Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đơn vị tính: Triệu đồng

Đơn vị tính: Triệu đồng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tổng dư nợ

- Nợ nhóm 1

- Nợ nhóm 2

- Nợ nhóm 3

- Nợ nhóm 4

- Nợ nhóm 5



181.756

177.923

2.423

134

1.216

60



100

97,89

1,33

0,07

0,67

0,03



188.623 100

184.887 98,02

1.888

1,00

155

0,08

1.635

0,87

58

0,03



191.038

186.908

1.854

460

1.763

53



100

97,84

0,97

0,24

0,92

0,03



(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của QTDND Hồ Xá 2015-2017)



51



- Nợ nhóm 1: là các khoản nợ trong hạn hoặc quá hạn 10 ngày, đây là các

khoản nợ đủ tiêu chuẩn, thường chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nhóm. Bảng 2.7 cho

thấy, trong 5 nhóm nợ, nợ nhóm 1 chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ cho vay

của QTDND Hồ Xá giai đoạn 2015-2017 (đều trên 97% tổng dư nợ). Năm 2015, dư

nợ nhóm 1 là 177.923 triệu đồng, chiếm 97,89% tổng dư nợ. Năm 2016, dư nợ

nhóm 1 là 184.887 triệu đồng, chiếm 98,02% tổng dư nợ, tăng 6.964 triệu đồng,

tương ứng tăng 3,91% so với năm 2015. Năm 2017, dư nợ nhóm 1 là 186.908 triệu

đồng, chiếm 97,84% tổng dư nợ, tăng 2.021 triệu đồng, tương ứng tăng 1,09% so

với năm 2016. Tỷ lệ nợ nhóm 1 ln ở mức cao qua các năm điều này cho thấy tình

hình nợ đủ tiêu chuẩn của QTDND Hồ Xá tương đối ổn định. Có được kết quả này

là do những năm qua QTDND Hồ Xá đã rất nỗ lực trong việc quản lý và nâng cao

hiệu quả quản lý tín dụng góp phần nâng cao chất lượng tín dụng.

- Nợ nhóm 2: Chiếm tỷ trọng cao thứ 2 trong tổng dư nợ chính là nợ nhóm 2

hay còn gọi là nợ cần chú ý. Từ năm 2015-2017, dư nợ cần chú ý có xu hướng giảm

cả về số lượng lẫn tỷ trọng. Năm 2015, dư nợ nhóm 2 là 2.423 triệu đồng, chiếm

1,33% tổng dư nợ. Năm 2016, dư nợ nhóm 2 là 1.888 triệu đồng, chiếm 1,00% tổng

dư nợ, giảm 535 triệu đồng, tương ứng giảm 22,08% so với năm 2015. Năm 2017,

dư nợ nhóm 2 là 1.854 triệu đồng, chiếm 0,97% tổng dư nợ, giảm 34 triệu đồng,

tương ứng giảm 1,80% so với năm 2016. Nợ nhóm 2 giảm cho thấy QTDND Hồ Xá

đang dần kiểm soát được tốc độ tăng lên của nợ nhóm 2 bằng những biện pháp chặt

chẽ trong thu hồi nợ cũ và bù đắp lỗ hổng trong khâu thẩm định trước khi cho vay.

- Nợ nhóm 3: Dư nợ dưới chuẩn từ năm 2015 đến 2017 có dấu hiệu tăng lên,

đặc biệt là năm 2017. Năm 2015, nợ nhóm 3 là 134 triệu đồng, chiếm 0,07% tổng

dư nợ. Năm 2016, nợ nhóm 3 là 155 triệu đồng, chiếm 0,08% tổng dư nợ, tăng 21

triệu đồng, tương ứng tăng 15,67% so với năm 2015. Năm 2017, nợ nhóm 3 là 460

triệu đồng, chiếm 0,24% tổng dư nợ, tăng 305 triệu đồng, tương ứng tăng 96,77%

so với năm 2016. Nguyên nhân là do năm 2016, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy

sản gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, sự cố mơi trường

biển, bệnh dịch phát sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản, do đó, giá trị sản

xuất nơng, lâm nghiệp và thủy sản giảm sút gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của

52



KH. Phần lớn nợ nhóm 2 từ năm 2016 đã quá hạn từ 91 đến 180 ngày và chuyển

sang nợ nhóm 3.

- Nợ nhóm 4: Dư nợ nhóm này chiếm tỷ trọng cao thứ ba trong tổng dư nợ

cho vay của ngân hàng. Nợ nhóm 4 cũng có xu hướng tăng lên qua các năm, cụ thể:

Năm 2015, nợ nhóm 4 là 1.216 triệu đồng, chiếm 0,67% tổng dư nợ. Năm 2016, nợ

nhóm 4 là 1.635 triệu đồng, chiếm 0,87% tổng dư nợ, tăng 419 triệu đồng, tương

ứng tăng 34,46% so với năm 2015. Năm 2017, nợ nhóm 4 là 1.763 triệu đồng,

chiếm 0,92% tổng dư nợ, tăng 128 triệu đồng, tương ứng tăng 7,83% so với năm

2016. Ngoài những khoản nợ trên 180 ngày chuyển xuống, nguyên nhân làm tăng

dư nợ nhóm 4 là do trong năm 2016, QTDND Hồ Xá đã mở rộng cho vay dưới

nhiều hình thức, cộng thêm với những chương trình ưu đãi hấp dẫn đã thu hút đông

đảo khách hàng, đặc biệt là các hộ kinh doanh. Tuy nhiên hậu quả của khủng hoảng

kinh tế thế giới đã gây bất lợi trong hoạt động kinh doanh khiến họ không thể trả nợ

đúng hạn, mặc dù đã quá 180 ngày nhưng những hộ kinh doanh này vẫn khơng thể

hồn trả nợ cho QTDND Hồ Xá.

- Nợ nhóm 5: Dư nợ nhóm này chiếm tỷ trọng nhỏ nhất (0,03% tổng dư nợ)

và có xu hướng giảm dần qua các năm. Nợ nhóm 5 năm 2015 là 60 triệu đồng. Năm

2016, nợ nhóm 5 là 58 triệu đồng, giảm 2 triệu đồng, tương ứng giảm 3,33% so với

năm 2015. Năm 2017, nợ nhóm 5 là 53 triệu đồng, giảm 5 triệu đồng, tương ứng

giảm 8,62% so với năm 2016. Có sự giảm xuống như vậy là do trong năm 2017,

tỉnh Quảng Trị đã tập trung tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách, nỗ lực cải

thiện môi trường đầu tư kinh doanh; môi trường biển đã phục hồi, sản lượng hải sản

khai thác tăng khá, hoạt động kinh doanh dịch vụ tại các điểm du lịch biển nhộn

nhịp trở lại. QTDND Hồ Xá cũng đã có những điều chỉnh kịp thời để quản lý nợ

xấu của đơn vị, đồng thời có các chính sách hỗ trợ hợp lý cho các hộ kinh doanh

nhằm hạn chế nợ xấu.

2.2.4. Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn

Bảng 2.8: Tình hình nợ quá hạn của QTDND Hồ Xá giai đoạn 2015-2017



53



Đơn vị tính: triệu đồng

2016/2015

2017/2016

+/%

+/%

Chỉ tiêu

1. Tổng dư nợ

181.756 188.623 191.038 6.867 3,78 2.415 1,28

2. Nợ quá hạn

3.833 3.736

4.130

-97 -2,53 394 10,55

Tỷ lệ Nợ quá hạn/tổng dư nợ 2,11% 1,98% 2,16%

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2015-2017)

2015



2016



2017



Kết quả phân loại nợ trong những năm gần đây cho thấy chất lượng tín dụng

của QTDND Hồ Xá chưa đảm bảo. Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn còn cao và tập

trung vào một số khách hàng. Điều này phản ánh những hạn chế về cơng tác quản lý

rủi ro tín dụng của QTDND Hồ Xá, đặc biệt là trong việc xác định phân khúc thị

trường thích hợp, năng lực thẩm định và khả năng giám sát các khoản vay để đảm

bảo khả năng thu hồi nợ.

Qua bảng số liệu trên ta thấy, nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

có xu hướng tăng lên qua các năm, cụ thể: Năm 2015, nợ quá hạn là 3.833 triệu

đồng, tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ là 2,11%. Đến năm 2016, nợ quá hạn là 3.736

triệu đồng, giảm 97 triệu đồng, tương ứng giảm 2,53% so với năm 2015, tỷ lệ nợ

quá hạn/tổng dư nợ là 1,98%. Đến năm 2017, nợ quá hạn là 4.130 triệu đồng, tăng

394 triệu đồng, tương ứng tăng 10,55% so với năm 2016, tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư

nợ là 2,16%. Nợ quá hạn tăng cao trong khi tốc độ tăng của tổng dư nợ ít hơn so với

tốc độ tăng nợ quá hạn nên nguy cơ khủng hoảng là rất lớn. Nguyên nhân là do năm

2016 được đánh giá là năm mà nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn đã khiến

hàng chục nghìn doanh nghiệp phải giải thể hoặc ngừng hoạt động. Tình hình tài

chính thế giới bị khủng hoảng, các doanh nghiệp không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ

hàng chậm từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Đồng thời do áp lực cạnh tranh

giữa các TCTD trên địa bàn mà trình độ chun mơn nghiệp vụ của cán bộ QTDND

Hồ Xá chưa đồng bộ cho nên khả năng thẩm định tín dụng và nắm bắt thơng tin còn

chưa tốt, chưa đầy đủ, cán bộ tín dụng chưa có những kinh nghiệm đối phó với biến

động của thị trường.

Xuất phát từ thực trạng này đòi hỏi QTDND Hồ Xá phải đặc biệt quan tâm

đến công tác kiểm tra sử dụng vốn trong suốt thời gian vay của khách hàng nhằm



54



hạn chế tối đa việc sử dụng vốn sai mục đích, thu hồi vốn kịp thời khi khách hàng

có dấu hiệu sử dụng vốn khơng đúng mục đích cam kết để giảm thiểu rủi ro có thể

xảy ra.

2.2.5. Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu

Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho nguồn vốn

của các QTDND bị thất thốt, trong khi đó, các QTDND này vẫn phải chi trả tiền

lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút. Nếu lợi nhuận khơng

đủ thì các QTDND còn phải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại.

Điều này có thể làm ảnh hưởng đến quy mơ hoạt động của các QTDND.

Mặt khác, tỷ lệ nợ xấu cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của

QTDND bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn của đơn vị, nghiêm

trọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy các QTDND đến bờ vực phá

sản và đe dọa sự ổn định của tồn bộ hệ thống ngân hàng.

Bảng 2.9: Tình hình nợ xấu của QTDND Hồ Xá giai đoạn 2015-2017



Đơn vị tính: triệu đồng

2016/2015

2017/2016

+/%

+/%

1. Tổng dư nợ

181.756 188.623 191.038 6.867 3,78 2.415 1,28

2. Nợ xấu

1.410

1.848

2.276

438 31,06 428 23,16

Tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ 0,78% 0,98% 1,19%

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2015-2017)

Chỉ tiêu



2015



2016



2017



Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng số nợ xấu có xu hướng tăng lên qua các

năm, cụ thể: Năm 2015,tổng số nợ xấu là 1.410 triệu đồng, chiếm 0,77% tổng dư

nợ. Năm 2016,tổng số nợ xấu là 1.848 triệu đồng, chiếm 0,98% tổng dư nợ, tăng

438 triệu đồng, tương ứng tăng 31,06% so với năm 2015. Năm 2017, tổng số nợ xấu

là 2.276 triệu đồng, chiếm 1,19% tổng dư nợ, tăng 428 triệu đồng, tương ứng tăng

23,16% so với năm 2016. Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ còn ở mức khá cao và tăng

dần qua các năm. Đặc biệt năm 2017, tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ ở mức cao nhất

(1,19%). Nguyên nhân là nền kinh tế nước ta trong những năm qua chịu ảnh hưởng

của khủng hoảng tài chính thế giới, thị trường tiền tệ có nhiều biến động, sự tăng

giá liên tục của một số mặt hàng chủ lực như xăng dầu, sắt thép, phân bón… ảnh



55



hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ của khách hàng, các khoản nợ vay

phải cơ cấu lại, gia hạn, chuyển nợ quá hạn làm tỷ lệ nợ xấu gia tăng. Tỷ lệ nợ xấu

cao nếu khơng được kiểm sốt và xử lý kịp thời thì hậu quả của nó gây ra đối với

bản thân các QTDND và đối với nền kinh tế là rất lớn. Tỷ lệ nợ xấu cao có thể làm

giảm lợi nhuận hoặc gây nên rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng rất lớn đến an toàn

của hệ thống QTDND.

2.2.6. Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (Hiệu suất sử dụng vốn)

Tuy có sự gia tăng đáng kể về dư nợ tín dụng nhưng QTDND Hồ Xá vẫn

đảm bảo nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Với nguồn vốn huy

động dồi dào mà khơng sử dụng hết gây tình trạng lãng phí về nguồn vốn do hiệu

suất sử dụng vốn thấp. Để hạn chế lãng phí về nguồn vốn do sử dụng không triệt để,

Quỹ đã thực hiện gửi tiền tại các TCTD khác, tuy nhiên mức lãi suất thu được thấp

nên nguồn thu từ tiền gửi tại các TCTD khác không cao.

Bảng 2.10: Hiệu suất sử dụng vốn tại QTDND Hồ Xá giai đoạn 2015-2017



Đơn vị tính: triệu đồng

2016/2015

2017/2016

+/%

+/%

Chỉ tiêu

2015

2016

2017

1. Tổng dư nợ

181.756 188.623 191.038 6.867 3,78 2.415 1,28

2. Tổng nguồn vốn huy động 183.258 198.033 203.070 14.775 8,06 5.037 2,54

Hiệu suất sử dụng vốn (%)

99,18% 95,24% 94,07%

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2015-2017)

Qua bảng số liệu trên ta thấy hiệu suất sử dụng vốn tại QTDND Hồ Xá

những năm qua khá cao, cụ thể: năm 2015 hiệu suất sử dụng vốn đạt 99,18%, năm

2016 đạt 95,24% và năm 2017 đạt 94,07%. Hiệu suất sử dụng vốn qua các năm < 1

chứng tỏ lượng vốn huy động của Quỹ dồi dào, đảm bảo cho hoạt động tín dụng và

tính thanh khoản cao.

Mặc dù hiệu suất sử dụng vốn qua các năm đạt tỷ lệ cao nhưng lại có xu

hướng giảm dần là do tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động cao hơn tốc độ

tăng trưởng của dư nợ tín dụng. Năm 2016, tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy

động là 8,06% trong khi tốc dộ tăng trưởng dư nợ tín dụng là 3,78%. Năm 2017, tốc



56



độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động là 2,54% trong khi tốc độ tăng trưởng của

dư nợ tín dụng là 1,28%. Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ thừa vốn, nên Quỹ phải gửi

tiền tại Ngân hàng hợp tác hoặc các Ngân hàng thương mại. Thông thường lãi suất

gửi tại các NHTM thường thấp hơn lãi suất huy động của Quỹ nên tiềm ẩn rất nhiều

nguy cơ rủi ro.

Vấn đề đặt ra là Quỹ phải tính tốn để cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng

vốn để vừa đảm bảo thanh khoản, hạn chế vay Ngân hàng hợp tác vừa không để

thừa vốn quá nhiều gây rủi ro cho Quỹ.

2.3. Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại QTDND Hồ Xá giai đoạn

2015-2017

2.3.1. Nhận dạng rủi ro tín dụng

QTDND khơng giống các TCTD khác bởi vì nó hoạt động trên mơ hình hợp tác

xã, sở hữu tập thể. Các thành viên góp vốn vào thành lập, gửi tiết kiệm vào quỹ, và quỹ

cho vay các thành viên với mục đích tương trợ để có vốn sản xuất, kinh doanh, trang

trải cuộc sống… trong phạm vi tương đối hẹp và tương đối đặc thù ở những vùng nông

thôn, vùng sâu, vùng xa - những nơi hệ thống ngân hàng chưa bao phủ hết.

Trong thời gian qua, công tác dự báo rủi ro tại các QTDND thường dựa vào

thông tin tự khai thác từ các thành viên vay vốn là chủ yếu nhưng nguồn thơng tin

còn nhiều hạn chế nhất định như: các thành viên không thành thật trong việc cung

cấp thông tin, thông tin không chính xác, khơng đầy đủ, thơng tin chưa phản ánh

được năng lực tài chính của khách hàng nên khơng nắm được khả năng trả nợ của

khách hàng… Với nguồn thông tin đơn điệu như vậy sẽ khiến các QTDND khó đưa

ra các biện pháp phòng ngừa.

Quan điểm chỉ đạo của Ban lãnh đạo QTDND Hồ Xá đến tất cả các cán bộ tín

dụng (CBTD) là phải chú trọng đến cơng tác thẩm định khách hàng vay vốn để hạn

chế phần nào rủi ro tín dụng xảy ra do nguyên nhân từ phía khách hàng. QTDND Hồ

Xá đã từng bước đi sâu vào công tác chấn chỉnh nâng cao chất lượng thẩm định, rà

soát, xem xét xử lý kịp thời những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động sử dụng vốn,

thực hiện việc cho vay đúng chế độ, thể lệ, quy trình, đảm bảo thẩm định kĩ các hồ

sơ, phương án vay và đảm bảo an toàn, ưu tiên tập trung vốn tín dụng phục vụ đầu tư



57



phát triển, sản xuất kinh doanh có hiệu quả. QTDND Hồ Xá đã chủ động, linh hoạt

có chính sách ưu đãi và tập trung vào các khách hàng truyền thống làm ăn có hiệu

quả, đẩy mạnh vòng quay sử dụng vốn. Đối với những khách hàng có tình hình tài

chính khơng hiệu quả theo quy định của nhà nước, đơn vị đã giảm số dư nợ, tăng

cường công tác thẩm định, nghiêm túc thực hiện các quy chế tín dụng hiện hành.

Từ năm 2015 đến nay, Ban lãnh đạo QTDND Hồ Xá đã ban hành, sửa đổi

các Quy chế cụ thể sau:

- Quyết định số 17/2017/QĐ-HĐQT ngày 13/3/2017 quy định về “Quy chế

cho vay đối với khách hàng của QTDND Hồ Xá”.

- Quyết định số 07/2017/QĐ-HĐQT ngày 15/3/2017 “Quy định nội bộ về

phân loại khách hàng và các tỷ lệ bảo đảm an toàn”.

- Quyết định số 27/2017/QĐ-HĐQT ngày 15/3/2017 quy định về “Quy trình

kiểm tra, giám sát tín dụng của QTDND Hồ Xá”.

- Quyết định số 15/2017/QĐ-QTDHX ngày 15/3/2017 về “Quy trình tín

dụng của QTDND Hồ Xá”.

Tại QTDND Hồ Xá, công tác thẩm định được tiến hành khi tiếp nhận hồ sơ

đề nghị vay vốn của khách hàng, bộ phận tín dụng thơng qua việc tiếp xúc với

khách hàng và trực tiếp đến nhà ở hoặc cơ sở kinh doanh của khách hàng để kiểm

tra, qua đó nắm bắt thêm những thơng tin cần thiết làm cơ sở cho việc so sánh, kiểm

tra, đánh giá tính xác thực về năng lực pháp lý, năng lực tài chính, mục đích vay

vốn, tài sản đảm bảo… của khách hàng, từ đó giúp cho CBTD có thể phát hiện ra

những rủi ro có thể xảy ra để phòng ngừa. Đối với khách hàng là hộ sản xuất, kinh

doanh với những khoản vay nhỏ thì cơng tác thẩm định khách hàng thường dựa vào

thơng tin từ chính quyền địa phương nên QTDND Hồ Xá dễ dàng xác định được khả

năng tài chính của người vay cũng như tư cách đạo đức của người vay cũng đã phần

nào hạn chế rủi ro đạo đức.

Tóm lại, cơng tác thẩm định tín dụng có vai trò quan trọng trong sự phát triển

của QTDND, đồng thời, cũng có thể là tác nhân trực tiếp gây ra nợ xấu. Việc hồn

thiện cơng tác thẩm định tín dụng sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển ổn định



58



của hệ thống QTDND nói chung và QTDND Hồ Xá nói riêng.

2.3.2. Đo lường và lượng hóa rủi ro tín dụng

Hiện nay, các QTDND phần lớn đều có quy mơ nhỏ, hoạt động chủ yếu ở địa

bàn nông thôn, năng lực quản lý, điều hành, kiểm sốt và trình độ chun mơn của

đội ngũ cán bộ còn hạn chế. Nguồn vốn hoạt động của quỹ chủ yếu là huy động vốn

góp được bao nhiêu thì cho vay bấy nhiêu. Do đó, QTDND khơng đủ khả năng để

áp dụng các phần mềm quản lý hiện đại, không đủ năng lực để sử dụng các công cụ

chun biệt, các mơ hình đánh giá khách hàng phức tạp… Để đảm bảo cơng tác

phòng ngừa và kiểm sốt rủi ro trong việc cấp tín dụng đối với khách hàng,

QTDND Hồ Xá thực hiện đo lường và lượng hóa RRTD đối với khách hàng bằng

phương pháp phân tích, đánh giá khách hàng tương đối đơn giản, chủ yếu là xem

xét liệu người vay có thiện chí và khả năng thanh tốn các khoản vay khi đến hạn

hay khơng. Cụ thể bao gồm các yếu tố sau:

- Tư cách người đi vay (Character): CBTD chỉ xem xét mục đích sử dụng

vốn vay của khách hàng là gì? Khả năng trả nợ ra sao? Lịch sử vay và trả nợ trong

quá khứ như thế nào? Thiện chí trả nợ, tinh thần trách nhiệm của khách hàng?

- Năng lực hoạt động (Capacity): CBTD đánh giá về năng lực pháp luật,

năng lực hành vi dân sự của khách hàng… nhằm đảm bảo quyền lợi của QTDND

khi xảy ra tranh chấp trước pháp luật.

- Thu nhập của khách hàng (Cash): CBTD kiểm tra thu nhập trong quá khứ, mức

độ ổn định thu nhập trong tương lai để xem xét khả năng trả nợ của khách hàng.

- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là nguồn thứ hai để QTDND thu nợ khi

rủi ro xảy ra, do đó CBTD khi đánh giá TSĐB cần chú ý đến các yếu tố: khả năng

phát mại tài sản, giá trị thị trường tài sản, tuổi thọ…

- Các điều kiện vay (Conditions): CBTD dự đoán xu hướng ngành nghề mà

người đi vay hoạt động và những biến động của nền kinh tế ảnh hưởng tới khả năng

trả nợ của người đi vay như thế nào?

- Kiểm soát (Control): QTDND tập trung vào các luật, qui định, qui chế hiện

hành liên quan đến khoản tín dụng đang được xem xét, mức độ phù hợp của khoản



59



vay đối với qui chế, qui định của Quỹ.

Trong 6 yếu tố trên thì yếu tố Năng lực hoạt động (Capacity) là yếu tố then

chốt để xem xét khách hàng có thể trả nợ được hay không đối với 1 khoản vay.

Trong thực tế, CBTD sẽ xem xét kỹ yếu tố này và phương án, mục đích vay vốn của

khách hàng.

Bảng 2.11: Kết quả phân tích, đánh giá khách hàng tại QTDND Hồ Xá

giai đoạn 2015-2017

Đơn vị tính: khách hàng

Chỉ tiêu



2016/2015

+/%

75

3,33

162 10,32



2015



2016



2017



I. Khách hàng có nhu cầu vay mới 2.255

1. Khách hàng đủ điều kiện vay vốn 1.570

2. Khách hàng khơng đủ điều kiện

898

vay vốn

- Có nợ xấu tại các TCTD khác

128

- Thiếu năng lực tài chính

262

- Tài sản thế chấp khơng đảm bảo 315

- Dự án KD không khả thi

193



2.330

1.732



2.468

1.625



598



630



-300



-33,41



88

169

209

132



39

262

104

225



-40

-93

-106

-61



-31,25

-35,50

-33,65

-31,61



2017/2016

+/%

138

5,92

-107 -6,18

32



5,35



-49 -55,68

93

55,03

-105 -50,24

93

70,45



(Nguồn: Báo cáo hoạt động tín dụng năm 2015-2017)

Trong ba năm 2015-2017, khối lượng khách hàng có nhu cầu vay mới tại

QTDND Hồ Xá luôn tăng cụ thể: năm 2016 tăng 75 khách hàng so với năm 2015

tương ứng tăng 3,33%, năm 2017 tăng 138 khách hàng so với năm 2016 tương ứng

tăng 5,92%. Sau khi phân tích, đánh giá khách hàng đủ điều kiện vay vốn tại

QTDND Hồ Xá năm 2015 là 1.570 khách hàng; năm 2016 là 1.732 khách hàng,

tăng 162 khách hàng tương ứng tăng 10,32% so với năm 2015; năm 2017 là 1.625

khách hàng, giảm 107 khách hàng tương ứng giảm 6,18% so với năm 2016. Khách

hàng không đủ điều kiện vay vốn tại QTDND Hồ Xá năm 2015 là 898 khách hàng;

năm 2016 là 598 khách hàng, giảm 300 khách hàng tương ứng giảm 33,41% so với

năm 2015; năm 2017 là 630 khách hàng, tăng 32 khách hàng tương ứng tăng 5,35%

so với năm 2016. Nguyên nhân từ chối cho vay chủ yếu là do khách hàng có nợ xấu

tại các TCTD khác, khách hàng thiếu năng lực tài chính, tài sản thế chấp khơng đảm

bảo và dự án kinh doanh của khách hàng không khả thi.

Công tác đo lường và lượng hóa RRTD tại QTDND Hồ Xá hồn tồn dựa trên



60



những phân tích, đánh giá chủ quan của các CBTD. Nếu CBTD thiếu năng lực chuyên

môn nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm, thực hiện phân tích đánh giá khách hàng qua loa,

sơ sài thì hậu quả rất khó lường, rủi ro tín dụng rất dễ xảy ra. Vì vậy, QTDND Hồ

Xá cần phải quan tâm hơn nữa đến cơng tác bồi dưỡng trình độ chun mơn nghiệp

vụ, tổ chức các lớp học tập, trao đổi kinh nghiệm cho các CBTD của Quỹ nhằm góp

phần hạn chế RRTD có thể xảy ra.

2.3.3. Phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

Kiểm tra và phát hiện các dấu hiệu rủi ro là công việc không chỉ của các

CBTD tham gia vào quy trình cấp tín dụng mà còn được qn triệt đến từng cán bộ

của QTDND Hồ Xá. Theo quy trình tín dụng thì nhiệm vụ phát hiện các dấu hiệu

rủi ro do phòng tín dụng thực hiện bởi đây là bộ phận trực tiếp làm việc với khách

hàng, thu thập các thông tin, kiểm tra sử dụng vốn vay của khách hàng… nên có

khả năng phát hiện kịp thời những biến động bất lợi.

Thực tế những năm qua cho thấy, cơng tác phòng ngừa và hạn chế RRTD của

QTDND Hồ Xá còn mang tính thụ động, chủ yếu là xử lý khi dấu hiệu rủi ro đã

xuất hiện (không trả được nợ đúng hạn, kinh doanh thua lỗ, kết quả phân loại nợ

không tốt…), khả năng đo lường và lượng hóa RRTD chưa tốt do hạn chế về trình

độ, kinh nghiệm của CBTD, hệ thống thông tin và xử lý thông tin chưa tốt; công tác

kiểm tra sử dụng vốn vay còn hời hợt, chủ yếu dựa vào thơng tin do khách hàng

cung cấp, đặc biệt là những khách hàng ở vùng sâu, vùng xa…

Trong hoạt động tín dụng, khó có thể nói rằng khơng có rủi ro và các QTDND

phải áp dụng tối đa các biện pháp để phòng ngừa rủi ro. Qua cơ sở lý luận đã nghiên

cứu ở chương 1 có thể nhận thấy, các cơng cụ phòng ngừa RRTD hiện đang được

QTDND Hồ Xá sử dụng còn rất đơn điệu, chủ yếu là bảo đảm tín dụng và trích lập quỹ

dự phòng rủi ro. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế thị trường tài chính trong nước còn ở

giai đoạn sơ khai, việc nghiên cứu áp dụng các cơng cụ tiên tiến khác còn chưa phổ

biến thì đặc thù trên vẫn là tình hình chung của các QTDND hiện nay.

RRTD rất đa dạng và có những rủi ro nằm ngồi tầm kiểm sốt của CBTD

mà thẩm định tín dụng khơng thể lường hết được. Vì thế, để hạn chế tổn thất khi rủi

ro xảy ra, QTDND Hồ Xá đã tăng cường cho vay có bảo đảm bằng tài sản góp phần



61



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đơn vị tính: Triệu đồng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×