Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Căn cứ vào thời gian cho vay:

+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường

được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh

nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng cá nhân.

+ Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại tín

dụng này được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải

tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các cơng trình nhỏ, các dự án vừa

phải có thời gian thu hồi vốn nhanh.

+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này



H

U







được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất

có quy mơ lớn, có thời gian thu hồi vốn lâu hơn.



TẾ



- Căn cứ vào mục đích sử dụng:



KI

N



H



+ Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thơng hàng hố: là loại tín dụng được

cung cấp cho các nhà doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và





C



lưu thơng hàng hố.



H



+ Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng sử dụng cho cá nhân để đáp ứng



ẠI



các nhu cầu tiêu dùng. Ngày nay, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những



G



Đ



xu hướng phát triển và trở thành một thị trường tín dụng rộng lớn. Tuy nhiên do



N



tính chủ động của việc sử dụng vốn, nguồn trả nợ từ cá nhân, ngân hàng khó đánh



Ư







giá hiệu quả nên loại tín dụng này có mức độ rủi ro cao hơn.



TR



- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:

+ Tín dụng có đảm bảo: là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi người vay

vốn phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba.

+ Tín dụng khơng đảm bảo (tín chấp): là loại tín dụng khơng có tài sản thế

chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín

của bản thân khách hàng.

- Căn cứ vào phương pháp hồn trả:

+ Tín dụng trả góp theo định kỳ: là loại tín dụng mà khách hàng phải hồn

trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.



6



+ Tín dụng trả góp: là loại tín dụng được thanh tốn một lần theo kỳ hạn đã

thoả thuận.

+ Tín dụng hồn trả theo u cầu: là loại hình tín dụng mà người vay có thể

hồn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập.

- Bảo lãnh: là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc

thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng

không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.

1.1.2. Rủi ro tín dụng.

1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.



H

U







Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài

sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm



TẾ



một khoản chi phí để có thể hồn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Rủi



KI

N



H



ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách

hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.





C



Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh



H



đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất



ẠI



lớn. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng



G



Đ



rủi ro hoạt động ngân hàng. Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ



N



ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định



Ư







trước trong chiến lược hoạt động chung. Do vậy, khi tổn thất dưới mức tỷ lệ tổn thất



TR



dự kiến, ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lý.

Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 Quy

định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và

việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi

nhánh ngân hàng nước ngoài của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng

trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra

đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi do khách hàng

khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện một phần hoặc tồn bộ nghĩa vụ

của mình theo cam kết.



7



Theo quan niệm của Ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách

hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa

thuận”. Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, khơng chỉ trong

quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác

như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Tuy nhiên, như đã giới thiệu trong

phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt

động cấp tín dụng của ngân hàng, vì vậy rủi ro tín dụng có thể hiểu đơn giản là sự

phạm khơng hồn trả nợ từ phía khách hàng vay.

1.1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng.



H

U







Việc xây dựng các tiêu chí phân loại RRTD chính là cơ sở quan trọng để

thiết lập chính sách Quản trị RRTD, quy trình và mơ hình Quản trị RRTD của hệ



TẾ



thống ngân hàng. Có nhiều tiêu chí để làm căn cứ phân loại RRTD, thông qua phân



KI

N



H



loại RRTD, ngân hàng nhận biết đầy đủ nguyên nhân rủi ro và phân biệt được

những rủi ro phát sinh trong các giai đoạn thực hiện nghiệp vụ tín dụng. Tuy nhiên,





C



phổ biến nhất là cách phân loại căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD



H



được phân loại như sau:



ẠI



a. Rủi ro giao dịch.



G



Đ



Rủi ro giao dịch là rủi ro liên quan đến từng khoản tín dụng cụ thể hoặc



N



từng khách hàng cụ thể khi ngân hàng ra quyết định cấp một khoản tín dụng mới



Ư







cho khách hàng. Đây là rủi ro cá biệt của từng khoản tín dụng và nguyên nhân phát



TR



sinh từ sai sót, hạn chế trong q trình tác nghiệp như đánh giá, thẩm định để quyết

định cấp tín dụng, kiểm sốt q trình giải ngân, kiểm sốt mục đích sử dụng vốn và

kiểm sốt bảo đảm tài sản thế chấp, kiểm soát nghĩa vụ của khách hàng trong hợp

đồng tín dụng (HĐTD). Rủi ro giao dịch được phân thành 3 loại, bao gồm:

- Rủi ro xét duyệt: là rủi ro có liên quan đến q trình thu thập số liệu,

thơng tin để đánh giá và phân tích tín dụng từ đó ra quyết định cho vay. Sai sót

trong q trình tác nghiệp đã dẫn đến việc đưa ra quyết định cho vay thiếu chính

xác hoặc kém hiệu quả.



8



- Rủi ro kiểm sốt: hay còn được gọi là rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan

đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay. Rủi ro kiểm soát bao gồm

việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản nợ vay có vấn đề.

- Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều

khoản trong hợp đồng tín dụng, các tài sản bảo đảm, hình thức bảo đảm, chủ thể bảo

đảm và tỷ lệ vốn vay so với giá trị của tài sản bảo đảm.

b. Rủi ro danh mục tín dụng.

Rủi ro danh mục tín dụng là rủi ro liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín

dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng. Rủi ro này thường phát sinh do đặc



H

U







thù cá biệt của từng loại hình tín dụng hoặc phát sinh do thiếu đa dạng hóa danh



TẾ



mục tín dụng. Rủi ro danh mục tín dụng được phân thành 3 loại, bao gồm:

- Rủi ro nội tại: hay còn gọi là rủi ro cá biệt, rủi ro này xuất phát từ các yếu



KI

N



H



tố, các đặc điểm nội tại, riêng có bên trong của mỗi khách hàng hoặc ngành, lĩnh

vực kinh tế, điều đó phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động hay đặc điểm sử dụng vốn





C



của khách hàng.



H



- Rủi ro tập trung: là rủi ro xẩy ra trong trường hợp ngân hàng tập trung vốn



ẠI



cho vay quá nhiều đối với một hoặc một số khách hàng, cho vay cùng một hoặc một



G



Đ



số lĩnh vực, vùng địa lý hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.







N



1.1.2.3. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.



Ư



* Nhân tố khách quan.



TR



- Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng.

Trong hoạt động kinh doanh những tai hoạ và rủi ro do thiên tai nhiều khi

quá lớn mà con người đành bó tay. Nhưng những biến động của thiên nhiên có tính

chất chu kỳ hoặc theo mùa thì đối với nhà kinh doanh có sự quan tâm nghiên cứu

dự báo đều có thể tránh hoặc hạn chế thiệt hại.

Bên cạnh đó, q trình tự do hố tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế cũng

đem đến nhiều rủi ro tất yếu. Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, khiến nhiều

khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc

khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh giữa các ngân hàng



9



cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải

nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn

sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.

- Rủi ro từ chính sách vĩ mơ của Nhà nước.

Kinh doanh tiền tệ là ngành kinh doanh có ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn

định và phát triển của nền kinh tế, vì vậy hoạt động ngân hàng cũng chịu sự điều tiết

về pháp lý của Nhà nước trong đó hoạt động tín dụng ngân hàng là đối tượng chịu

sự tác động trực tiếp. Khi hành lang pháp lý chưa an tồn, mơi trường kinh doanh

kém lành mạnh và những chính sách thường thay đổi, thiếu đồng bộ sẽ gây những



H

U







ách tắc, hệ lụy nặng nề cho hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín

dụng nói riêng.



TẾ



Sự chồng chéo, kém hiệu quả của hệ thống văn bản pháp luật nhà nước, hành



KI

N



H



lang pháp luật yếu, thường xuyên thay đổi và không đồng bộ, việc thực thi pháp luật

một cách chậm chạp có thể là một trong những nguyên nhân khách quan dẫn đến rủi





C



ro cho các ngân hàng thương mại. Đây là điều không tránh khỏi tại các quốc gia



H



kém hoặc đang phát triển.



ẠI



Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của cơ quan giám sát



G



Đ



ngân hàng. Đây là nhân tố có tác động hai chiều đối với hoạt động của các ngân hàng



N



thương mại. Ở chiều tích cực, nếu cơ quan giám sát ngân hàng hoạt động có hiệu quả,



Ư







sẽ tạo ra một hiệu ứng tốt, có tác dụng cảnh báo rủi ro từ xa cho các ngân hàng thương



TR



mại. Nhưng ngược lại, sự trì trệ yếu kém của cơ quan giám sát ngân hàng có thể tạo

tâm lý ỷ lại, thiếu chủ động của các ngân hàng thương mại trong việc phòng chống rủi

ro, dẫn đến nhiều khi xử lý rủi ro chậm trễ, hậu quả khắc phục rất thấp.

Hệ thống quản lý và cung cấp thông tin, hỗ trợ cho hoạt động của các ngân

hàng thương mại còn bất cập. Chủ trương chính sách quản lý của Ngân hàng nhà

nước, các cơ quan có liên quan đến hoạt động của hệ thống ngân hàng mang tính

ngắn hạn, hình thức, có định hướng ép buộc hơn là khoa học trong quản lý. Đó cũng

là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm sốt tín dụng cho

nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. Nếu các ngân



10



hàng thương mại cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện

mơi trường thơng tin khơng cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống

ngân hàng.

- Rủi ro do thông tin bất đối xứng.

Thông tin không cân xứng trên thị trường tài chính dẫn đến sự lựa chọn đối

nghịch và rủi ro đạo đức đã đặt các ngân hàng trước nguy cơ rủi ro cao. Môi trường

kinh tế cũng có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người đi vay và gây ra thiệt

hại hoặc mang đến thành cơng đối với người cho vay.

- Rủi ro từ phía khách hàng.



H

U







Nguyên nhân từ phía người đi vay là một trong những nguyên nhân chính

gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Thông thường loại rủi ro này bao gồm:



TẾ



Rủi ro trong kinh doanh của người đi vay: Rủi ro kinh doanh của doanh



KI

N



H



nghiệp được thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của kết

quả kinh doanh. Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc xây





C



dựng và triển khai các phương án, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh



H



nghiệp khơng khoa học, việc dự tốn chi phí và xác định mức sản lượng khơng phù



G



Đ



cấp, thị trường tiêu thụ...



ẠI



hợp. Các thiệt hại doanh nghiệp phải gánh chịu do sự biến động của thị trường cung



N



Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở các doanh



Ư







nghiệp khơng thể đối phó với các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ.



TR



Rủi ro tài chính diễn ra cùng với mức độ sử dụng nợ, nó gắn liền với cơ cấu tài

chính doanh nghiệp. Rủi ro này thể hiện ở việc doanh nghiệp sử dụng không hợp lý

nguồn vốn vay, dùng nguồn vốn vay trung dài hạn phục vụ cho các nhu cầu đầu tư

vốn lưu động dẫn đến mất cân đối tài chính, mất khả năng chi trả. Đây là loại rủi ro

thường gặp ở một số doanh nghiệp trong thời gian vừa qua.

Nhìn chung đối với các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác định được

thơng qua quá trình tìm hiểu, nắm vững tình hình của khách hàng cả trước, trong và

sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của phương án sản

xuất kinh doanh.



11



Ngồi ra còn một số ngun nhân khác thuộc về khách hàng vay như khách

hàng sử dụng vốn sai mục đích, hoặc khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng như lập

hồ sơ giả, làm giả giấy tờ tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng... Nội bộ khách

hàng khơng đồn kết nhất trí, tồn tại mâu thuẫn trong công tác quản lý cũng khiến

cho hoạt động bị ngừng trệ, sản xuất bị đình đốn, khơng có tiền trả nợ ngân hàng.

* Nhân tố chủ quan.

- Nhóm rủi ro xuất phát từ chiến lược, chính sách của các ngân hàng:

Ngân hàng quá chú trọng đến lợi nhuận, đặt kỳ vọng về lợi nhuận cao hơn

sự an toàn của các khoản vay, hoặc ngân hàng đang ở trong giai đoạn nóng vội



H

U







về tăng trưởng, chạy theo doanh số để tăng trưởng thị phần, dẫn đến coi nhẹ

hoặc hạ thấp các tiêu chuẩn hoặc điều kiện vay vốn, làm phát sinh nhiều khoản



TẾ



nợ có chất lượng thấp.



KI

N



H



Chiến lược cho vay của các ngân hàng không phù hợp, tập trung quá

nhiều tín dụng vào một lĩnh vực hoặc một ngành kinh tế hẹp, hoặc cho một





C



nhóm khách hàng.



H



Ngân hàng khơng tìm hiểu kỹ thị trường, thiếu thơng tin thị trường dẫn đến



Đ



ẠI



chính sách cho vay, thị trường mục tiêu không hợp lý, tập trung cho những mảng



G



không phải là thế mạnh của ngân hàng.



N



- Do sự yếu kém trong công tác điều hành quản trị.



Ư







Yếu tố con người đóng vai trò quyết định trong kinh doanh khi mơi trường kinh



TR



doanh ngày càng được quốc tế hoá và cạnh tranh quyết liệt như ở nước ta hiện nay.

Nhiều nhà quản trị chưa đủ các điều kiện để điều hành ngân hàng, chưa được đào tạo

một cách cơ bản, không nắm bắt kịp thời thông tin thay đổi, thiếu bản lĩnh trong điều

hành, chưa am hiểu pháp luật, bố trí nhân sự không phù hợp với trách nhiệm.

Một số ngân hàng áp dụng việc giải quyết cho vay theo kiểu “trực tuyến cá

nhân” từ CB QLKH đến trưởng phòng đến Giám đốc. Thực tế, việc áp dụng tổ chức

cho vay này thì quyền lực tập trung vào Giám đốc còn trách nhiệm của cá nhân cấp

dưới thường không rõ ràng, từ đó dẫn đến thiếu tinh thần trách nhiệm, dễ xảy ra rủi

ro tín dụng



12



- Rủi ro do cán bộ khơng thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ.

Quy trình cho vay ở hầu hết các ngân hàng thương mại hiện nay là tương đối

đầy đủ và phù hợp với cơ chế thị trường và quy định pháp luật nhằm đảm bảo an

tồn vốn vay cho tổ chức tín dụng.

Quy trình nghiệp vụ cho vay phải tuân thủ các nguyên tắc:

+ Vốn vay phải bảo đảm bằng giá trị vật tư, hàng hóa tương đương. Cho vay

phải hồn trả vốn, trả lãi đúng hạn và sử dụng vốn vay đúng mục đích.

+ Cho vay phải tuân thủ các điều kiện: lập hồ sơ vay, có tài sản đảm bảo…

+ Phải tuân thủ chặt chẽ các bước kiểm tra, kiểm soát ở các công đoạn trước,



H

U







trong và sau khi cho vay.



Tuy nhiên, khi thực hiện cho vay vì nhiều lý do khác nhau mà Cán bộ QLKH



TẾ



đã bỏ qua các quy trình nghiệp vụ, việc kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ ngân hàng



KI

N



H



còn bộc lộ nhiều hạn chế từ việc thẩm định cho vay đến việc bảo lãnh vay vốn, bảo

lãnh mở L/C...





C



Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc



H



thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng q trình kiểm tra, kiểm sốt đồng vốn



ẠI



sau khi cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý



G



Đ



một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những



N



trách nhiệm quan trọng nhất của CB QLKH nói riêng và của ngân hàng nói



Ư







chung. Tuy nhiên, trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác



TR



này. Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của

cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh

của các khách hàng quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông

tin mà NHTM yêu cầu.

- Rủi ro do nhân viên ngân hàng thoái hoá về đạo đức, biến chất, tư lợi.

Một số trường hợp CB QLKH hoặc lãnh đạo ngân hàng cấu kết với khách

hàng, xảy ra những tiêu cực trong cho vay thì nguy cơ xảy ra rủi ro đối với món vay

đó là rất cao. Khơng phải do trình độ năng lực yếu kém, khơng đủ sức thẩm định độ

tin cậy của dự án hay phương án xin vay mà do tư lợi, đạo đức phẩm chất của một



13



số cán bộ ngân hàng có chiều hướng thái hoá biến chất. Mặc dù luật pháp, quy chế

nghiệp vụ và những ràng buộc khác có chặt chẽ đến đâu họ vẫn tìm cách vi phạm và

rủi ro xảy ra.

1.2. Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.

1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng.

Đối với mọi hoạt động kinh doanh ngân hàng, khi rủi ro xảy ra đều dẫn đến

những ảnh hưởng khó lường và hậu quả của chúng cũng không dễ dàng khắc phục

trong một thời gian ngắn. Chính vì thế, quản trị rủi ro được coi là hoạt động trọng

tâm trong các tổ chức tài chính – ngân hàng bởi kiểm sốt và quản lý rủi ro chặt chẽ



H

U







đồng nghĩa với việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả. Mặt khác, nền kinh tế thị

trường nếu khơng chấp nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư và kinh



TẾ



doanh mới. Do đó, quản trị rủi ro là một nhu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình tồn



KI

N



H



tại và phát triển của ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng có thể mang lại những

hậu quả rất nguy hiểm đối với ngân hàng thương mại. Vì vậy quản trị rủi ro tín dụng





C



được xem là một cơng việc có ý nghĩa sống còn đối với tất cả các ngân hàng thương



H



mại, dù quy mô lớn hay nhỏ, phạm vi hoạt động rộng hay hẹp. Hoạt động quản trị



ẠI



rủi ro tín dụng của ngân hàng gắn chặt với hoạt động cấp tín dụng, nó thể hiện sự



N



trình cấp tín dụng.



G



Đ



vận dụng các nguyên tắc quản trị nói chung vào hoạt động có tính đặc thù của q



Ư







Như vậy: Quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng là quá trình tiếp cận rủi ro



TR



tín dụng một cách khoa học, tồn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm sốt,

phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát cũng như những ảnh hưởng bất

lợi của rủi ro tín dụng.

Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm các bước: nhận dạng rủi ro; phân tích và đo

lường rủi ro; kiểm sốt và phòng ngừa rủi ro, tài trợ rủi ro; báo cáo hoạt động quản

trị rủi ro.

1.2.2. Sự cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.

Thứ nhất, quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng tốt góp phần giảm tổn thất, giảm

thiểu chi phí hoạt động và gia tăng lợi nhuận cho chính bản thân ngân hàng. Chi phí



14



cho việc trích lập dự phòng và xử lý các khoản rủi ro tín dụng là rất lớn và thường

được tính vào chi phí hoạt động, vì vậy việc trích lập dự phòng rủi ro sẽ ảnh hưởng

rất lớn đến lợi nhuận của ngân hàng. Do đó, nếu cơng tác quản trị rủi ro tín dụng có

hiệu quả, các khoản tín dụng trên danh mục của ngân hàng có chất lượng tốt sẽ tạo

điều kiện để ngân hàng giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận.

Thứ hai, quản trị rủi ro tín dụng tốt góp phần tạo điều kiện làm lành mạnh

tình hình tài chính, ngăn ngừa nguy cơ vỡ nợ của các ngân hàng, cũng như gia tăng

năng lực tài chính của các ngân hàng trong quá trình thực hiện các cam kết về việc

gia nhập WTO trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.



H

U







Thứ ba, quản trị rủi ro tín dụng tốt góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội

của đất nước, khu vực. Thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế ổn định và bền



TẾ



vững, tạo lòng tin vững chắc từ công chúng và khách hàng của các ngân hàng cũng



KI

N



H



như tạo niềm tin và gia tăng mức độ tín nhiệm đối với cộng đồng, các tổ chức quốc

tế đối với việc quản trị hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.





C



1.2.3 Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng.



H



(i) Nhận diện rủi ro.



ẠI



- Nhận diện rủi ro tín dụng bao gồm các bước như theo dõi, xem xét, nghiên



G



Đ



cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay đề thống kê các dạng RRTD,



N



nguyên nhân từng thời kỳ và dự báo những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra



Ư







RRTD cho ngân hàng thương mại.



TR



Để quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả thì phải xác định rủi ro hiện tại và rủi ro

tiềm ẩn trong tương lai và nhận biết những rủi ro cho phép. Việc chấp nhận mức độ,

loại rủi ro nào chính là điều kiện quan trọng để điều tiết những tác động tiêu cực

trong quá trình quản trị rủi ro.

Có nhiều phương pháp nhận dạng rủi ro và các phương pháp nhận dạng rủi

ro cần phải được kết hợp với nhau: phân tích các báo cáo tài chính, hợp đồng kinh

doanh của doanh nghiệp, chỉ số thanh khoản, các chỉ sổ khả năng sinh lời, từ đó

đánh giá được khả năng thanh tốn, sinh lời, cấu trúc nguồn vốn của khách hàng,

phân loại khách hàng nhằm ước đốn được các tổn thất có thể xảy ra.



15



a. Những dấu hiệu từ phía khách hàng.

Ngân hàng cần thu thập thông tin về khách từ khi bắt đầu tiếp xúc khách hàng,

phân tích trong q trình cho vay và sau khi cho vay hàng rồi phân tích theo chỉ tiêu

định lượng và định tính để có kết luận chính xác về tình trạng khách hàng.

* Nhóm các dấu hiệu liên quan đến giao dịch với ngân hàng.

- Trong quá trình hạch tốn của khách hàng, xu hướng của các tài khoản của

khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan

trọng gồm: Giảm sút số dư tài khoản tiền gửi, dòng tiền về khơng có chứng tỏ hoạt







động bán hàng đang bị chậm trễ thanh tốn hoặc khơng bán được hàng hoặc khách



H

U



hàng đã chỉ định đối tác chuyển tiền về ngân hàng khác; Phát hành séc quá số dư



TẾ



hoặc bị từ chối, khó khăn trong thanh tốn lương cho CBNV …

- Các hoạt động vay: Mức độ vay thường xuyên gia tăng; đề nghị khoản vay



KI

N



H



vượt quá phương án dự kiến, Nghĩa vụ trả nợ không hợp lý lớn hơn nguồn trả nợ,

chấp nhận sử dụng nguồn vốn lãi suất cao với mọi điều kiện, thanh toán chậm các





C



khoản nợ gốc và lãi mà khơng có lý do thuyết phục; thường xuyên yêu cầu ngân



H



hàng gia hạn.



Đ



ẠI



- Phương thức tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ thương mại cho các



G



hoạt động phát triển dài hạn; chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, ví dụ:







N



thường xuyên sử dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải trả (factoring); giảm các



Ư



khoản phải trả và tăng các khoản phải thu; các hệ số thanh toán phát triển theo chiều



TR



hướng xấu; có biểu hiện giảm vốn điều lệ.

* Nhóm các dấu hiệu liên quan đến hoạt động quản trị nội bộ của KH.

- Thay đổi thường xuyên cơ cấu tổ chức nhân sự của hệ thống quản trị hoặc

ban điều hành.

- Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản trị,

điều hành độc đốn hoặc ngược lại quá phân tán. Phát sinh tranh chấp trong q

trình quản lý. Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những

người quản lý không thuộc gia đình; cho thành viên của gia đình chưa được đào tạo,

huấn luyện đầy đủ đảm đương cương vị then chốt.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×