẫn là khu vực năng động nhất về kinh tế và là

động lực chính cho tăng trưởng toàn cầu trong gần một thập niên

sau cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu năm 2008. Trong các năm

qua, dù vẫn phải đối mặt với hàng loạt thách thức toàn cầu nhằm

duy trì đà tăng trưởng, nhưng khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn

đi đầu về hội nhập, lãnh đạo các nền kinh tế khu vực đã nỗ lực thúc

đẩy liên kết kinh tế và tự do hóa thương mại. Theo báo cáo của Ủy

ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Liên

hợp quốc (ESCAP), GDP trung bình của các nền kinh tế đang phát

triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương tăng 5,4% trong năm 2017,

chủ yếu là do tiêu dùng trong nước. Ngân hàng Phát triển châu Á

(ADB) thống kê mức tăng trưởng kinh tế của châu Á 6% trong năm

2017, nhờ tăng trưởng xuất khẩu và tiêu thụ nhiên liệu nội địa cao

hơn so với dự kiến. Triển vọng tăng trưởng tại Trung Quốc, nền kinh

tế lớn thứ hai trên thế giới, được điều chỉnh tăng nhờ giữ vững mức

tiêu dùng. Nam Á vẫn là khu vực phát triển nhanh nhất ở khu vực

châu Á - Thái Bình Dương (6,5%). Tăng trưởng của khu vực Đơng

Nam Á được hưởng lợi từ các hoạt động đầu tư và xuất khẩu mạnh

mẽ hơn, với mức tăng trưởng cao hơn cho Brunei, Malaysia,

Philippines, Singapore và Thái Lan. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng tiếp tục

đóng vai trò quan trọng ở Indonesia, Philippines và Thái Lan. Nhu

cầu nội địa mạnh mẽ, đặc biệt là tiêu dùng cá nhân và đầu tư, sẽ

tiếp tục hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng ở tiểu vùng.

Kinh tế EU đang dần phục hồi: Năm 2017 là năm khá bất ngờ và

thuận lợi đối với các nền kinh tế EU bất chấp những bất ổn chính trị

tại khu vực. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết, sự phục hồi của châu

Âu rất mạnh, sự phục hồi này đã lan ra khắp thế giới, làm cho khu

vực này trở thành “động cơ” của tăng trưởng kinh tế và thương mại

toàn cầu. Diễn biến trên thị trường lao động tốt hơn, cũng như các

điều kiện tài chính thuận lợi hơn đã làm tăng nhu cầu trong nước.

Trong thời gian tới, lĩnh vực tiêu dùng sẽ giúp tạo thêm việc làm, là

nhân tố chính thúc đẩy sự hồi phục kinh tế. Thu nhập của người dân

sẽ bắt đầu đi lên trong điều kiện số lượng người có việc làm tăng lên,

đi cùng với sự tăng nhẹ của giá cả. Tại một số nước, môi trường đầu

tư nhờ các chính sách kinh tế được cải thiện một phần. Đáng chú ý,

tại Pháp, dự luật cải cách thuế để kích thích đầu tư đã được thơng

qua và có hiệu lực vào năm 2018. Tại Hà Lan, liên minh chính phủ

mới cũng đang lên kế hoạch cho các biện pháp tăng cường đầu tư.

Sự phục hồi của kinh tế thế giới đã hỗ trợ hoạt động xuất khẩu, mặc

dù đồng euro mạnh lên so với những đồng tiền khác và nhu cầu

hàng hóa, dịch vụ từ châu Âu giảm. Sự hưởng lợi từ kinh tế thậm chí

còn lớn hơn bên ngoài khu vực đồng euro. Ba nền kinh tế lớn nhất

của Đông Âu đã vượt qua cả tốc độ tăng trưởng của Đức trong vài

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỰC PHẨM VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×