Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

Tải bản đầy đủ - 0trang

một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa

vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên,

Tòa án ra quyết định cơng nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi

phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một

bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ

trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa

án ra quyết định cơng nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong

trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng,

chứng thực”.

Theo quy định của Điều 129 BLDS nêu trên, chúng ta có thể

thấy một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, hình thức của giao dịch dân sự là phương tiện

thể hiện nội dung của giao dịch. Có hai trường hợp giao dịch

được coi là không tuân thủ về hình thức,đó là: 1

Văn bản giao dịch khơng đúng quy định của pháp luật và

văn bản giao dịch vi phạm quy định bắt buộc về công chứng,

chứng thực. Như vậy, giao dịch dân sự đã được xác lập giữa các

bên, trước hết, phải được thể hiệnbằng văn bản vàtrường hợp

giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức

thơng điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch

điện tử cũng được coi là giao dịch bằng văn bản (khoản 1

Điều 119 BLDS năm 2015).

Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng hành vi

cụ thể thì khơng thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật này.

Ở đây, cần xác địnhrõ thế nào là giao dịch bằng văn bản

nhưng văn bản đó khơng đúng quy định của luật,vì hiện nay

chưa có văn bản hướng dẫn vấn đề này. Theo cách hiểu thơng



1https://kiemsat.vn/hieu-luc-cua-giao-dich-dan-su-khong-tuan-thu-hinh-thuc-theo-



bo-luat-dan-su-2015-47124.html



3



thường thì giao dịch đúng quy định của luật là giao dịch tuân

thủ các nội dung mà pháp luật quy định.

Chẳng hạn, hợp đồng có thể có các nội dung nội sau đây:

Đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá, phương thức

thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp

đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm

hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp (Điều 398 BLDS

năm 2015).Hợp đồng vay có các nội dung như: Nghĩa vụ của

bên cho vay, nghĩa vụ trả nợ của bên vay, lãi suất, sử dụng tài

sản vay (các điều 466, 467, 468 BLDS năm 2015)…; và một số

loại hợp đồng theo quy định của luật chuyên ngành cũng có

những nội dung bắt buộc.

Cụ thể, theo Điều 18, Luật Kinh doanh bất động sản năm

2014 thì nội dung hợp đồng mua bán, cho th, cho th mua

nhà, cơng trình xây dựng phải có các nội dung chính sau đây:

Tên, địa chỉ của các bên; các thông tin về bất động sản; giá

mua bán, cho thuê, cho thuê mua;phương thức và thời hạn

thanh toán; thời hạn giao, nhận bất động sản và hồ sơ kèm

theo; bảo hành; quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do

vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng; các trường hợp

chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp xử lý; giải quyết

tranh chấp; thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

Như vậy, quy định về các nội dung của hợp đồng trong

BLDS năm 2015 và Luật chuyên ngành chưa có sự thống nhất.

Bộ luật Dân sự không yêu cầu hợp đồng phải có các nội dung

bắt buộc, mà chỉ quy định mang tính tùy nghi là “có thể có các

nội dung”, trong khi Luật Kinh doanh bất động sản thì quy định

các nội dung mang tính bắt buộc.2

2 Tạp chí Kiểm sát số 24/2016



4



Những văn bản bắt buộc phải công chứng, chứng thực được

quy định trong BLDS và các văn bản luật chuyên ngành. Theo

khoản 2 Điều 119 BLDS năm 2015: Trường hợp luật quy định

giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có cơng

chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tn theo quy định đó.

Theo đó, những giao dịch pháp luật bắt buộc phải có cơng

chứng, chứng thực như: Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi,

góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán

nhà ở thương mại thì phải thực hiện cơng chứng, chứng thực

hợp đồng (khoản 1 Điều 122 Luật nhà ở năm 2014); hợp đồng

chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử

dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (khoản

3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013); giấy bán, cho, tặng xe của

cá nhân phải có cơng chứng theo quy định của pháp luật về

công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường,

thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy

định của pháp luật về chứng thực (Điều 10, Thông tư

15/2014/TT- BCA quy định về đăng ký xe)…

Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 129 BLDS năm 2015 thì nếu

các bên vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực

mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba

nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các

bên, khi giải quyết thì Tòa án ra quyết định cơng nhận hiệu lực

của giao dịch đó và các bên không phải thực hiện việc công

chứng, chứng thực.

Thứ hai, điều kiện để văn bản khơng tn thủ hình thức

được Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực là một bên hoặc

các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao

dịch. Theo Điều 274 BLDS năm 2015: Nghĩa vụ là việc mà theo

5



đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa

vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy

tờ có giá, thực hiện cơng việc hoặc khơng được thực hiện cơng

việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau

đây gọi chung là bên có quyền).Theo đó, đối tượng của nghĩa

vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không thực hiện, và

đối tượng phải xác định được. Quy định đã thực hiện ít nhất hai

phần ba nghĩa vụ trong giao dịch có thể hiểu là:

(1). Một bên hoặc các bên đã chuyển giao ít nhất hai phần

ba vật (nếu là vật cùng loại thì phải giao ít nhất 2/3 số lượng với

chất lượng như đã thỏa thuận là hợp lý), nhưng với vật đặc định

hoặc vật đồng bộ thì việc xác định 2/3 nghĩa vụ sẽ gặp khó

khăn.

(2). Đã chuyển giao ít nhất hai phần ba quyền.

(3). Một bên hoặc các bên đã trả ít nhất hai phần ba tiền

hoặc giấy tờ có giá.

(4). Một bên hoặc các bên đã thực hiện hoặc khơng thực

hiện ít nhất hai phần ba cơng việc đã thỏa thuận. Tuy nhiên,

việc xác định thế nào cho chính xác một hoặc các bên đã thực

hiện hai phần ba nghĩa vụ sẽ gặp khó khăn trong thực tiễn giải

quyết, dễ dẫn đến sự tùy tiện trong áp dụng khi chưa có văn

bản hướng dẫn cụ thể.

Thứ ba, khơng phải việc một bên hoặc các bên đã thực

hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì giao dịch

đó đương nhiên có hiệu lực, mà cần có thêm điều kiện là phải

thơng qua con đường Tòa án. Cụ thể là, theo yêu cầu của một

bên hoặc các bên, sau khi xem xét đầy đủ các điều kiện của

giao dịch như đã nêu trên thì Tòa án sẽ ra quyết định cơng nhận

hiệu lực của giao dịch đó.3

3http://npklaw.com/en/nhung-van-de-can-luu-y-khi-ap-dung-dieu-129-bo-luat-dan-



su-nam-2015-ve-giao-dich-dan-su-vo-hieu-khong-tuan-thu-quy-dinh-hinh-



6



1.3. Những kiến nghị đối với Điều 129 BLDS 2015.

Từ những phân tích nêu trên, chúng tơi cho rằng, khi áp

dụng Điều 129 BLDS cần lưu ý những vấn đề sau đây:

Một là, Điều 129 chỉ áp dụng cho giao dịch mà pháp luật

quy định hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của

giao dịch, nhưng các bên khơng tn thủ quy định về hình thức,

song một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ

trong giao dịch thì cơng nhận giao dịch đó theo yêu cầu của

một bên hoặc các bên;

Hai là, chỉ công nhận giao dịch khi khơng vi phạm các điều

kiện có hiệu lực khác và việc khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao

dịch vơ hiệu về hình thức trong thời hạn 2 năm kể từ ngày xác

lập giao dịch;

Ba là, sau 2 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập

mới khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vơ hiệu về hình thức

(khơng vi phạm các điều kiện có hiệu lực khác), dù bên có

nghĩa vụ đã thực hiện hoặc chưa thực hiện được ít nhất 2/3

nghĩa vụ vẫn công nhận giao dịch, nhưng không phải là áp

dụng Điều 129 mà áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 132 và các

điều tương ứng với quan hệ pháp luật đang giải quyết;

Bốn là, việc xác định 2/3 nghĩa vụ không phải với nghĩa

tổng số nghĩa vụ trong giao dịch mà chỉ cần một bên đã thực

hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ của họ trong giao dịch là đủ điều

kiện áp dụng Điều 129.

Năm là, chỉ các giao dịch có đền bù thì mới áp dụng điều

kiện về hình thức theo quy định của Điều 129; các quan hệ dân

sự khơng có đền bù khơng áp dụng khoản 2,3 Điều 129.



thuc.html



7



2.



Sưu tầm một bản án của Tòa án giải quyết về



vấn đề này và nêu quan điểm cá nhân nội dung được giải

quyết.

Bản án 143/2017/DS-PT về tranh chấp yêu cầu hủy

hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của TAND

thành phố Hà Nội.

Trong bản án này, Nguyên đơn: Ông Ngô Đăng Thự, sinh

năm 1960; Địa chỉ: Khu Trung, thôn Dục Nội, xã Việt Hùng,

huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Bị đơn:1. Ông Trần Thanh

Sơn, sinh năm 1961

Địa chỉ: Tập thể Công ty Bắc Hà, xã Vân Nội, huyện Đông

Anh, thành phố Hà Nội2. Bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1958 (vợ

ông Sơn)

Địa chỉ: Tập thể Công ty Bắc Hà, xã Vân Nội, huyện Đông

Anh, thành phố Hà Nội

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trần Thị Quý, Sinh năm 1986

2. Anh Trần Quốc Toản, sinh năm 1988

3. Anh Trần Quốc Toàn, sinh năm 1991

Cùng địa chỉ: Tập thể Công ty Bắc Hà, xã Vân Nội, huyện

Đông Anh, thành phố Hà Nội

Nội Dung:

Ngày 11/6/1994, ông mua của vợ chồng ông Trần Thanh

Sơn, bà Nguyễn Thị Lan diện tích đất 63m2 thuộc ơ số 13 Tập

thể Cơng ty Bắc Hà (trước đây thuộc khu tập thể của Nông

Trường Đơng Anh I) với giá 45.000.000 đồng, trên đất có nhà

cấp 4 diện tích 20m2. Hai bên lập “Giấy nhượng lại thành quả

lao động”, bên mua là ông ký, bên bán là ông Sơn, bà Lan ký,

người làm chứng là ông Nguyễn Văn Dũng bạn ông ký. Trong

“Giấy chuyển nhượng thành quả lao động” này ghi số tiền



8



chuyển nhượng là 10 triệu đồng mục đích giảm thuế. Ơng Sơn

tự tay viết giấy biên nhận số tiền 45.000.000 đồng của ông. 4

Sau khi mua đất của ông Sơn, do ông chưa có nhu cầu sử

dụng và gia đình ơng Sơn xin mượn lại gian nhà trên đất để ở

tạm, khi nào ông cần dùng thì trả lại ông nên hai bên chưa tiến

hành giao nhận đất cho nhau. Năm 1998, ông đi lao động xuất

khẩu tại Nga. Năm 2004, ông về nước có u cầu gia đình ơng

Sơn trả đất nhưng ông Sơn không trả mà yêu cầu trả lại

45.000.000 cho ơng. Ơng khơng nhất trí nhận lại tiền nên hai

bên đưa nhau ra UBND xã Vân Nội hòa giải nhiều lần nhưng

khơng có kết quả. Nay ơng khởi kiện ra Tòa án, u cầu gia đình

ơng Sơn thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất giữa hai bên

lập ngày 11/6/1994 là bàn giao 63m2 đất cho ơng. Trường hợp

gia đình ơng Sơn không đồng ý thực hiện hợp đồng giao đất cho

ơng và Tòa án khơng chấp nhận hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất này có hiệu lực pháp luật thì ơng đề nghị

Tòa án giải quyết hậu quả hợp đồng vơ hiệu, buộc gia đình ơng

Sơn bồi thường thiệt hại cho ơng.

Nhận định của Tòa:

Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để xác định ơng Ngơ Đăng

Thự và vợ chồng ông Trần Thanh Sơn, bà Nguyễn Thị Lan có

lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 63m2 đất tại ô 13

mà ông Trần Thanh Sơn được Nông trường Đơng Anh I cấp năm

1992, khơng có căn cứ xác định giữa hai bên chỉ có việc đặt cọc

như yêu cầu kháng cáo của ông Sơn.

Tuy nhiên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 63m2

đất này giữa ông Ngô Đăng Thự và vợ chồng ông Trần Thanh

Sơn thể hiện bằng văn bản viết tay là: “Giấy nhượng lại thành

4https://banan.thuvienphapluat.vn/ban-an/ban-an-1432017dspt-ve-tranh-chap-



yeu-cau-huy-hop-dong-chuyen-nhuong-quyen-su-dung-dat-7688



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×