Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



lý chi NSNN chưa được khắc phục, tình trạng thất thốt, lãng phí trong quản

lý và sử dụng vốn còn xảy ra phổ biến. Do đó, việc hồn thiện hoạt động kiểm

sốt chi thường xun NSNN qua KBNN ln được quan tâm nghiên cứu, có

thể kể đến một số đề tài nghiên cứu sau:

- Các luận văn cao học được bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế Đà

Nẵng

[1]. Luận văn cao học “ Hồn thiện cơng tác KSC thường xuyên NSNN

qua KBNN Cẩm Lệ” của học viên Huỳnh Vũ năm 2014 bảo vệ tại trường Đại

Học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng. Trong đề tài này tác giả nghiên cứu, phân

tích, đánh giá khá chi tiết thực trạng cơng tác KSC thường xun NSNN, qua

đó đề xuất những những giải pháp phù hợp để hồn thiện cơng tác này. Tuy

nhiên, việc phân tích chưa thực sự gắn với lý luận về nội dung công tác KSC

thường xuyên NSNN qua KBNN đã được tác giả trình bày trong phần cơ sở

lý luận

[2]. Luận văn cao học “Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” năm 2015 của tác giả Lê Xuân Tuấn, bảo vệ tại

trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng. Qua tổng hợp lý luận và thực

trạng KSC thường xuyên qua KBNN Đắk Nơng, tác giả làm rõ vai trò, vị thế

và trách nhiệm của KBNN Đắk Nông trong việc quản lý và KSC thường

xuyên NSNN cũng như trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách, đồng thời

đánh giá được những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại. Tuy nhiên

những nghiên cứu phân tích và giải pháp của tác giả chỉ đúng với thời điểm

mà tác giả nghiên cứu, chưa thực sự phù hợp với cơ chế đổi mới và cải cách

hành chính mới đây.

[3]. Luận văn cao học “Kiểm sốt chi NSNN qua KBNN Krơng Bông,

tỉnh Đắk Lắk” năm 2015 của tác giả Huỳnh Duy Trung bảo vệ tại trường Đại

học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng. Đề tài thực hiện nghiện cứu thực trạng KSC



13



NSNN qua KBNN Krông Bông với các phương pháp và tiêu chí khác nhau đã

giúp tác giả có cái nhìn tổng quan và rõ nét nhất về tình hình cơng tác kiểm

sốt chi thường xun từ đưa ra những khuyến nghị để hồn thiện cơng tác

KSC NSNN qua KBNN Krơng Bơng. Tuy nhiên, việc phân tích, đánh giá, và

đưa ra các giải pháp của tác giả chỉ nằm trong phạm vi nghiên cứu địa bàn

huyện. Vì vậy, nếu áp dụng cho KBNN tỉnh, thành phố sẽ khơng còn phù hợp

[4]. Luận văn cao học “Hồn thiện cơng tác kiểm sốt chi thường xun

NSNN qua KBNN Bn Đơn, Tỉnh Đắk Lắc” năm 2017 của tác giả Nguyễn

Quốc Thắng bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng. Đề tài đã

làm rõ được cơ sở lý luận khá chi tiết, đưa ra những chỉ tiêu đánh giá công tác

KSC thường xuyên NSNN qua KBNN làm căn cứ để phân tích thực trạng

KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Buôn Đôn và đưa ra những giải pháp

phù hợp với nơi nghiên cứu. Tuy nhiên phần phân tích tực trạng còn thiên về

mơ tả, thiếu sự phân tích, nhận xét, đánh giá.

[5]. Luận văn cao học “Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

Đăk R’ Lấp, tỉnh Đắk Nông” năm 2017 của tác giả Lê Thị Ngọc Quỳnh bảo

vệ tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng. Cũng như các luận căn ở

trên tác giả cũng thực hiện nghiên cứu làm rõ thực trạng KSC NSNN qua

KBNN Đăk R’ Lấp, tỉnh Đắk Nông, việc sử dụng các phương pháp nghiên

cứu đa dạng và các nguồn dữ liệu thu thập được tác giả đã đưa ra được những

ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong thực trạng KSC thường xuyên NSNN

tại nơi nghiên cứu và đưa ra những khuyến nghị để hồn thiện cơng tác KSC

thường xun NSNN qua KBNN Đắk R’ Lấp. Tuy nhiên, trong phần trình bày

hạn chế công tác KSC thường xuyên NSNN tác giả có đề cập đến vấn đề cấp

phát thanh tốn ghi thu – ghi chi, nhưng phần khuyến nghị tác giả vẫn chưa

đưa ra được giải pháp hoàn thiện vấn đề này.

6. Luận văn cao học “Hồn thiện cơng tác quản lý chi NSNN tại Huyện



14



Bắc Trà My, Tỉnh Quảng Nam ” năm 2017 của tác giả Phan Duy Hưng bảo vệ

tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng. Đề tài thực hiện nghiện cứu

làm rõ được thực trạng quản lý chi NSNN tại Huyện Bắc Trà My, Tỉnh Quảng

Nam và đưa ra những khuyến nghị để hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN

tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, cũng như các bài luận văn

ở trên, tác giả đưa ra rất nhiều hạn còn tồn tại, nhưng phần giải pháp vẫn chưa

đi sâu hướng tới hoàn thiện những hạn chế này

- Các bài nghiên cứu được đăng trên “Tạp chí Ngân quỹ Quốc Gia”

[1]. Tác giả Dương Thanh Bình với bài viết “Giải pháp nâng cao hiệu

quả quy trình giao dịch một cửa” trên tạp chí Quản lý ngân quỹ quốc gia số

178 tháng 04/2017. Bài viết phân tích đánh giá kết quả thực hiện quy trình

một cửa trong KSC thường xuyên theo quyết định số 1116/QĐ – KBNN ngày

24/11/2009, tuy nhiên tác giả cũng nêu một số hạn chế và đưa ra những biện

pháp để tháo gỡ.

[2]. Tác giả Võ Thị Thu Thủy – Phan Thị Thanh Thảo với bài viết “Thực

hiện Kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN Bến Tre: kết quả và kiến nghị”

trên Tạp chí: Quản lý Ngân quỹ quốc gia số 180 tháng 6 năm 2017. Trong bài

viết này tác giả đã phân tích, đánh giá tình hình kiểm soát chi thường xuyên

của KBNN Bến Tre và đưa ra các kiến nghị nhằm hồn thiện hơn cơng tác

KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Bến Tre trong bối cảnh Bộ tài chính

ban hành thơng tư 39 ngày 01/03/2016 sửa đổi bổ sung thông tư 161/2012/TT

– BTC quy định chế độ kiểm soát thanh toán các khoản chi qua KBNN.

[3]. Tác giả Vũ Nguyệt Vân với bài viết “Đơn giản hóa thủ tục hành

chính trong thu, chi NSNN” số 185 tháng 11/2017, tác giả cho rằng với sự

phát triển kinh tế đất nước hiện nay, KBNN là một trong những cơ quan đầu

não, vậy cần phải cải cách thủ tục hành chính hơn nữa để có thể hội nhập sự

phát triển kinh tế một cách dễ dàng.



15



[4]. Tác giả THS. Lương Thị hồng Thúy – Nguyễn Thị Cẩm Bình với bài

viết “Kết quả triển khai thí điểm thống nhất đầu mối kiểm soát chi và kế hoạch

triển khai diện rộng” số 182 tháng 08/2017, bài viết phân tích tình hình thực

hiện công tác thống nhất đầu mối KSC ở một số tỉnh thí điểm, nêu lên những

kết quả đã được được cũng như những khó khăn khi triển khai dự án. Từ đó

nêu kế hoạch thực hiện cụ thể cho cả hệ thống trong những năm tiếp theo.

[5]. Tác giả Lâm Hồng Cường với bài viết “giải pháp hạn chế chi NSNN

qua KBNN bằng tiền mặt” số 182 tháng 08/2018, bài viết phân tích ý nghĩa

quan trọng trong việc khơng dùng tiền mặt trong giao dịch đồng thời so sánh

giữa chi bằng tiền mặt và không dùng tiền mặt, từ đó đưa ra những giải pháp

nhằm hạn chế việc chi bằng tiền mặt qua KBNN.

- Các bài nghiên cứu được đăng trên “Tạp chí Tài chính”

[1]. Bài đăng trên tạp chí tài chính kỳ 2 tháng 2 năm 2018 đề cập đến

vấn đề “Tăng cường kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN qua KBNN”

trong bài viết tác giả cũng đề cập đến những chuyển biến tích cực trong hoạt

động kiểm soát chi trong năm qua, nhưng cũng nêu lên được những khó khăn,

vướng mắc và đưa ra những định hướng trong năm 2018.

[2]. Bài đăng trên tạp chí tài chính tháng 7/2017 của PGS.TS. Lâm Chí

Dũng – Đại học Đà Nẵng, TS. Phan Quảng Thống – PGĐ KBNN Đà Nẵng với

bài nghiên cứu “Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý quỹ ngân sách

nhà nước của Kho bạc nhà nước” trong bài nghiên cứu tác giả đã đưa ra thực

trạng quản lý quỹ ngân sách nhà nước trong giai đoạn hiện nay, phân tích được

những vấn đề đã đạt được và những vấn đề còn khó khăn vướng mắc trong việc

dùng những tiêu chí hiện có để đánh giá hiệu quả. Từ đó, tác giả đưa ra hệ tiêu

chí mới góp phần đánh giá hiệu quả quản lý ngân quỹ rõ ràng hơn.





Khoảng trống nghiên cứu:

Nhìn chung các cơng trình nói trên đề cập đến những khía cạnh, góc độ,



16



phạm vi khơng gian và thời gian khác nhau cả về lý thuyết và thực tiễn liên

quan đến hoạt động KSC nói chung và KSC thường xuyên NSNN qua KBNN

nói riêng.

- Về mặt lý thuyết: hiện nay với việc các quy định, các văn bản pháp quy

mới chính thức có hiệu lực, đặc biệt là luật ngân sách 2015, nghị định 163,

thông tư 324 về thay đổi mục lục ngân sách làm thay đổi cách hạch toán của

các khoản chi thay ngân sách rất nhiều so với những văn bản pháp quy cũ đã

hết hiệu lực như luật ngân sách 2003, nghị định 60, thông tư 59. Vì vậy, các

nghiên cứu trên chưa cập nhật đầy đủ những đổi mới trong hoạt động KSC

thường xuyên NSNN qua KBNN như hiện nay

- Về mặt thực tiễn: các công trình nghiên cứu trước đây, chưa có cơng

trình nào đánh giá chuyên sâu thực trạng KSC thường xuyên NSNN qua

KBNN Đà Nẵng nhằm hồn thiện cơng tác này một cách hệ thống, đầy đủ cả

về lý luận, xây dựng hệ thống chỉ tiêu, quy trình để hoạt động KSC hiệu quả

hơn. Mặc khác, những khuyến nghị của các tác giả trên khơng còn phù hợp

với thực tiễn hiện nay khi mà yêu cầu thực hiện cải cách hành chính được

thực hiện ngày càng mạnh mẽ.



17



CHƯƠNG 1



CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KBNN

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI NSNN

1.1.1. NSNN và chi NSNN

a. Khái niệm NSNN

Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một phạm trù kinh tế lịch sử gắn liền

với sự ra đời của Nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Qua chắt

lọc, đúc kết từ những kinh nghiệm và thực tế hình thành NSNN của các nước

trên thế giới; ứng với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử Việt Nam và

điều kiện kinh tế của Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam đã cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Luật NSNN trong đó NSNN

được quy định như sau:

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự

toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của

Nhà nước. (Khoản 14, điều 4,Luật NSNN số 83/2015/QH13)

NSNN phản ánh mối qua hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể kinh

tế-xã hội trong phân phối tổng sản phẩm xã hội thông qua việc tạo lập sử

dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước chuyển dịch một bộ phận thu nhập

bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước

chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể thụ hưởng nhằm thực hiện các chức

năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

NSNN là nơi biểu hiện tập trung nhất các mối quan hệ kinh tế. Hoạt

động của NSNN khơng hề mang tính tự phát hoặc nằm ngồi sự kiểm soát của

Nhà nước



18



b. Chi NSNN

- Khái niệm

Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập

trung được vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và

xã hội của Nhà nước trong từng công việc cụ thể. Chi NSNN có quy mơ rộng

và mức độ rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, tại các địa phương và các cơ

quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.

- Vai trò chi NSNN

Thứ nhất, chi thường xun có tác động trực tiếp đến đến việc thực hiện

các chức năng của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những

nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý

Nhà nước.

Thứ hai, chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn

định và điều chỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực

hiện các chính sách xã hội… góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.

Thứ ba, thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện điều tiết, điều

chỉnh thị trường để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước.

Thứ tư, chi thường xun là cơng cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc

phòng, an ninh.

- Đặc điểm chi NSNN

Trong mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, chi NSNN mang những

nội dung cơ cấu khác nhau, song chúng đều có cùng những đặc điểm sau:

Thứ nhất, chi NSNN ln gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ

kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước phải đảm đương trong thời kỳ. Nhà

nước với bộ máy càng lớn thì phải đảm đương càng nhiều nhiệm vụ thì mức

độ và phạm vi chi của NSNN càng lớn.

Thứ hai, các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×