Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ RỦI RO TÍN

DỤNG VÀ CƠNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG

1.1. Một số vấn đề lý luận chung về Quỹ tín dụng nhân dân

1.1.1. Sự ra đời của hệ thống QTDND

Do yêu cầu phát triển kinh tế, mở rộng thị trường, đổi mới đất nước đòi hỏi

phải có nhiều vốn để đầu tư phát triển. Các tổ chức tín dụng đã và đang hồn thành

và phát triển với nhiều loại hình phong phú, nhiều thành phần kinh tế. Trong đó, có

cố gắng to lớn của Nhà nước như: nhanh chóng ổn định tiền tệ, tổ chức và mở rộng

hoạt động của các NHTM quốc doanh, Nhà nước cũng mạnh dạn cho phép thành

lập các NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh với nước ngồi... mặt khác còn có

một số biện pháp tín dụng dùng vốn ngân sách phục vụ nhân dân như quỹ xố đói

giảm nghèo, quỹ tạo việc làm... Ngồi ra nhiều đồn thể xã hội cũng tích cực tham

gia nhiều quỹ trợ giúp cộng đồng.

Tuy nhiên, các NHTM phần nhiều kinh doanh vốn ở khu vực kinh tế tập

trung, chủ yếu là đô thị. Một số NH hướng vào dân cư nông thôn đã cho vay tới hộ

nông dân, thợ thủ cơng, nhưng khơng có điều kiện bám sát địa bàn từng ngày từng

giờ nên khó cung ứng vốn kịp thời. Để hạn chế và ngăn chặn các hoạt động cho vay

nặng lãi ở khu vực nông nghiệp- nông thơn chỉ có một tổ chức tín dụng do nhân dân

tự nguyện lập nên, tiến hành thu hút vốn tại chổ để cho vay lại trên tinh thần hợp tác

tương trợ cộng đồng mới đáp ứng được vốn kịp thời, tiện lợi và nhanh chóng đến

từng người dân, đẩy lùi tệ nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn, phát triển sản xuất,

nâng cao đời sống cho người dân...

Các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được thành lập và hoạt động theo Quyết

định số 390/TTg ngày 27/07/1993 của Thủ tướng Chính Phủ về thí điểm thành lập

Quỹ tín dụng nhân dân, cả nước ta đã xây dựng được một hệ thống tổ chức hợp tác

theo mơ hình mới.

Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo



6



nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh,

thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức

mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt

động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, bảo đảm bù đắp đủ chi phí

và có tích luỹ để phát triển. QTDND được tổ chức và hoạt động theo luật Hợp tác

xã, các Pháp lệnh Ngân hàng (nay là Luật NHNN và Luật các Tổ chức tín dụng) và

các luật khác có liên quan. Mục tiêu hoạt động của QTDND là nhằm thu hút các

nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội để cho vay

phục vụ sản xuất, dịch vụ và cải thiện đời sống của thành viên đồng thời thực hiện

chủ trương đa dạng hoá các TCTD trên địa bàn dân cư.

1.1.2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của QTDND

Căn cứ vào điều 4 Quyết định số 05/2006/QĐ-NHNN về việc ban hành Mẫu

hướng dẫn xây dựng Điều lệ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thông qua ngày

20/01/2006 và xuất phát từ đặc điểm kinh doanh tiền tệ, QTDND phải được tổ chức

và hoạt động theo các nguyên tắc như sau:

- Tự nguyện: Mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân và các đối tượng khác có

đủ điều kiện theo luật định và tán thành điều lệ của tổ chức, đều có quyền gia nhập

QTDND, thành viên cũng có quyền ra khỏi tổ chức theo quy định của điều lệ

QTDND.

- Dân chủ, bình đẳng và cơng khai: Thành viên QTDND có quyền tham gia

quản lý, kiểm tra, giám sát QTDND và có quyền ngang nhau khi biểu quyết.

- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: QTDND tự chủ và tự chịu trách

nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình, tự quyết định về phân phối thu

nhập. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của

QTDND, lãi được trích một phần vào các Quỹ của QTDND, một phần chia theo

vốn góp và cơng sức đóng góp của thành viên, phần còn lại chia cho thành viên theo

mức độ sử dụng dịch vụ của QTDND.

- Hợp tác và phát triển cộng đồng: Thành viên phải có ý thức phát huy tinh



7



thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong QTDND, trong cộng đồng xã hội;

hợp tác giữa các QTDND ở trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

1.1.3. Mơ hình tổ chức hoạt động của QTDND

Khác với các Hợp tác xã tín dụng trước đây là những đơn vị hoạt động riêng

lẽ, khi gặp khó khăn trong hoạt động thường không khắc phục được nên dẫn đến đổ

vỡ. Hệ thống QTDND được tổ chức thành một hệ thống thống nhất trong cả nước,

thực hiện theo cơ chế thống nhất, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được thuận

lợi, có sự hỗ trợ nhau mỗi khi gặp khó khăn trong kinh doanh.



(I)



(II)



Hình 1.1. Mơ hình tổ chức hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân

Giải thích sơ đồ:

(I). Các thành viên tự nguyện gia nhập QTDND cơ sở, QTDND cơ sở là một

pháp nhân được cấp giấy phép hoạt động.

(II). Các QTDND cơ sở tự nguyện gia nhập vào QTDND Trung ương.

QTDND Trung ương là một pháp nhân.

Hệ thống QTDND liên kết với nhau để hoạt động hỗ trợ cho nhau theo

ngun tắc bình đẳng, dân chủ đơi bên cùng có lợi.

1.1.4. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của QTDND

- Cũng giống như các tổ chức tín dụng khác, các QTDND phải áp dụng nhiều

hình thức, biện pháp linh hoạt thu hút nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, của



8



mọi tổ chức tập thể để tập trung thành một khối lượng vốn tín dụng ngày càng lớn,

nhằm cung ứng cho các nhu cầu vay vốn trong nội bộ thành viên của tổ chức mình.

- Cùng với việc tự nguyện góp vốn qua hình thức đóng góp cổ phần và tổ

chức huy động tiền gửi, các QTDND cần tranh thủ tiếp nhận vốn từ các nguồn khác

như đi vay, nhận vốn uỷ thác... để không ngừng mở rộng quy mơ nhằm mở rộng

cung ứng vốn tín dụng cho thành viên.

- Tổ chức cho vay vốn đối với các thành viên QTDND nhằm trợ giúp các hộ

gia đình phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống nhất là tham gia tích cực

vào việc thực hiện chương trình xố đói giảm nghèo tại địa phương.

- Góp phần ngăn chặn tệ nạn cho vay nặng lãi trên địa bàn dân cư.

1.2. Lý luận về rủi ro tín dụng

1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng

Theo hai nhà kinh tế A. Saunder và H. Lange [Financial Institutions

Management – A Modern Perpective] thì rủi ro tín dụng được định nghĩa là “khoản

lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các

luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được

thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian”.

Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, khơng chỉ trong

quan hệ tín dụng giữa khách hàng với ngân hàng mà trong cả các hoạt động khác

như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện.

Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả

năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh NH nước ngồi do

khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện một phần hoặc tồn

bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Từ nhiều định nghĩa khác nhau có thể tóm lược nội dung về rủi ro tín dụng

như sau: Rủi ro tín dụng là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc

đối tác khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện một phần hoặc tồn bộ



9



nghĩa vụ của mình theo cam kết.

Tuy nhiên, như đã giới thiệu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ

nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của QTDND, vì vậy rủi ro tín dụng

có thể hiểu đơn giản là sự vi phạm khơng hồn trả nợ từ phía khách hàng vay.

1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng thường được chia làm hai phần là: Rủi ro giao dịch (Transaction

Risk) và Rủi ro danh mục (Portfolio Risk). Rủi ro giao dịch liên quan đến sự hoàn trả

của từng giao dịch cho vay cá biệt, còn Rủi ro danh mục là rủi ro gắn liền với một danh

mục cho vay đang hiện hữu của NHTM. [Bùi Diệu Anh, 2010].



Hình 1.2. Cơ cấu rủi ro tín dụng

1.2.2.1. Rủi ro giao dịch

Rủi ro giao dịch là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do

những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.

Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính:

- Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng, khi

ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.

- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản

trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm



10



bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.

- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và

hoạt động cho vay, bao gồm việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý

các khoản cho vay có vấn đề.

1.2.2.2. Rủi ro danh mục

Rủi ro danh mục là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do

những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai

loại là: Rủi ro nội tại (Intrinsic Risk) và Rủi ro tập trung (Concentration Risk).

- Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính

riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt

động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay vốn.

- Rủi ro tập trung: là trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với

một số KH, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh

vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình

cho vay có rủi ro cao.

1.2.3. Ngun nhân gây ra rủi ro tín dụng

1.2.3.1. Nhóm ngun nhân khách quan từ mơi trường bên ngồi

Những ngun nhân từ mơi trường mang tính bất khả kháng, ngân hàng khơng

thể kiểm sốt được mà chỉ có thể dự báo và thực hiện dự phòng trước sự biến động của

yếu tố này. Các yếu tố mơi trường bên ngồi bao gồm: môi trường tự nhiên như thiên

tai, dịch bệnh…; môi trường kinh tế như chu kỳ kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tỷ

giá…; mơi trường chính trị - xã hội và pháp luật như cơ chế chính sách cho vay, Luật

TCTD, Luật đất đai…tất cả các yếu tố này sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới thu

nhập cũng như sức tiêu dùng trong dân cư, hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và cơ

chế cho vay của ngân hàng… Như vậy nó sẽ ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng tín

dụng: nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ của khách hàng, cơ chế quản lý tín dụng… sẽ

ảnh hưởng tới rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải. Khi các yếu tố này biến động theo

chiều hướng xấu sẽ phá vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm ngân

hàng khó thu hồi vốn theo hợp đồng tín dụng.

1.2.3.2. Nhóm ngun nhân từ phía khách hàng

Việc khách hàng không trả đúng và trả đủ theo quy định trong hợp đồng tín



11



dụng có thể do: tư cách đạo đức của khách hàng, năng lực quản lý: quản lý không

hiệu quả phương án sản xuất kinh doanh, cơ cấu vốn của doanh nghiệp không hợp

lý… Tất cả các yếu tố đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh tốn hợp đồng tín dụng

của khách hàng, do đó khi thẩm định khách hàng, ngân hàng cần xem xét kỹ các

yếu tố này.

1.2.3.3. Nhóm ngun nhân từ phía ngân hàng

Quy trình thẩm định, đo lường RRTD, giám sát và thu hồi nợ không hiệu

quả, đều giúp cho khách hàng có thể lợi dụng chiếm dụng vốn của ngân hàng.

Chính sách tín dụng khơng hợp lý với thay đổi của thị trường sẽ làm tăng số lượng

khách hàng hoạt động không hiệu quả, cũng như việc chú trọng mục tiêu lợi nhuận

mà coi nhẹ mục tiêu an toàn của ngân hàng. Q trình thu thập thơng tin khơng đầy

đủ, thiếu chính xác làm ảnh hưởng sai lệch về chất lượng khách hàng, làm cán bộ

thẩm định có cái nhìn lệch lạc về khách hàng. Tư cách đạo đức của cán bộ thẩm

định cũng quyết định tới RRTD mà ngân hàng có thể gặp phải: vì tư lợi mà cán bộ

thẩm định làm đẹp hồ sơ khách hàng, vì thành tích mà cán bộ khách hàng khơng

thơng báo thực trạng về khách hàng có chiều hướng kinh doanh xấu đi…

1.2.3.4. Nhóm nguyên nhân từ tài sản đảm bảo

Tài sản đảm bảo (TSĐB) được coi là nguồn thu thứ hai cho ngân hàng khi

khách hàng khơng có khả năng trả nợ, song nguồn thu thứ hai này có thể khơng đảm

bảo đủ giá trị khoản nợ đó do:

- TSĐB khó định giá: cán bộ tín dụng khơng định giá đúng giá trị TSĐB.

- TSĐB có tính phát mại thấp: khi phát mại TSĐB thì loại tài sản này làm

cho ngân hàng thu hồi giá trị thấp mà chi phí lớn cho q trình phát mại.

- TSĐB có tranh chấp về pháp lý: ngân hàng gặp khó khăn trong việc tiếp

cận, nắm giữ các TSĐB để xử lý chung.

- TSĐB có giá cả biến động mạnh theo thị trường: khi thị trường biến động

xấu, TSĐB giảm giá trị mạnh, ngân hàng có u cầu bổ sung TSĐB thì khách hàng

cũng khó thực hiện do TSĐB bổ sung có giá trị lớn.

- Trường hợp bảo đảm là đối nhân (bảo lãnh): người bảo lãnh khơng thực

hiện nghĩa vụ thanh tốn thay cho người vay tín dụng khi người này khơng có khả

năng trả nợ.

Từ những nguyên nhân trên, vấn đề đặt ra cho các TCTD là làm sao để nâng

cao hiệu quả quy trình thẩm định, đánh giá khách hàng, nhu cầu vay vốn của khách



12



hàng cũng như định giá TSĐB đồng thời dự báo các khả năng có thể xảy ra đối với

nền kinh tế, khách hàng, TSĐB… để có những điều chỉnh phù hợp nhằm hạn chế

rủi ro tín dụng cho các TCTD.

1.2.4. Tác động của rủi ro tín dụng

1.2.4.1. Đối với khách hàng

Nếu rủi ro tín dụng xảy ra từ phía ngân hàng, khách hàng có thể mất đi kênh

cung ứng vốn, dẫn đến sản xuất bị trì trệ.

Nếu rủi ro tín dụng xảy ra từ phía khách hàng, với tình hình tài chính khơng

lành mạnh, kèm theo đó là các khoản nợ quá hạn có thể sẽ ảnh hưởng lớn đến mối

quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng.

1.2.4.2. Đối với ngân hàng bị rủi ro

Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được lãi và gốc, buộc phải sử

dụng nguồn trích lập dự phòng để bù đắp khoản lãi và gốc khơng thu được đó. Bên

cạnh việc thu nhập giảm sút, ngân hàng còn gặp khó khăn trong vấn đề thanh khoản...

Và nếu khơng giải quyết được thì ngân hàng có thể đứng trước bờ vực phá sản.

1.2.4.3. Đối với hệ thống Ngân hàng

Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống

ngân hàng, các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế. Do vậy, nếu

một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh tốn

và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến các ngân hàng

và các bộ phận kinh tế khác. Nếu khơng có sự can thiệp kịp thời của NHNN và

Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng

loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vơ hình chung cũng rơi vào

tình trạng mất khả năng thanh toán.

1.2.4.4. Đối với nền kinh tế

Với chức năng trung gian tài chính, ngân hàng quan hệ trực tiếp với mọi

thành phần kinh tế, điều hòa các nguồn vốn trong nền kinh tế. Khi rủi ro tín dụng

xảy ra tại một ngân hàng, đầu tiên sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng đó, giảm

khả năng cung cấp vốn cho khách hàng, gây hoang mang trong dân chúng và gây ra

việc rút tiền ồ ạt tại ngân hàng. Khi đó, ngân hàng bị suy yếu đến mức phá sản sẽ



13



tạo ra phản ứng dây chuyền đối với các ngân hàng và định chế tài chính khác. Từ

đó, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nghiêm trọng, ảnh hưởng đến

các DN sản xuất kinh doanh, kìm hãm sự phát triển kinh tế, lạm phát, thất nghiệp

gia tăng, an ninh chính trị bất ổn… gây suy thối nền kinh tế.

Tóm lại, RRTD gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng

bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi vay, nặng nhất

khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến

ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài khơng khắc phục được, ngân

hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống

ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận

trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu RRTD.

1.3. Cơng tác quản lý rủi ro tín dụng

1.3.1. Khái niệm cơng tác quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng là một nội dung quan trọng và có ý nghĩa sống còn

đối với tất cả các TCTD, dù quy mô lớn hay nhỏ, phạm vi hoạt động rộng hay hẹp.

Quản lý rủi ro tín dụng khơng có nghĩa là né tránh rủi ro mà là xác định một mức

rủi ro có thể chấp nhận được từ đó đưa ra các biện pháp để đảm bảo rủi ro khơng

vượt q mức xác định trước đó. Xuất phát từ cách hiểu như vậy, khái niệm công

tác quản lý rủi ro tín dụng có thể được trình bày như sau:

Quản lý rủi ro tín dụng là tiến trình của nhà quản lý bao gồm nhận dạng, đánh

giá mức độ rủi ro tiềm ẩn mà ngân hàng phải đối mặt đồng thời lựa chọn và thực thi

những biện pháp/công cụ thích hợp nhằm đối phó với rủi ro trong hoạt động tín dụng

của ngân hàng thương mại. [Đinh Xuân Hạng, Nguyễn Văn Lộc, 2012].

Quản lý rủi ro tín dụng là q trình xây dựng, thực thi các chính sách và các

biện pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an tồn, hiệu quả và phát triển bền

vững, tìm ra nguyên nhân và xử lý các tình huống xảy ra RRTD, tăng cường các

biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh

tín dụng, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.

1.3.2. Vai trò của cơng tác quản lý rủi ro tín dụng tại các TCTD

Thời gian qua, hệ thống TCTD ở Việt Nam đã giữ được ổn định một bước

căn bản, năng lực quản lý của các TCTD nhất là năng lực quản lý rủi ro đã có



14



chuyển biến mạnh mẽ và tích cực, từng bước đáp ứng được yêu cầu của hội nhập

quốc tế. Tuy nhiên, quản lý rủi ro trên thị trường tài chính vẫn là vấn đề cần đặc biệt

chú trọng của các TCTD Việt Nam.

Đối với các TCTD Việt Nam, công tác quản lý RRTD có vai trò rất quan

trọng bởi các yếu tố sau:

Thứ nhất, rủi ro tín dụng là một trong những vấn đề mà tất cả các TCTD phải

đương đầu. Phòng ngừa và hạn chế RRTD là vấn đề khó khăn, phức tạp bởi lẽ

RRTD mang tính tất yếu khách quan, ln gắn liền với hoạt động tín dụng, đồng

thời lại rất đa dạng, RRTD thường khó kiểm sốt và dẫn đến những thiệt hại, thất

thoát về vốn và thu nhập của các TCTD.

Thứ hai, nếu như công tác quản lý RRTD được thực hiện tốt thì sẽ đem lại

những lợi ích cho các TCTD như: giảm chi phí, nâng cao được thu nhập, bảo toàn

vốn, tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư; tạo tiền đề mở rộng thị

trường và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh, thị phần cho các TCTD.

Thứ ba, cơng tác quản lý RRTD tốt sẽ đem lại lợi ích cho cả nền kinh tế. Trong

thời đại hiện nay, các định chế tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu như một

TCTD gặp vấn đề thì ngay lập tức sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến các TCTD khác. Vì

vậy, cơng tác quản lý RRTD đem lại sự an toàn, ổn định cho thị trường.

Thứ tư, do vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏ

nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ đẩy một ngân hàng tới

nguy cơ phá sản. Đặc biệt, với những khoản vay của doanh nghiệp do thường có giá

trị lớn nên tổn thất xảy ra nếu khoản vay không thu hồi được sẽ gây thiệt hại tới

ngân hàng hết sức nặng nề.

Thứ năm, công tác quản lý RRTD tốt chính là một lợi thế cạnh tranh, là một

cơng cụ góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả của các TCTD.

1.3.3. Bộ máy quản lý RRTD của các NHTM

Theo “Hướng dẫn quản lý rủi ro tín dụng” của Cơ quan tiền tệ Singapore

(Monetary Authority of Singapore, 2006), ngân hàng phải thiết lập mơ hình quản lý

rủi ro phù hợp với quy mô và đặc điểm kinh doanh, song phải đảm bảo hiệu quả của

giám sát và quá trình vận hành quản lý tín dụng. Theo thơng lệ quốc tế, mơ hình

quản lý RRTD của các NHTM được tổ chức như sau:



15



Hình 1.3. Mơ hình quản lý RRTD của các NHTM

Hội đồng quản trị: Trong bộ máy này, vai trò quan trọng trước tiên khơng

thể bỏ qua thuộc về Hội đồng quản trị của ngân hàng. HĐQT có vai trò cực kỳ quan

trọng trong việc giám sát các chức năng cấp tín dụng và quản lý tín dụng của ngân

hàng, hiểu biết về các rủi ro nói chung, và RRTD nói riêng và đảm bảo rằng các rủi

ro đang được quản lý phù hợp. Là người chịu trách nhiệm cuối cùng về bất kỳ thua

lỗ hoặc tổn thất nào trong giá trị của ngân hàng và cổ đông, do đó, HĐQT có nghĩa

vụ bảo đảm với cổ đơng rằng các hệ thống quản lý rủi ro của ngân hàng đã được

thiết lập để quản lý mọi rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt. HĐQT phải thiết lập một

định hướng chung và mục tiêu về năng lực quản lý rủi ro của ngân hàng (tầm nhìn

rủi ro). Xác định mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận được. Đồng thời

đảm bảo rằng một môi trường kiểm sốt phù hợp tồn tại để bảo tồn vốn.

Ban điều hành: có trách nhiệm vận hành cơng việc cụ thể và báo cáo kết

quả định kỳ cho HĐQT, trên cơ sở đảm bảo rằng các công việc được triển khai

trong phạm vi chiến lược, chính sách và mức độ chấp nhận rủi ro đã được HĐQT

phê duyệt. Giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán và sự an toàn trong hoạt động

kinh doanh của NHTM. Thực hiện kiểm tốn nội bộ nhằm đánh giá chính xác hoạt

động kinh doanh của NHTM. Ban điều hành phải xác định rõ các rủi ro đối với vốn



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×