Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Phòng quản lý rủi ro: có chức năng tái thẩm định và phê duyệt các khoản cấp tín dụng vượt thẩm quyền của chi nhánh theo quy định phân cấp thẩm quyền; rà soát, đánh giá chất lượng các khoản cấp tín dụng, khách hàng của các chi nhánh; nghiên cứu, phân tíc

- Phòng quản lý rủi ro: có chức năng tái thẩm định và phê duyệt các khoản cấp tín dụng vượt thẩm quyền của chi nhánh theo quy định phân cấp thẩm quyền; rà soát, đánh giá chất lượng các khoản cấp tín dụng, khách hàng của các chi nhánh; nghiên cứu, phân tíc

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Phòng kiểm sốt nội bộ: có chức năng kiểm tra tín dụng định kỳ hoặc đột

xuất theo yêu cầu của Ban điều hành. Việc kiểm tra giúp phát hiện sai sót để kịp

thời chấn chỉnh, đồng thời có thể phát hiện những bất cập khi áp dụng quy trình vào

thực tế để kiến nghị và sửa đổi.

Khối hỗ trợ: bao gồm Phòng Tổ chức hành chính, Phòng tổng hợp, Phòng

thơng tin điện tốn. Chức năng của khối hỗ trợ là đảm bảo tham mưu hiệu quả công

tác tổ chức bộ máy nhân sự, hoạch định nguồn nhân lực, quản lý nhân sự của ngân

hàng; đảm bảo điều kiện, trang thiết bị, kỹ thuật và cơ sở vật chất cho các hoạt động

của ngân hàng, đặc biệt là công tác quản lý rủi ro tín dụng.

Qua việc phân tích chức năng của từng bộ phận trong bộ máy quản lý RRTD

của các NHTM ta thấy có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản lý

rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp. Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu hàng

đầu là giảm thiểu rủi ro tín dụng ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ

năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm cơng tác tín dụng. Giúp HĐQT quản lý

RRTD một cách có hệ thống trên quy mơ tồn ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh

lâu dài; thiết lập và duy trì mơi trường quản lý RRTD đồng bộ, phù hợp với quy

trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh, nâng cao năng lực đo

lường giám sát RRTD; xây dựng chính sách quản lý RRTD thống nhất cho toàn hệ

thống. Bộ máy quản lý RRTD này rất thích hợp với ngân hàng quy mơ lớn vì việc

xây dựng và triển khai bộ máy quản lý RRTD này đòi hỏi phải đầu tư nhiều cơng

sức và thời gian. Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức cần thiết và biết áp dụng lý

thuyết với thực tiễn.

Để xây dựng mơ hình quản lý rủi ro tín dụng như các NHTM đòi hỏi các

QTDND phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Điều kiện về năng lực tài chính: tiềm lực tài chính mạnh để đầu tư vào hệ

thống cơng nghệ, kiện tồn bộ phận kiểm sốt nội bộ.

- Điều kiện về công nghệ và hệ thống thơng tin quản lý: QTDND cần có nền

tảng cơng nghệ vững chắc, hệ thống dữ liệu hoàn chỉnh và hệ thống thơng tin quản

lý tập trung để có thể tính tốn được rủi ro. Ngồi ra QTDND cũng cần có hệ thống

thông tin nội bộ cũng như hệ thống báo cáo cho cơ quan giám sát NHTW chính xác,



18



kịp thời.

- Điều kiện nhân sự: Đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia về quản lý rủi ro, kiểm

sốt nội bộ có bề dày kinh nghiệm. Hệ thống nhân viên tham gia đo lường rủi ro tín

dụng cần am hiểu về hệ thống tài chính, có kiến thức cơ bản và nâng cao về quản lý

rủi ro tín dụng, có kiến thức về kinh tế lượng. Thêm vào đó, cần tham khảo và tìm

sự hỗ trợ của đội ngũ chuyên gia kiểm tốn và các cơ quan tư vấn bên ngồi.

- Điều kiện về hệ thống quản lý và tổ chức: Hệ thống quản lý và tổ chức đã

được kiện toàn, việc phân cấp ủy quyền minh bạch giữa các bộ phận kiểm tra nội bộ

và kiểm soát nội bộ, tránh sự chồng chéo về chức năng và quyền lực.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, các QTDND thường có quy mơ nhỏ,

năng lực tài chính yếu, điều kiện về cơng nghệ và hệ thống quản lý chưa được kiện

toàn, năng lực và trình độ của cán bộ còn hạn chế… chưa đủ điều kiện để xây dựng

mơ hình quản lý rủi ro tín dụng như các NHTM. Bởi vậy, bộ máy quản lý RRTD

của các QTDND được xây dựng và tổ chức rất đơn giản và gọn nhẹ.

Bộ máy quản lý RRTD của các QTDND chưa có sự tách bạch giữa chức

năng quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp. Trong đó, phòng tín dụng của Quỹ

phải thực hiện đầy đủ các chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu trong

hoạt động tín dụng. Mặc dù bộ máy quản lý RRTD của các QTDND được tổ chức

hết sức gọn nhẹ, cơ cấu tổ chức đơn giản và thích hợp với Quỹ có quy mơ hoạt

động nhỏ nhưng bộc lộ rất nhiều điểm yếu như: nhiều công việc tập trung hết vào

phòng tín dụng nên thiếu sự chun sâu, việc quản lý RRTD đều dựa trên những

nhận định, phân tích, đánh giá và báo cáo của phòng tín dụng nên rất dễ dẫn đến

những nhận định sai và kéo theo là đưa ra những quyết định không đúng.

1.3.4. Nội dung cơng tác quản lý rủi ro tín dụng

Nội dung cơng tác quản lý rủi ro tín dụng bao gồm: nhận diện rủi ro tín dụng,

đo lường và lượng hóa rủi ro tín dụng, phòng ngừa rủi ro tín dụng, kiểm sốt rủi ro

tín dụng và tài trợ rủi ro tín dụng.

Cơng tác quản lý rủi ro tín dụng của QTDND cũng bao gồm các nội dung cơ

bản trên.



19



Hình 1.4. Quy trình quản lý rủi ro tín dụng

1.3.4.1. Nhận diện rủi ro tín dụng

Nhận diện RRTD là q trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro của

một tổ chức. Các hoạt động nhận diện nhằm phát triển thông tin về nguồn rủi ro, các

yếu tố mạo hiểm, hiểm họa và nguy cơ rủi ro. [Đinh Xuân Hạng, Nguyễn Văn Lộc,

2012].

Nhận diện rủi ro hay nhận biết, xác định các dấu hiệu có khả năng xảy ra rủi

ro cho khoản cấp tín dụng của NH thường được phát hiện thơng qua q trình tiếp

xúc, kiểm tra thường xuyên khách hàng vay vốn của cán bộ NH qua các dấu hiệu về

khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời.

- Khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của KH sẽ ảnh hưởng tới khả năng chi trả các khoản nợ

của KH và khả năng thanh toán lãi vay cho NH. Khi khách hàng mất khả năng

thanh tốn thì uy tín của khách hàng bị giảm, ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình sản

xuất kinh doanh cũng như khả năng tạo lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, nó sẽ



20



ảnh hưởng tới kế hoạch trả nợ của khách hàng, còn NH thì khó thu hồi vốn theo hợp

đồng tín dụng.

- Hiệu quả hoạt động

Một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nghĩa là doanh nghiệp đó sử dụng,

khai thác tài sản một cách hiệu quả: hàng tồn kho, khoản phải thu… luân chuyển

nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản cao. Khi thấy doanh nghiệp có kì luân chuyển hàng

tồn kho, kỳ thu tiền.. tăng đột biến, CBTD cần xác định rõ nguyên nhân tại sao có

hiện tượng bất thường đó vì sự gia tăng đột biến kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ

thu tiền… ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,

tới luồng tiền phát sinh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng tới việc thực hiện kế

hoạch trả nợ của KH với NH.

- Khả năng sinh lời

Khả năng sinh lời của một doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng khi NH

đánh giá tình hình tài chính, SXKD của KH, hiệu quả của phương án vay vốn. Khi

khả năng sinh lời giảm, CBTD cần xem xét tới các yếu tố: thời gian tham gia hoạt

động, vốn khách hàng đầu tư, lĩnh vực khách hàng tham gia… để xem nguyên nhân

từ đâu, có phải do doanh nghiệp vận hành khơng hiệu quả khơng? Thơng qua đó,

NH có chính sách phù hợp để vừa tạo điều kiện cho KH hoạt động và phát triển

đồng thời đảm bảo khả năng thu hồi vốn của NH.

Trên cơ sở các yếu tố trên, NH sẽ nhìn nhận đúng đắn thực trạng sản xuất

kinh doanh của KH, xác định được các dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro để từ đó NH có chính

sách phù hợp nhất đối với từng KH cụ thể.

1.3.4.2. Đo lường, lượng hóa rủi ro tín dụng

Đo lường RRTD là việc xây dựng mơ hình thích hợp để lượng hóa mức độ

rủi ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an tồn tối

đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro. [Đinh Xuân

Hạng, Nguyễn Văn Lộc, 2012].

Để đảm bảo an toàn cho hệ thống NH và quyền lợi của KH, các NH cần phải

cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận. Chính vì vậy, đo lường rủi ro tín dụng là một yêu



21



cầu tất yếu để có thể xác định các mức độ rủi ro của các sản phẩm tín dụng, xác

định giá bán của sản phẩm tín dụng (lãi suất, phí), xác định cơ cấu danh mục tín

dụng hợp lý đảm bảo an tồn cho ngân hàng và mang lại mức lợi nhuận cao nhất.

Tuy nhiên, hoạt động đo lường rủi ro tín dụng tại các ngân hàng vẫn chưa được

quan tâm đúng mức. Phương pháp đo lường rủi ro tín dụng hiện đang được các

NHTM Việt Nam áp dụng nhiều nhất có thể kể đến là phương pháp phân tích 6C.

* Phương pháp phân tích 6C:

Trọng tâm của phương pháp này là xem xét liệu người vay có thiện chí và khả

năng thanh tốn các khoản vay khi đến hạn hay không. Cụ thể bao gồm 6 yếu tố sau:

- Character (Tư cách người đi vay): CBTD cần xem xét thiện chí trả nợ, tinh

thần trách nhiệm của khách hàng. Mục đích sử dụng vốn vay là gì? Khả năng trả nợ

ra sao? Lịch sử vay và trả nợ ngân hàng trong quá khứ như thế nào?

- Capacity (Năng lực hoạt động): CBTD phải chắc chắn về năng lực pháp

luật, năng lực hành vi dân sự của khách hàng… nhằm đảm bảo quyền lợi của ngân

hàng khi xảy ra tranh chấp trước pháp luật.

- Cash (Thu nhập): CBTD cần kiểm tra thu nhập trong quá khứ, mức độ ổn

định thu nhập trong tương lai để xem xét khả năng trả nợ của khách hàng.

- Collateral (Bảo đảm tiền vay): Đây là nguồn thứ hai để ngân hàng thu nợ,

khi đánh giá TSĐB cần tính đến các yếu tố: khả năng phát mại tài sản, giá trị thị

trường tài sản, tuổi thọ…

- Conditions (Các điều kiện vay): CBTD cần dự đoán xu hướng ngành nghề

mà người đi vay hoạt động và những biến động của nền kinh tế ảnh hưởng tới khả

năng trả nợ của người đi vay như thế nào?

- Control (Kiểm soát): Ngân hàng tập trung vào những vấn đề sự thay đổi

quy chế pháp luật ảnh hưởng tới việc đáp ứng tiêu chuẩn tín dụng của ngân hàng.

Việc sử dụng phương pháp này tương đối đơn giản, song hạn chế của nó là

phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thơng tin thu thập, khả năng dự báo

cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD.

1.3.4.3. Phòng ngừa rủi ro tín dụng



22



Mặc dù quyết định cho vay phải trải qua các khâu như phân tích, thẩm định…

nhưng vẫn khơng thể loại bỏ hồn tồn sai sót, nghĩa là vẫn còn tiềm ẩn RRTD. Do

vậy, biện pháp quản lý RRTD tiếp theo để phòng ngừa RRTD có thể xảy ra là xem xét

đến các hình thức trích lập quỹ dự phòng RRTD và bảo đảm tín dụng.

a. Trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng

Đây là biện pháp được các NH sử dụng chủ yếu, là biện pháp tự khắc phục

rủi ro trong hoạt động tín dụng của NH. NH thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và

sử dụng dự phòng đối với các khoản nợ theo quy định của NHNN. Việc trích lập dự

phòng sẽ làm giảm lợi nhuận của NH (do khoản trích lập được tính vào chi phí,

khoản đầu tư khơng sinh lợi, bị đưa vào quỹ phong tỏa của NHNN) nhưng mặt khác

nó giúp NH ý thức được việc kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng một cách

chặt chẽ hơn.

Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng chung và dự phòng cụ thể.

* Dự phòng chung: là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất

có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể. Số tiền dự

phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ

nhóm 1 đến nhóm 4, trừ các khoản sau đây:

- Tiền gửi quy định tại điểm i, Khoản 1, Điều 1 Thông tư 02/2013/TT-NHNN

ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

- Khoản cho vay, mua có kỳ hạn giấy tờ có giá đối với TCTD, chi nhánh

Ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam.

* Dự phòng cụ thể: là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất

có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể.

Số tiền dự phòng cụ thể phải trích đối với từng khách hàng được tính theo

cơng thức sau:



Trong đó:

R: Tổng số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng;

:Tổng



số tiền dự phòng cụ thể của từng khách hàng từ số dư nợ thứ 1



23



đến thứ n;

Ri: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng đối với số dư nợ

gốc của khoản nợ thứ i. Ri được xác định theo công thức:

Ri = (Ai – Ci) x r

Trong đó:

Ai: Số dư nợ gốc thứ I;

Ci: giá trị khấu trừ của TSĐB, tài sản cho thuê tài chính (sau đây gọi chung

là TSĐB) của khoản nợ thứ i;

R: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể theo nhóm.

Trường hợp Ci > Ai thì Ri được tính bằng 0.

Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cụ thể đối với các nhóm nợ quy định như sau:

Nợ nhóm 1: Trích 0%

Nợ nhóm 2: Trích 5%

Nợ nhóm 3: Trích 20%

Nợ nhóm 4: Trích 50%

Nợ nhóm 5: Trích 100%

Quỹ DPRR được trích lập từ thu nhập của Ngân hàng trước khi nộp thuế.

Trong trường hợp xảy ra khoản tín dụng khơng thể thu hồi, Ngân hàng có thể sử

dụng quỹ dự phòng này để bù đắp khắc phục rủi ro.

b. Bảo đảm tín dụng

Bảo đảm tín dụng (bảo đảm tiền vay) là việc các TCTD áp dụng các biện

pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các

khoản nợ đã cho khách hàng vay. Các hình thức bảo đảm tín dụng bao gồm: thế

chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay và bảo đảm

bằng hình thức bảo lãnh. Bảo đảm tín dụng thường được xem là biện pháp quan

trọng nhằm giúp ngân hàng thu hồi khoản vay có vấn đề. Tuy nhiên, nếu quyết định

cho vay quá chú trọng đến việc dựa vào bảo đảm tín dụng thì dễ dẫn đến tâm lý ỷ

lại và mắc sai lầm chủ quan. Bảo đảm tín dụng cũng chưa hẳn loại bỏ hồn tồn

RRTD. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp khách hàng không trả được nợ vay và



24



Tòa án đã phán quyết thanh lý TSĐB để thu hồi nợ, nhưng việc thanh lý tài sản đôi

khi vẫn không thể thực hiện hoặc thực hiện quá chậm và giá trị tài sản sau khi thanh

lý thu về thấp hơn giá trị nợ phải thu hồi.

1.3.4.4. Kiểm sốt rủi ro tín dụng

Kiểm sốt rủi ro tín dụng là những kỹ thuật, những cơng cụ, những chiến

lược và những quá trình nhằm biến đổi rủi ro của một tổ chức thông qua việc né

tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro và

tổn thất.



* Các phương thức kiểm sốt rủi ro tín dụng

- Kiểm sốt bằng việc tiến hành kiểm tra, kiểm sốt nội bộ

Các chính sách, quy trình kiểm sốt phải gắn kết với hoạt động tín dụng hàng

ngày, và trong quy trình đó đã được cài đặt các chốt kiểm soát nhằm hạn chế rủi ro

ở mức thấp nhất: từ việc chấp hành các văn bản pháp quy đến việc ban hành các

chính sách, quy chế, quy trình nội bộ phù hợp.

Thực hiện các thủ tục kiểm sốt tương ứng với các chính sách đã đề ra.

Trong đó, vấn đề cần được coi trọng nhất là mọi thành viên trong ngân hàng cần

phải nhận thức đúng tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ, ý thức được trách nhiệm

của mình trong vai trò kiểm sốt viên để tuân thủ tuyệt đối những quy định của

pháp luật, của chính sách nội bộ đã đề ra.

Xác minh đánh giá việc thực hiện các chính sách này có được tuân thủ hay

không; đồng thời đánh giá sự phù hợp, hiệu quả của các chính sách đó có cần bổ

sung chỉnh sửa hay khơng.

- Kiểm sốt q trình thẩm định và giải ngân

Tuân thủ các văn bản hướng dẫn thực hiện quy trình thẩm định và xét duyệt

tín dụng để nâng cao chất lượng cơng tác kiểm tra, kiểm sốt tín dụng.

Tiến hành đánh giá lại các khoản cấp tín dụng hiện tại, lựa chọn, duy trì

những khách hàng tốt, có uy tín trả nợ, đồng thời, thu hẹp các khoản tín dụng được

xem là có nguy cơ dẫn đến nợ quá hạn, gây rủi ro cho ngân hàng.

- Giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra



25



Đây là biện pháp nhằm làm giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại nếu nó

xảy ra. Các biện pháp giảm thiểu tổn thất:

+ Giảm hạn mức cho vay, tạm dừng và chấm dứt cho vay: trong quá trình

cho vay và giám sát vốn vay nếu phát hiện nguy cơ rủi ro cao thì ngân hàng cho vay

có thể áp dụng các biện pháp như giảm hạn mức cho vay, tạm dừng và chấm dứt

cho vay nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại khi rủi ro xảy ra.

+ Hạn chế tổn thất bằng việc áp dụng các điều khoản trong nội dung hợp

đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay: là việc ngân hàng đưa các điều khoản

mang tính ràng buộc đối với khách hàng vay vốn nhằm hạn chế rủi ro như các điều

khoản về lãi suất, điều kiện và hình thức thanh tốn, đánh giá lại tài sản đảm bảo,

mục đích sử dụng vốn vay, các trường hợp giảm hạn mức, ngừng cho vay, các biện

pháp bổ sung điều kiện vay vốn.

+ Định giá cho vay: Đây là lãi suất cho vay, trong lãi suất cho vay phải bao

gồm cả phần bù rủi ro. Phần bù rủi ro được áp dụng tùy theo mức độ rủi ro của

từng khoản vay và mục đích là tạo nguồn thu để bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.

Bất kỳ một ngân hàng nào cũng mong muốn bảo đảm rằng lãi suất cho vay cao hơn

lãi suất đã được điều chỉnh theo rủi ro và bao gồm các khoản chi phí.

1.3.4.5. Tài trợ rủi ro tín dụng

Tài trợ rủi ro tín dụng là việc ngân hàng dùng các nguồn tài chính trong và

ngồi ngân hàng bù đắp tổn thất các khoản cho vay khi rủi ro xảy ra. Nợ rủi ro sau

khi được xử lý sẽ được thu hồi hoặc được chuyển qua theo dõi ngoại bảng.

Các nguồn tài trợ rủi ro tín dụng:

+ Nguồn từ ngân hàng:

- Từ quỹ dự phòng rủi ro đã trích: khi rủi ro xảy ra ngân hàng sử dụng quỹ

này để bù đắp rủi ro, khoản nợ được xử lý rủi ro này sẽ được chuyển sang theo dõi

ngoại bảng.

- Trích thẳng trực tiếp vào chi phí hoặc lợi nhuận của ngân hàng: Trong

trường hợp này khi xảy ra tổn thất ngân hàng sẽ trích chi phí hoặc lợi nhuận của

mình để xử lý, nợ vay bị rủi ro được mang sang tài khoản ngoại bảng.



26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Phòng quản lý rủi ro: có chức năng tái thẩm định và phê duyệt các khoản cấp tín dụng vượt thẩm quyền của chi nhánh theo quy định phân cấp thẩm quyền; rà soát, đánh giá chất lượng các khoản cấp tín dụng, khách hàng của các chi nhánh; nghiên cứu, phân tíc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×