Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung quy định pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng hành chính đối với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Nội dung quy định pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng hành chính đối với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ - 0trang

BÀI TẬP HỌC KỲ MƠN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt.

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,

thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).

Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là

cấp xã).

Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.1

1.2. Những văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa

án

Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính được

quy định tại Chương II Luật Tố tụng hành chính năm 2015, gồm có 6 điều (từ Điều 30

đến Điều 35) trong đó điều 30 nêu rõ :

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định:

“Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định,

hành vi sau đây:

a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước

trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;

b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành

chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;

c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ

chức.”

Như vậy, từ căn cứ trên ta thấy trong các khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Tòa

Hành chính thì có loại khiếu kiện là quyết định hành chính.

Quyết định hành chính bao gồm 3 loại đó là: quyết định quy phạm, quyết định

chủ đạo và quyết định áp dụng pháp luật. Trong đó quyết định quy phạm chính là một

loại văn bản quy phạm pháp luật.

Như vậy, Tòa Hành chính cũng có thẩm quyền xét xử đối với các văn bản quy

phạm pháp luật mà cụ thể là quyết định quy phạm

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 31 và khoản 1 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm

2015 quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh như

sau:

“Tòa án cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính

nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án

hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đó, trừ quyết định



1 Xem thêm Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.



2



BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban

nhân dân cấp huyện.”

“Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang

bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm

tốn nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định

hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người

khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành

chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện khơng có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc

trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan,

người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính.”

Như vậy, tư hai căn cứ trên kết hợp với Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm

pháp luật năm 2015 thì ta có thể liệt kê được các văn bản quy phạm pháp luật có thể

thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đó là:

- Quyết định của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng

Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm tốn nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao,

Viện kiểm sát nhân dân tối cao và của người có thẩm quyền trong cơ quan đó;

- Quyết định của của cơ quan nhà nước cấp tỉnh và của người có thẩm quyền

trong cơ quan đó;

- Quyết định của cơ quan nhà nước cấp huyện và của người có thẩm quyền trong

cơ quan đó;

- Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã và của người có thẩm quyền trong cơ

quan đó.

Ngồi ra, Luật tố tụng hành chính năm 2015 có quy định tại khoản 2 Điều 6 về

nguyên tắc: Xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, hành vi

hành chính có liên quan trong vụ án hành chính. Điều luật quy định: “Tòa án có quyền

kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn

bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện văn bản đó có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật,

văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Cơ quan, cá nhân có

thẩm quyền có trách nhiệm trả lời làm cơ sở để Tòa an giải quyết vụ án”

Theo đó, khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết

vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của

cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án thực hiện việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc

bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có vi phạm theo trình tự thủ

tục sau đây (Điều 111):



3



BÀI TẬP HỌC KỲ MƠN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

- Trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Chánh an Tòa án đang

giải quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có

thẩm quyền thực hiện việc kiến nghị;

- Trường hợp đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc vụ án đang được xem xét

theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm thì Hội đồng xét xử đề nghị Chánh an Tòa án

đang giải quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền

thực hiện việc kiến nghị.

2. Đánh giá các quy định pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng

hành chính đối với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

2.1. Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 ngồi việc tiếp tục kế thừa các quy

định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 về những khiếu kiện thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án, thì còn có những sửa đổi, bổ sung sau:

Thứ nhất, điều luật bổ sung quy định loại trừ đối tượng khởi kiện vụ án hành

chính (VAHC) đối với quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử

lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng.

Để tăng cường tính minh bạch, công khai, đảm bảo quyền của những người tham

gia tố tụng, trong quá trình xây dựng dự án Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi), có ý

kiến đề nghị cần mở rộng hơn nữa thẩm quyền của Tòa án đối với khiếu kiện quyết

định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức, kể cả các

quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức (mà không chỉ giới hạn quyết định kỷ

luật buộc thôi việc như hiện nay); quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng

biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, điều

luật đã không mở rộng thẩm quyền của Tòa án đối với các quyết định hành chính,

hành vi hành chính này với các lý do:

- Việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án đối với khiếu kiện hành chính về quyết

định hành chính và hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức sẽ dẫn

tới sự can thiệp quá sâu vào hoạt động quản lý, điều hành và khơng bảo đảm tính ổn

định, tính có trật tự trong cơng tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của cơ quan, tổ chức.

- Các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án là hành vi vi phạm nghĩa vụ

của người tham gia tố tụng, cá nhân, cơ quan, tổ chức, gây khó khăn, trở ngại cho Tòa

án khi giải quyết các vụ việc, ảnh hưởng đến thời gian, chất lượng, hiệu quả giải quyết

vụ việc. Việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng này cần phải được thực hiện

nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án giải quyết vụ việc. Mặt khác, nếu đây

cũng là đối tượng khởi kiện VAHC thì có nghĩa là Tòa án phải xem xét, phán quyết về



4



BÀI TẬP HỌC KỲ MƠN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

quyết định do chính Tòa án ban hành là không khách quan, không khả thi và không

phù hợp với thực tiễn.

- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng,

đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc thẩm quyền

của Tòa án, không thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp

huyện, cấp tỉnh như quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính trước đây.

Quyết định áp dụng các biện pháp này không phải là quyết định hành chính nên khơng

thuộc đối tượng khởi kiện. Mặt khác, trình tự, thủ tục và thẩm quyền quyết định áp

dụng các biện pháp xử lý hành chính này được quy định trong Luật Xử lý vi phạm

hành chính năm 2012 và Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các

biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014; nếu có khiếu nại thì do Tòa

án có thẩm quyền phúc thẩm giải quyết.

Thứ hai, thực hiện khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 về việc quyền con

người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, trong quá trình

xây dựng dự án Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi), có ý kiến đề nghị cần luật hóa danh

mục các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước

trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao khơng thuộc thẩm quyền giải quyết

của Tòa án. Tuy nhiên, để phù hợp với thực tiễn áp dụng, nhiều ý kiến đề nghị khơng

cụ thể hóa mà danh mục này sẽ theo quy định của văn bản pháp luật về bảo vệ bí mật

nhà nước. Cho nên, điểm a khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã sửa

đổi đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước

trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao là “theo quy định của pháp luật”

chứ khơng phải là do Chính phủ quy định như trước đây.

Thứ ba, nhằm mở rộng đối tượng khởi kiện VAHC là “danh sách cử tri trưng cầu

ý dân” cho phù hợp với quy định của Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, khoản 4 Điều

30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã bỏ cụm từ “bầu cử đại biểu Quốc hội, danh

sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân” ở khoản 2 Điều 28 Luật Tố tụng hành

chính năm 2010 và sửa đổi lại là “Khiếu kiện danh sách cử tri”.

2.2. Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh

So với các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Điều 31 và Điều 32

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung cơ bản để phân định rõ

thẩm quyền giải quyết các VAHC giữa Tòa án cấp huyện với Tòa án cấp tỉnh:

Thứ nhất, có sự thay đổi lớn về thẩm quyền giải quyết các VAHC của Tòa án

cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Đó là, đối với

quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp

huyện thì thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc về Tòa án cấp tỉnh chứ

5



BÀI TẬP HỌC KỲ MƠN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

khơng còn thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện như quy định của Luật Tố tụng

hành chính năm 2010. Quy định này có ý nghĩa trong việc thúc đẩy dân chủ, công

khai, minh bạch nền hành chính; tạo điều kiện để thẩm phán thực hiện tốt nguyên tắc

độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Việc thay đổi về thẩm quyền giải quyết này xuất

phát từ những lý do sau:

- Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải

cách tư pháp đến năm 2020 xác định tăng thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện,

nhưng cần phải có lộ trình thực hiện và phải bảo đảm hiệu quả, chất lượng giải quyết

các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhằm bảo vệ tốt nhất quyền con

người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013.

- Thực tiễn xét xử các VAHC cho thấy, đa số các khiếu kiện đối với quyết định

hành chính, hành vi hành chính của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện liên

quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, có tính chất phức tạp và việc giải quyết

có liên quan đến người bị kiện là người có chức vụ, quyền hạn, nên cần thẩm phán có

kiến thức chuyên sâu, có kinh nghiệm và bản lĩnh thì việc giải quyết vụ án mới đạt

hiệu quả cao. Việc giải quyết các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành

chính ở cấp huyện hiện nay chưa bảo đảm chất lượng; tỷ lệ án bị hủy, sửa cao.

- Việc giao cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính,

hành vi hành chính của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện sẽ khắc phục

tình trạng e ngại, nể nang của thẩm phán trong việc xét xử; nếu có kháng cáo, kháng

nghị thì sẽ do Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc

thẩm, nên tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử của các thẩm phán sẽ

cao hơn, bảo đảm việc giải quyết khách quan, hiệu quả hơn.

- Mặt khác, theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và các

luật tố tụng mới được ban hành thì Tòa án cấp tỉnh khơng còn chức năng giám đốc

thẩm. Do vậy, việc giao cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết khiếu kiện quyết định hành

chính, hành vi hành chính của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện sẽ không

gây quá tải về công việc cho Tòa án cấp tỉnh.

Để bảo đảm tính khả thi và có lộ trình trong q trình thi hành các quy định của

Luật Tố tụng hành chính năm 2015, khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13

ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính quy định: Kể

từ ngày 01/7/2016, đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành

chính của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện đã được Tòa án cấp huyện

thụ lý giải quyết trước ngày 01/7/2016 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ

tục chung mà khơng chuyển cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết.



6



BÀI TẬP HỌC KỲ MƠN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Thứ hai, khoản 8 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Trường

hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm

quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại Điều 31 của Luật này”. Quy

định này đã được hướng dẫn tại Điều 4 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày

29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một

số quy định của Luật Tố tụng hành chính (Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP). Theo

các nội dung đã được hướng dẫn thì các khiếu kiện sau đây cũng thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án cấp tỉnh:

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền giải

quyết của Tòa án cấp huyện mà các thẩm phán của Tòa án cấp huyện đó đều thuộc

trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi;

- Vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho

cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước

ngồi hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngồi.

2.3. Xác định thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có

đơn khởi kiện

Nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và luật hóa các quy

định của pháp luật còn phù hợp, trên cơ sở hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết số

02/2011/NQ-HĐTP, Điều 33 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã xác định rõ thẩm

quyền của Tòa án giải quyết theo sự lựa chọn của người khởi kiện trong trường hợp

người khởi kiện vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện VAHC tại Tòa án, cụ thể

là:

- Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện VAHC tại Tòa án có thẩm quyền,

đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án

phải yêu cầu người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết và có văn bản thơng báo cho

Tòa án.

Trường hợp người khởi kiện khơng thể tự mình làm văn bản thì Tòa án lập biên

bản về việc lựa chọn cơ quan giải quyết như sau:

+ Nếu người khởi kiện lựa chọn Tòa án giải quyết thì Tòa án thụ lý giải quyết vụ

án theo thủ tục chung, đồng thời thơng báo cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu

nại và yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chuyển toàn bộ hồ sơ giải

quyết khiếu nại cho Tòa án;

+ Nếu người khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải

quyết thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.

- Trường hợp nhiều người vừa khởi kiện VAHC tại Tòa án có thẩm quyền, đồng

thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và tất cả những

người này đều lựa chọn một trong hai cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì thẩm

7



BÀI TẬP HỌC KỲ MƠN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

quyền giải quyết được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Tố tụng hành

chính năm 2015.2

- Trường hợp nhiều người vừa khởi kiện VAHC tại Tòa án có thẩm quyền, đồng

thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, trong đó có người

lựa chọn Tòa án giải quyết và có người lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu

nại hoặc trường hợp có người chỉ khởi kiện VAHC tại Tòa án có thẩm quyền và người

khác chỉ khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thẩm quyền giải

quyết được xác định như sau:

+ Nếu quyền lợi, nghĩa vụ của người khởi kiện và người khiếu nại độc lập với

nhau thì việc giải quyết yêu cầu của người khởi kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án,

còn việc giải quyết khiếu nại của những người khiếu nại thuộc thẩm quyền của người

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;

+ Nếu quyền lợi, nghĩa vụ của người khởi kiện và người khiếu nại khơng độc lập

với nhau thì Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung, đồng thời thơng báo

cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và yêu cầu chuyển toàn bộ hồ sơ giải

quyết khiếu nại cho Tòa án.

- Trường hợp người khởi kiện khơng lựa chọn cơ quan giải quyết thì Tòa án trả

lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.

2.4. Chuyển vụ án cho Tòa án khác và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền

- Việc chuyển vụ án cho Tòa án khác trong trường hợp Tòa án đã thụ lý VAHC

nhưng sau đó phát hiện đây là vụ án khác hoặc thuộc thẩm quyền của Tòa án khác đã

được hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP. Các nội dung này đã

được luật hóa tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính năm 2015,

cụ thể là:

+ Trong q trình giải quyết VAHC theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án xác định vụ án

đó khơng phải là VAHC mà là vụ án dân sự và việc giải quyết vụ án này thuộc thẩm

quyền của mình, thì Tòa án giải quyết vụ án đó theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng

dân sự quy định, đồng thời thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

+ Trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ

xác định việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì thẩm phán được

phân cơng giải quyết VAHC ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm

quyền và xóa sổ thụ lý, đồng thời thơng báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

+ Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ

xác định việc giải quyết VAHC thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì Tòa án phải mở



2 ThS. Nguyễn Mạnh Hùng, "Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành



chính - Sự kế thừa, phát triển và những nội dung cần tiếp tục được hồn thiện", Tạp chí Luật học,

(9/2011), tr. 35.

8



BÀI TẬP HỌC KỲ MƠN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

phiên tòa để Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc xét xử, chuyển hồ sơ vụ án

cho Tòa án có thẩm quyền.

+ Khi xét xử phúc thẩm VAHC mà xác định vụ án thuộc trường hợp quy định tại

khoản 1 và khoản 2 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì Tòa án cấp phúc

thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền

xét xử sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật.

+ Khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm VAHC mà xác định vụ án thuộc trường

hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì

Tòa án xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp

luật và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm để giải quyết sơ

thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật.

- Để thống nhất với các quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về

cơ cấu, tổ chức và thẩm quyền của các Tòa án, khoản 7 Điều 34 Luật Tố tụng hành

chính năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải

quyết VAHC giữa các Tòa án, cụ thể là:

+ Chánh án Tòa án cấp tỉnh giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết

VAHC giữa các Tòa án cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương;

+ Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải

quyết VAHC giữa các Tòa án cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương khác nhau; giữa các Tòa án cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của

Tòa án nhân dân cấp cao;

+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa

các Tòa án cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau, Tòa

án cấp tỉnh thuộc thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của các Tòa án nhân dân cấp cao

khác nhau.

2.5. Nhập hoặc tách vụ án hành chính

Để tránh việc áp dụng tùy tiện và phù hợp với thực tiễn, trên cơ sở hướng dẫn tại

Điều 7 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP, Điều 35 Luật Tố tụng hành chính năm 2015

đã quy định cụ thể việc nhập hoặc tách VAHC là:

- Tòa án nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Tòa án đã thụ lý riêng biệt thành một vụ

án để giải quyết bằng một VAHC khi có đủ các điều kiện sau đây:

+ Các vụ án thụ lý riêng biệt chỉ có một người khởi kiện đối với nhiều quyết định

hành chính, hành vi hành chính đều do một cơ quan, tổ chức hoặc một người có thẩm

quyền trong cơ quan, tổ chức ban hành, thực hiện và có mối liên hệ mật thiết với nhau

hoặc các vụ án thụ lý riêng biệt có nhiều người khởi kiện đối với cùng một quyết định

hành chính hoặc hành vi hành chính;

9



BÀI TẬP HỌC KỲ MƠN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

+ Việc nhập hai hay nhiều VAHC thành một VAHC phải bảo đảm việc xét xử

được nhanh chóng, hiệu quả, triệt để và khơng vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.

- Tòa án tách một vụ án có các yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều VAHC

khác nhau để giải quyết trong trường hợp quyết định hành chính bị khởi kiện liên quan

đến nhiều người khởi kiện và quyền lợi, nghĩa vụ của những người khởi kiện đó khơng

liên quan với nhau.

3. Giải pháp hồn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng

hành chính đối với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, để đảm bảo việc xác định thẩm quyền của tòa án một cách thống

nhất và chính xác, cần quy định và giải thích một cách rõ ràng, minh bạch các thuật

ngữ “ quyết định hành chính, hành vi hành chính; quyết định, hành vi có tính chất nội

bộ”, “ cơ quan khác”. Các khái niệm này một phần đã được giải thích trong luật nhưng

các địa phương khác nhau trên thực tế vẫn có trường hợp áp dụng sai, vì vậy tòa án

nhân dân tối cao với tư cách là cơ quan hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp

luật cần giải thích và hướng dẫn cụ thể, rõ ràng tạo thuận lợi cho q trình thụ lí và xét

xử hành chính.

Thứ hai, vận dụng kinh nghiệm các nước, Việt nam nên quy định thẩm quyền

cho Tòa án xem xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính quy phạm có liên

quan đến một vụ kiện hành chính cụ thể, được phát hiện trong quá trình giải quyết vụ

việc. Ví dụ, khi có một quyết định hành chính bị khiếu kiện thì Tòa án phải xem xét

quyết định đó căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào để ban hành. Và trong quá

trình tuyên án, đồng thời với việc hủy bỏ quyết định hành chính cá biệt, đồng thời ra

phán quyết với quyết định hành chính quy phạm có liên quan, yêu cầu cơ quan đã ban

hành văn bản quy phạm đó hoặc cơ quan cấp trên sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định quy

phạm đó; cần xem xét giao cho Tòa án có quyền giải quyết những khiếu kiện đối với

các văn bản pháp quy, trước mắt là của UBND các cấp, về một số lĩnh vực liên quan

mật thiết đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Việc này sẽ tạo ra một cơ chế

mới, khách quan, công bằng và hiệu quả hơn để giải quyết các khiếu kiện đông người

mà hiện đang xảy ra ở hầu hết các địa phương trên cả nước, qua đó góp phần ổn định

tình hình, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội. Đây đồng thời cũng sẽ là

một hình thức kiểm tra, đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp đối với hoạt động ban hành

văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền địa phương. 3

3 Khoa Luật – Đại học Vinh, Bàn về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa án Nhân



dân ở nước ta, http://khoaluat.vinhuni.edu.vn/nghien-cuu-khoa-hoc/seo/bai-viet-ban-ve-tham-quyenxet-xu-so-tham-vu-an-hanh-chinh-cua-tand-o-nuoc-ta-hien-nay-79198, ngày 26/3/2019.

10



BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Luật Tố tụng hành chính nên giao cho tòa án thẩm quyền xét xử cả các quyết

định hành chính mang tính chất nội bộ của cơ quan như quyết định về tuyển dụng công

chức, quyết định luân chuyển công chức và một số quyết định khác liên quan đến công

tác tổ chức cán bộ… Bởi lẽ điều này sẽ giúp kiểm sốt cơng khai tình trạng tiêu cực

trong thi tuyển cán bộ, công chức và chạy chức, chạy quyền trong xã hội

Thứ ba, về thẩm quyền ra phán quyết của Tòa án, cần quy định nội dung bản án

được tuyên một cách rõ ràng. Theo quy định, tòa án nhân dân ở nước ta chỉ tun về

tính hợp pháp của quyết định hành chính nhằm đảm bảo quyền tư phán không lấn sâu

vào quyền hành pháp, nhưng phải có cơ chế cụ thể, nghiêm minh để buộc cơ quan

hành chính và các đối tượng có liên quan nghiêm chỉnh chấp hành phán quyết của Tòa

án.Vấn đề này có thể vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc, Nhật Bản đặt ra các biện

pháp cưỡng chế cần thiết: Áp dụng một khoản tiền phạt nhất định mỗi ngày đối với

các chủ thể không thi hành bản án đúng thời hạn quy định; Yêu cầu cơ quan cấp trên

chịu trách nhiệm trong việc kiểm tra công tác thi hành án của cơ quan cấp dưới và xử

lí đối với cơ quan, cá nhân cố tình khơng thi hành bản án; đề nghị truy cứu trách nhiệm

hình sự đối với người đứng đầu cơ quan hoặc cán bộ vi phạm công tác thi hành án để

lại hậu quả nghiệm trọng.

Luật Tố tụng hành chính cần sửa đổi theo hướng gắn trách nhiệm của tòa với

việc thi hành án hành chính. Theo đó, ngồi việc xét xử thì tòa còn phải ban hành

quyết định thi hành án hành chính và buộc người thua kiện thi hành. Ngoài ra, cũng

cần gắn trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên theo hướng trong một

số trường hợp luật định, cơ quan này phải trực tiếp ban hành quyết định thi hành án

hành chính buộc cấp dưới phải thi hành theo bản án đã có hiệu lực của tòa.

Thứ tư, tòa án các cấp tiến hành tổ chức tập huấn, trau đồi kiến thức sâu về quản

lí hành chính, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, thường xuyên tổ

chức rút kinh nghiệm đối với những vụ án có sai sót; trao đổi thống nhất hướng dẫn

của Tòa án cấp trên về những vướng mắc trong quá trình xét xử liên quan đến thẩm

quyền xét xử. Có thể kéo dài việc bổ nhiệm nhiệm kì thẩm phán 10 năm, chúng ta nên

tham khảo học hỏi kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề này. Nhà nước cần chú trọng

nâng cao chất lượng xét xử của đội ngũ thẩm phán cấp huyện, giao cho Tòa án cấp

huyện giải quyết các khiếu kiện hành chính của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND

cấp huyện là hoàn toàn hợp lý; tạo điều kiện để đội ngũ thẩm phán phát huy hết năng

lực, tài năng, đạo đức của mình để bảo vệ cơng lý. Về lâu dài, cần tiếp tục nghiên cứu

mơ hình tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực nhằm tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung quy định pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng hành chính đối với văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×