Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Các phương thức kiểm soát rủi ro tín dụng

* Các phương thức kiểm soát rủi ro tín dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đây là biện pháp nhằm làm giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại nếu nó

xảy ra. Các biện pháp giảm thiểu tổn thất:

+ Giảm hạn mức cho vay, tạm dừng và chấm dứt cho vay: trong quá trình

cho vay và giám sát vốn vay nếu phát hiện nguy cơ rủi ro cao thì ngân hàng cho vay

có thể áp dụng các biện pháp như giảm hạn mức cho vay, tạm dừng và chấm dứt

cho vay nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại khi rủi ro xảy ra.

+ Hạn chế tổn thất bằng việc áp dụng các điều khoản trong nội dung hợp

đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay: là việc ngân hàng đưa các điều khoản

mang tính ràng buộc đối với khách hàng vay vốn nhằm hạn chế rủi ro như các điều

khoản về lãi suất, điều kiện và hình thức thanh tốn, đánh giá lại tài sản đảm bảo,

mục đích sử dụng vốn vay, các trường hợp giảm hạn mức, ngừng cho vay, các biện

pháp bổ sung điều kiện vay vốn.

+ Định giá cho vay: Đây là lãi suất cho vay, trong lãi suất cho vay phải bao

gồm cả phần bù rủi ro. Phần bù rủi ro được áp dụng tùy theo mức độ rủi ro của

từng khoản vay và mục đích là tạo nguồn thu để bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.

Bất kỳ một ngân hàng nào cũng mong muốn bảo đảm rằng lãi suất cho vay cao hơn

lãi suất đã được điều chỉnh theo rủi ro và bao gồm các khoản chi phí.

1.3.4.5. Tài trợ rủi ro tín dụng

Tài trợ rủi ro tín dụng là việc ngân hàng dùng các nguồn tài chính trong và

ngồi ngân hàng bù đắp tổn thất các khoản cho vay khi rủi ro xảy ra. Nợ rủi ro sau

khi được xử lý sẽ được thu hồi hoặc được chuyển qua theo dõi ngoại bảng.

Các nguồn tài trợ rủi ro tín dụng:

+ Nguồn từ ngân hàng:

- Từ quỹ dự phòng rủi ro đã trích: khi rủi ro xảy ra ngân hàng sử dụng quỹ

này để bù đắp rủi ro, khoản nợ được xử lý rủi ro này sẽ được chuyển sang theo dõi

ngoại bảng.

- Trích thẳng trực tiếp vào chi phí hoặc lợi nhuận của ngân hàng: Trong

trường hợp này khi xảy ra tổn thất ngân hàng sẽ trích chi phí hoặc lợi nhuận của

mình để xử lý, nợ vay bị rủi ro được mang sang tài khoản ngoại bảng.



26



Về bản chất cả hai loại hình thức tài trợ rủi ro nêu trên đều ảnh dưởng đến

tình hình tài chính của ngân hàng, làm giảm lợi nhuận hoạt động. Tuy nhiên hình

thức bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro có tính chủ động hơn do chi phí đã được trích

trước, ngân hàng sẽ khắc phục kịp thời hơn, ít tác động đột ngột hơn so với việc bù

đắp rủi ro từ hình thức trích thẳng vào chi phí hoặc lợi nhuận.

+ Nguồn từ bên ngoài ngân hàng:

- Phương án thu hồi nợ xấu: là tồn bộ q trình kiểm tra giám sát và các

biện pháp xử lý nhằm thu hồi một phần hoặc toàn bộ đối với các khoản nợ xấu. Để

thực hiện phương án thu hồi nợ xấu, công việc cần chú trọng là tư vấn cho khách

hàng nhằm tháo gỡ khó khăn trong kinh doanh có thể do cách điều hành, chiến lược

kinh doanh khơng hợp lý, chậm thích nghi với thay đổi mơi trường, mơ hình khơng

phù hợp, cơ cấu lại thời hạn trả nợ,…

- Xử lý tài sản đảm bảo nợ vay: bán tài sản đảm bảo, nhận chính tài sản đảm

bảo nợ vay để sử dụng khai thác, nhận trực tiếp các tài sản của bên thứ ba.

1.3.5. Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý rủi ro tín dụng

Để đánh giá hoạt động tín dụng nói chung và cơng tác quản lý rủi ro tín dụng

nói riêng, các TCTD thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN

thì nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thoả

thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Nợ quá hạn là biểu hiện đặc trưng nhất của rủi ro

cho vay. Việc phát sinh nợ quá hạn là điều khó tránh nhưng nếu nó vượt quá tỷ lệ

cho phép sẽ dẫn đến tình trạng TCTD mất khả năng thanh tốn.

Nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn =



Tổng dư nợ cho vay



x 100



Tỷ lệ này gián tiếp cho thấy quy mô của các khoản vay có vấn đề của ngân

hàng. Nếu tỷ lệ này lớn, chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng là kém, ngân hàng

phải xem xét lại khả năng đánh giá lại các khoản cho vay của mình, đánh giá lại quy



27



trình thủ tục cho vay, đặc biệt xem xét khả năng thực hiện nhiệm vụ của cán bộ tín

dụng trong cơng tác cho vay cũng như thu hồi nợ.

Theo quy định của ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Thơng tư 36/2014/TTNHNN,các TCTD có tỷ lệ dư nợ quá hạn trên 7% thì là các TCTD yếu kém. TCTD

có tỷ lệ dư nợ quá hạn nhỏ hơn 5% là TCTD có nghiệp vụ tín dụng tốt, chất lượng

cho vay cao.

- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu

Cũng theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 18/2007/QĐNHNN thìnợ xấu là các khoản nợ khơng có khả năng trả cả gốc lẫn lãi hoặc sắp rơi vào

tình trạng này. Thơng thường, một khoản cấp tín dụng mà thời gian chi trả quá hạn từ 3

tháng trở lên được xem là một khoản nợ xấu. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào

những điều khoản cụ thể của hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và người vay.

Nợ xấu theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng

Nhà nước là nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi

ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Đây là những khoản nợ rất khó có khả

năng hồn trả. Căn cứ vào khái niệm nợ xấu như trên, có thể thấy, tỷ lệ nợ xấu trên

dư nợ là một chỉ tiêu đánh giá được khá chuẩn xác mức độ rủi ro tín dụng hiện tại

của một Ngân hàng, vì nó tập trung chú ý các khoản nợ đã có biểu hiện rủi ro tín

dụng ở mức cao. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân

hàng lúc này khơng còn ở mức độ rủi ro thơng thường nữa mà có nguy cơ mất vốn.

Nếu tỷ lệ này càng cao chứng tỏ biện pháp quản lý rủi ro tín dụng của TCTD không

hiệu quả, và Ban lãnh đạo cần đưa ra chỉ đạo để giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu..

Nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu =



Tổng dư nợ cho vay



x 100



Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ dùng để đánh giá chất lượng tín dụng

của TCTD. Hiện nay, NHNN đang khống chế tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các

TCTD ở mức tối đa là 3% trên tổng dư nợ.



- Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (Hiệu quả sử dụng vốn)

Hiệu quả sử dụng vốn =



Tổng dư nợ



28



x 100



Tổng vốn huy động

Chỉ tiêu này phản ánh ngân hàng cho vay được bao nhiêu so với tổng nguồn

vốn huy động. Từ đó có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng.

Nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 chứng tỏ ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả nguồn vốn

huy động và vẫn còn lãng phí. Còn nếu con số này lớn hơn 1 thể hiện ngân hàng đã

tranh thủ được vốn huy động. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến rủi ro cho vay vì

huy động vốn chủ yếu là tiền gửi thanh tốn mà loại tiền này ln biến động khơng

ngừng theo thời gian và lãi suất. chính vì thế, ngân hàng khơng nên để chỉ tiêu này

q cao vì sẽ rất dễ mất khả năng thanh toán. Theo Đề án 254 của Chính phủ, tỷ lệ

dư nợ tín dụng so với tổng huy động vốn không quá 90%.

- Dự phòng rủi ro tín dụng

Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập và hạch tốn vào chi phí hoạt động để

dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản tín dụng (nợ) của ngân

hàng và các TCTD. Dự phòng rủi ro tín dụng gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.

Cơng thức tính:

Dự phòng cụ thể = Tỷ lệ trích lập x (Số dư khoản nợ - Giá trị khấu trừ của tài

sản đảm bảo)

Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo và tỷ lệ trích lập dự phòng đối với từng

nhóm nợ được Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng thời kỳ. Hiện tại được quy

định tại Khoản 1 Điều 13 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân

hàng Nhà nước như sau:

Bảng 1.1. Mức trích lập dự phòng

Đơn vị tính: %

Nhóm nợ



Dự phòng cụ thể

(Specific provision)



1 . Nợ đủ tiêu chuẩn (Current)



0



2 . Nợ cần chú ý (Special mentioned)



5



3 . Nợ dưới tiêu chuẩn (Sub-standard)



20



4 . Nợ nghi ngờ (Doubtful)



50



29



Dự phòng chung

( General provision)

0,75



5 . Nợ có khả năng mất vốn (Bad)



100



1.4. Một số rủi ro đã xảy ra trong hệ thống QTDND và bài học kinh nghiệm đối

với hệ thống QTDND nói chung và QTDND Hồ Xá nói riêng:

1.4.1. Một số rủi ro đã xảy ra trong hệ thống QTDND

Cái tên “Quỹ tín dụng nhân dân” có vẻ xa lạ với nhiều người dân ở đô thị lớn,

nơi mạng lưới ngân hàng khá dày. Nhưng Quỹ tín dụng nhân dân đang là nơi cung cấp

tín dụng cho hàng triệu người dân ở các tỉnh, vùng sâu vùng xa, nông thơn.

Những năm 1988-1989, gần 100 quỹ tín dụng nhân dân trên toàn quốc đã đổ

vỡ chỉ sau gần hai năm hoạt động. Tâm lý thị trường khi ấy rất hoang mang. Một

phần do điều kiện kinh tế rất khó khăn. Mặt khác, hầu hết người dân khơng hiểu vì

sao lại như vậy. Thơng tin hồi đó khơng được lan nhanh và rộng rãi như bây giờ.

Bốn nguyên nhân quan trọng lúc đó là: lạm phát phi mã kéo theo sự mất giá rất

nhanh của đồng tiền Việt Nam; thiếu vắng một khn khổ pháp lý cho hoạt động của

mơ hình này trong khi việc cấp phép thành lập dễ dàng; thiếu cơ chế giám sát hiệu quả

của các cơ quan quản lý; và trình độ, năng lực cán bộ quản lý Quỹ rất hạn chế.

Nhưng cũng sau sự kiện đó, Ngân hàng Nhà nước đã chấn chỉnh hoạt động

của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân và thành lập Quỹ tín dụng nhân dân Trung

ương với vai trò điều tiết, điều hòa vốn và hỗ trợ hoạt động của các Quỹ tín dụng

nhân dân cơ sở.

Hiện nay, cả nước có hơn 1.100 Quỹ tín dụng nhân dân, với khoảng 1,8 triệu

thành viên, tổng nguồn vốn huy động khoảng 88.000 tỷ đồng.

Quỹ tín dụng nhân dân khơng giống với ngân hàng thương mại bởi vì nó

hoạt động trên mơ hình hợp tác xã, sở hữu tập thể. Các thành viên góp vốn vào

thành lập, gửi tiết kiệm vào quỹ, và quỹ cho vay các thành viên với mục đích tương

trợ để có vốn sản xuất, kinh doanh, trang trải sự kiện hiếu, hỉ… trong phạm vi

tương đối hẹp và tương đối đặc thù ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa những nơi hệ thống ngân hàng chưa bao phủ hết.

Hình thức quỹ này đã và đang đóng vai trò đáng kể trong việc phát triển bền

vững kinh tế nông thơn. Quan trọng hơn, quỹ góp phần đẩy lùi các mơ hình rủi ro



30



hơn như chơi hụi, tín dụng đen.

Quy mô của các quỹ nhỏ, tổng nguồn vốn huy động cho vay từ một vài tỷ

đồng đến vài chục tỷ đồng, chỉ có một vài quỹ lên đến trăm tỷ đồng. Nợ xấu thường

rất thấp (dưới 1%). Đây là ưu điểm rất lớn so với mơ hình ngân hàng thương mại.

Nhưng mơ hình sở hữu tập thể này cũng có vấn đề riêng của nó. Những

thành viên khơng thể giám sát thường xuyên hay quá tin vào giám đốc Quỹ, khiến

sự lạm dụng quyền lực như Quỹ Thái Bình có thể xảy ra. Việc lãnh đạo một số Quỹ

cố tình chiếm đoạt tài sản chung, cho vay sai nguyên tắc, khiến Quỹ bị thua lỗ

không phải mới xảy ra lần đầu. Năm 2009 và 2012, kịch bản tương tự đã diễn ra tại

các Quỹ tín dụng ở Hà Nội và Ninh Bình.

Thơng tư số 04/2015/TT-NHNN của NHNN về QTDND cũng quy định,

người quản trị, điều hành phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ các tiêu

chuẩn về đạo đức, trình độ, năng lực chun mơn theo quy định của NHNN, có

phẩm chất đạo đức tốt, có tín nhiệm, có năng lực quản lý và hiểu biết về hoạt động

ngân hàng. Thành viên Hội đồng quản trị khơng được đồng thời là thành viên Ban

Kiểm sốt, Kế tốn trưởng, Thủ quỹ của QTDND và khơng phải là cha, mẹ, vợ,

chồng, con hoặc anh, chị, em ruột của họ. Tổng mức cho vay của QTDND đối với

một thành viên là pháp nhân không được vượt quá tổng số vốn góp và số dư tiền gửi

của pháp nhân đó tại QTDND tại thời điểm cho vay và thời hạn cho vay khơng vượt

q thời hạn còn lại của tiền gửi.

Tuy nhiên hiện nay, nhiều Quỹ đã vi phạm, nhiều Quỹ vận hành kiểu “gia

đình”, khâu kiểm sốt, giám sát nội bộ lỏng lẻo. Ngồi "chiêu" mượn uy tín để huy

động và dùng vào việc riêng, trả thêm lãi suất ngoài; cho vay vượt quá mức cho vay

tối đa; nhiều khâu trong trình tự thủ tục vay vốn bị bỏ qua; sử dụng vốn vay sai mục

đích, nhờ vay hộ, vay ké, dồn vốn cho một số người kinh doanh bất động sản...

Trước sự việc Giám đốc QTDND tại Đồng Nai bỏ trốn sau khi mượn uy tín Quỹ

huy động và cho vay trái quy định, dùng tiền vào mục đích cá nhân, trên cả nước

cũng xảy ra nhiều sự việc tương tự. Khơng ít giám đốc QTDND đã vướng vòng lao

lý.



31



Sự cố ở Quỹ tín dụng nhân dân Thái Bình lại một lần nữa cho thấy hệ thống

QTDND cần được chấn chỉnh, gia cố để các vụ việc tương tự không xảy ra.

Kinh doanh tiền tệ là một ngành nhiều rủi ro luôn tiềm ẩn. Sự thật, làm kinh

doanh tiền tệ cũng phải chấp nhận rủi ro ở mức độ cho phép. Trong đó rủi ro đạo

đức thường rất khó lường. Làm sao chúng ta đo lường hết mọi điều được tính tốn

trong thâm tâm của mỗi con người?

1.4.2. Bài học kinh nghiệm cho hệ thống QTDND nói chung và QTDND Hồ Xá

nói riêng

Các Quỹ tín dụng nhân dân dù quy mô nhỏ nhưng số lượng thành viên

thường khá lớn, có khi lên đến hàng nghìn người. Trong văn hóa nhiều địa phương,

do ít hoặc thiếu thơng tin, do thói quen, họ thường có tâm lý chạy theo đám đơng.

Nên nếu có sự cố, thường có nhiều người liên lụy. Vì vậy, để duy trì, phát triển và

nâng cao hiệu quả của hệ thống QTDND, hoạt động của hệ thống này phải được

cơng khai, minh bạch. Điều đó đòi hỏi hoạt động của hệ thống QTDND phải thường

xuyên được kiểm tra, đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và quy định của

pháp luật hiện hành. Về phía cơ quan quản lý là NHNN Chi nhánh các tỉnh, thành

phố hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị điều hành của QTDND, đặc biệt là hệ thống

kiểm toán nội bộ, đảm bảo người quản lý điều hành Quỹ phải đáp ứng tiêu chuẩn về

năng lực và trình độ theo quy định. Cần rà soát quy định về an toàn hoạt động, quản

trị, điều hành và thu hồi giấy phép, sửa đổi quy định vốn pháp định phù hợp với

thực tiễn hoạt động và yêu cầu đảm bảo an toàn của QTDND trong từng giai đoạn.

Cần đưa ra quy trình huy động và cho vay hiệu quả hơn, giám sát được rủi ro và có

biện pháp kiểm tra, xem xét xử lý. Cần hoàn thiện hệ thống CNTT cho QTDND để

đáp ứng yêu cầu an toàn hoạt động.

Bài học kinh nghiệm cho mỗi QTDND là cần xây dựng và thực thi một nền

văn hóa quản lý rủi ro. Theo đó, mỗi người đều ý thức, trách nhiệm quản lý rủi ro

trong phần hành cơng việc của mình cũng như đạo đức nghề nghiệp.

- Một là, lựa chọn người đứng đầu rất quan trọng. Những người này cần phải



32



vừa có tâm (đạo đức nghề nghiệp), vừa có tầm (kiến thức, trình độ, kỹ năng - nhất

là quản lý, điều hành), vừa có uy tín. Kinh nghiệm vừa qua cũng cho thấy, một giám

đốc Quỹ không nên tại vị quá lâu. Sau tối đa hai nhiệm kỳ, tức tối đa 10 năm, cơ

quan quản lý nên luân chuyển người đó. Có thể nghĩ đến cơ chế thành viên Quỹ bỏ

phiếu tín nhiệm giám đốc định kỳ cũng là một phương thức đánh giá, giám sát.

- Hai là, chú ý đến việc xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, nhằm đảm bảo

hoạt động tín dụng được thực hiện trên cơ sở khách quan, thống nhất và minh bạch.

Hồn thiện quy trình cho vay theo hướng gọn nhẹ, đảm bảo tính an toàn, hiệu quả

và tuân thủ theo quy định của phápluật.

- Ba là, xác định công tác quản lý rủi ro tín dụng là trung tâm của hoạt động

quản trị điều hành và phải là một quá trình được thực hiện thường xuyên, liên tục

trong suốt vòng đời của mỗi khoản vay.

- Bốn là, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát. Kiểm tra, giám sát sau khi

cho vay là một q trình khơng thể thiếu trong hoạt động quản lý rủi ro tín dụng

nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn những rủi ro có thể phát sinh từ đó hồn

thiện cơng tác quản lý rủi ro tín dụng.

- Năm là, áp dụng một số công cụ hiện đại để quản lý rủi ro tín dụng, trong

đó quan trọng nhất là xây dựng mơ hình chấm điểm cho các đối tượng vay vốn,

phục vụ tốt cho công tác đo lường rủi ro từ phía khách hàng.

- Sáu là, chú trọng phát triển công nghệ thông tin, thường xuyên đào tạo, bồi

dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, nhận thức của lãnh đạo và nhân viên về rủi ro tín

dụng và cơng tác quản lý rủi ro tín dụng. Mọi người đều hiểu rằng rủi ro tín dụng

ngồi mức cho phép, khơng kiểm sốt được thì QTDND khơng thể hoạt động được.

Trên đây là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu cho các QTDND

nói chung và QTDND Hồ Xá nói riêng trong việc xây dựng và hồn thiện cơng tác

quản lý rủi ro tín dụng giúp hạn chế rủi ro tín dụng, góp phần làm lành mạnh hoạt

động của hệ thống QTDND.



33



TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả đã hệ thống và phân tích làm nổi bật được 5 vấn đề

cơ bản sau:

1. Một số vấn đề lý luận chung về QTDND

2. Tín dụng và các loại hình tín dụng

3. Khái niệm về RRTD, phân loại, nguyên nhân, tác động của RRTD

4. Khái niệm về công tác quản lý RRTD, tầm quan trọng, nội dung công tác

quản lý RRTD và các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý RRTD

5. Một số rủi ro đã xảy ra trong hệ thống QTDND và bài học kinh nghiệm

đối với QTDND Hồ Xá

Trong kinh doanh ngân hàng, việc đương đầu với RRTD là điều không thể tránh

khỏi được. Thừa nhận một tỷ lệ rủi ro tự nhiên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

là yếu cầu khách quan hợp lý. Vấn đề là làm thế nào để hạn chế rủi ro này ở một tỷ lệ



34



thấp nhất có thể chấp nhận được. Các nội dung đã được trình bày trong chương 1 sẽ là

cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và cơng tác quản lý RRTD

của QTDND Hồ Xá, từ đó tìm ra các mặt mạnh, những hạn chế để đưa ra những giải

pháp hồn thiện cơng tác quản lý rủi ro tín dụng của QTDND Hồ Xá.



CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO

TÍN DỤNG TẠI QTDND HỒ XÁ

2.1. Tổng quan về QTDND Hồ Xá

2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của QTDND Hồ Xá

Sau khi có quyết định 390/TTg ngày 27/07/1993 của Thủ tướng Chính phủ

về cho phép triển khai "Đề án thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân", đã

hình thành sơ khởi một hệ thống QTDND- một loại hình tổ chức hợp tác, hoạt động

phù hợp với địa bàn nông nghiệp và nông thôn Việt Nam trong khuôn khổ nền kinh

tế thị trường và đã đạt được một số thành quả nhất định.

So với cả nước, Quảng Trị triển khai thí điểm thành lập QTDND chậm hơn.

Qua nghiên cứu tình hình thực tế xã hội trên địa bàn nhất là khu vực nông nghiệpnông thôn, nơi trụ sở NHTM và quốc doanh ở xa chưa có điều kiện vươn tới, đòi

hỏi phải có QTDND cơ sở hoạt động, để vừa huy động vốn nhàn rỗi vừa cung ứng

vốn kịp thời cho nhân dân, nhằm khơi dậy nhiều tiềm năng kinh tế ở địa phương,

mở rộng nhiều ngành nghề, dịch vụ, giải quyết việc làm, thúc đẩy sản xuất phát



35



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Các phương thức kiểm soát rủi ro tín dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×