Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tài liu lun vn s phm , giáo dc21 of 63.



Điểm 2 (ký hiệu SC2) độ cao744m

Tọa độ N:22o24’49,6’’ E:103o53’55,3”

Trời âm u, khơng nắng, rất nhiều mây, có mưa nhỏ và kèm theo gió nhẹ.

Hai bên bờ là đồi núi đang được tiến hành thi công. Nước chảy khá mạnh,

nước suối đục, độ sâu trung bình 50cm. Suối có nhiều tảng đá với đường kính

khoảng 60 – 80cm. Nền đáy đá hỗn hợp chủ yếu là cát và sỏi nhỏ, đá nhỏ. Độ

che phủ 0 – 5%.

Điểm 3 (ký hiệu SC3) độ cao 937m

Tọa độ N:22o24’05,0” E:103o54’35,7

Độ rộng của suối nhỏ. Nước chảy vừa, nhiều lá mục. Độ che phủ trung

bình 40 - 60%, hai bên bờ là cây tre bụi cây gỗ nhỏ. Nền đáy chủ yếu là đá

nhỏ, sỏi, mùn bã hữu cơ.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên

Theo phương pháp của Merritt và Cummins [22], Morse và cộng sự [23],

Nguyen [25], quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm

tay (Hand net). Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber Sample

với 5 lần lại tại mỗi điểm nghiên cứu.

Tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng

chân đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước). Ở nơi có

nhiều bụi cây dùng vợt tay để thu mẫu. Ở những nơi đáy có đá lớn khơng thu

mẫu đạp nước được thì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để

tránh làm nát mẫu. Ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các cây

bụi đó và các rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp

việc thu mẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay.

Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber Sample lấy 5 mẫu. Diện

tích thu mẫu tại mỗi điểm là 0,5m2. Như vậy, tổng diện tích thu mẫu cho mẫu

định lượng tại mỗi điểm là 1,5m2. Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch

bùn đất. Do các cá thể côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu

phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại thực địa. Mẫu thu ngoài thực địa

13

Footer Page 21 of 63.



Tài liu lun vn s phm , giáo dc22 of 63.



được bảo quản trong cồn 800, ghi etiket đầy đủ và đem về lưu trữ, bảo quản,

phân tích và định loại tại Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kĩ thuật

nơng nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.

* Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm:

Phương pháp nhặt mẫu: Mẫu được rửa sạch cho ra khay. Dùng panh

nhặt các đại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước ở trong đó, mẫu

sau khi nhặt cho vào lọ và bảo quản trong cồn 800.

Phương pháp phân tích:

+ Dụng cụ phân tích gồm: Kính soi nổi, đĩa petri, kim nhọn, panh.

+ Phân loại mẫu vật: Mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại

được cơng bố trong và ngoài nước của Cao Thi Kim Thu (2002) [10], Hoàng

Đức Huy (2005) [15], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) [5], Meritt và

Cummins (1996) [22], Morse et al. (1994) [23], Dudgeon (1999) [12],

Jacobus và McCafferty (2008) [18], Nisarat (2007) [33], Nguyen Van Vinh

(2003) [25].

2.4. Một số chỉ số dung trong nghiên cứu

Chỉ số sinh học dùng trong nghiên cứu gồm: chỉ số đa dạng sinh học

Shannon - Weiner (chỉ số H’), chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca – Sorensen) và

chỉ số loài ưu thế (DI).

Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) Nhằm xác định lượng thông tin

hay tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống. Cơng thức để

tính chỉ số này là:



ni ni

ln

N

i =1 N

s



H =-

'



Với H`: chỉ số đa dạng loài

s: số lượng loài

N: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu

ni: số lượng cá thể của loài i



14

Footer Page 22 of 63.



Tài liu lun vn s phm , giáo dc23 of 63.



Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon Weiner là số lượng lồi và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các

lồi. Do vậy, số lượng lồi càng cao thì chỉ số H` càng lớn và sự phân bố các

cá thể giữa các lồi càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng

lồi được xác định thơng qua hàm số Shannon - Weiner.

Từ kết quả tính tốn, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau

đây: (Nguồn: Nguyễn Huy Chiến, 2007)

- Nếu chỉ số đa dạng > 3: ĐDSH tốt và rất tốt

- Nếu chỉ số đa dạng từ 1 - 3: ĐDSH khá

- Nếu chỉ số đa dạng < 1: ĐDSH kém và rất kém

Chỉ số tương đồng (chỉ số Sorensen) Được chúng tôi sử dụng để đánh

giá mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu. Chỉ số

này được tính theo cơng thức:

K



2c

ab



Trong đó:

a: số lồi trong điểm thu mẫu thứ nhất

b: số loài trong điểm thu mẫu thứ hai

c: số loài chung cho cả hai điểm thu mẫu

K nhận giá trị từ 0 đến 1. Giá trị K càng gần 1 thì mức độ giống nhau về

thành phần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn. Các giá trị của K tương

ứng với mức tương đồng như sau:

0,00 - 0,20: gần nhau rất ít

0,21 - 0,40: gần nhau ít

0,41 - 0,60: gần nhau

0,61 - 0,80: gần nhau nhiều

0,81 - 1,00: rất gần nhau



15

Footer Page 23 of 63.



Tài liu lun vn s phm , giáo dc24 of 63.



Chỉ số lồi ưu thế



DI 



n1  n2

N



Trong đó:

n1: số lượng cá thể của loài ưu thế thứ nhất

n2: số lượng cá thể của loài ưu thế thứ hai

N: tổng số cá thể trong điểm thu mẫu

2.5. Xử lý số liệu

- Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị biểu diễn số

lượng và biến động số lượng. Các số liệu được xử lý bằng phần mềm

Microsoft office exel 2007 và phần mềm Primer 6.

2.6. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Sín Chải

Xã Sín Chải thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai nơi đây nằm dọc theo

thung lũng suối Hang Đzê, được bao bọc bởi dãy núi trùng điệp, xếp lên nhau

trải dài theo hướng Tây – Nam, đặc biệt là dãy Hoàng Liên với đỉnh Phan Xi

Păng – biểu tượng của nóc nhà Đơng Dương với những thửa ruộng bậc thang

đã tạo cho Sín Chải vẻ đẹp hài hòa, cảnh quan thiên nhiên hung vĩ. Xã Sín

Chải là bản của người H’ Mơng, có 221 hộ dân với 646 nhân khẩu, 100% là

người H’mông đen, sống ở đây được 6-7 đời [39] , người dân chủ yếu dựa

vào canh tác nông nghiệp và phát triển một số nghề thủ công như: dệt vải thổ

cẩm, chạm khắc bạc, rèn đúc…. Xã Sín Chải nằm ở vị trí gần khu du lịch sinh

thái Hàm Rồng, điểm du lịch Thác Bạc, tuyến du lịch Tả Van – Lào Chải, đặc

biệt Sín Chải nằm ở đầu tuyến đường mòn dẫn lên đỉnh Phan Xi Păng. Đây

vốn là một xã nghèo và đang trên đà phát triển.



16

Footer Page 24 of 63.



Tài liu lun vn s phm , giáo dc25 of 63.



CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thành phần lồi cơn trùng nước tại khu vực nghiên cứu

Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại các điểm nghiên cứu thuộc hệ

thống suối thuộc xã Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào cai đã xác định được 44

loài thuộc 37 giống, 19 họ của 8 bộ cơn trùng nước. Số lượng lồi, giống và

họ cụ thể của từng bộ được trình bày trong bảng 3.1.

Bảng 3.1. Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của cơn trùng nước

tại khu vực nghiên cứu

STT



Họ

Bộ



Lồi



Giống



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Số lượng



Tỷ lệ

(%)



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



1



Phù du



4



21,1



14



37,9



20



45,5



2



Cánh cứng



3



15,5



3



8,1



3



6,8



3



Cánh nửa



1



5,3



1



2,7



1



2,3



4



Hai cánh



4



21,1



9



24,3



10



22,7



5



Chuồn

chuồn



1



5,3



1



2,7



1



2,3



6



Cánh lông



4



21,1



7



18,9



7



15,8



7



Cánh vẩy



1



5,3



1



2,7



1



2,3



8



Cánh rộng



1



5,3



1



2,7



1



2,3



19



100



37



100



44



100



Tổng



17

Footer Page 25 of 63.



Tài liu lun vn s phm , giáo dc26 of 63.



2,3%

2,3%

15,8%

2,3%



45,5%



22,7%



2,3% 6,8%



Bộ Phù du



Bộ Cánh cứng



Bộ Cánh nửa



Bộ Hai cánh



Bộ Chuồn chuồn



Bộ Cánh lông



Bộ Cánh vẩy



Bộ Cánh rộng



Hình 3.1. Tỷ lệ (%) số lồi theo từng bộ côn trùng nước

tại khu vực nghiên cứu

Theo kết quả nghiên cứu bảng 3.1 cho thấy Phù du là bộ có số loài lớn

nhất với 20 loài chiếm 45,5% tổng số lồi thu được, có số lồi đứng thứ 2 là

bộ Hai cánh với 10 loài chiếm 22,7%, tiếp theo bộ Cánh lơng thu được 7 lồi

chiếm 15,8%, bộ Cánh cứng thu được 3 loài chiếm 6,8%, bộ Cánh nửa và

Cánh vảy, Cánh rộng và bộ Chuồn chuồn chỉ thu được 1 loài chiếm 2,3%.

Với kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu

trước đây của Nguyễn Văn Vịnh et al. (2001) [24], Jung (2006) [19], Jung et

al. (2008) [20] ở các thủy vực dạng suối số lượng lồi của bộ Phù du ln

chiếm ưu thế.

So với những kết quả nghiên cứu trên, nghiên cứu của này có sự khác

biệt ở số lồi thuộc bộ Phù du (20 loài), bộ Hai cánh (10 loài), bộ Cánh lơng

(7 lồi) và bộ Cánh cứng (3 lồi), các bộ này có số lượng lồi khá lớn so với

các bộ khác, trong khi đó các bộ Chuồn chuồn và bộ Cánh rộng, Cánh vẩy,

Cánh nửa lại có số lượng lồi còn hạn chế (1 lồi). Sự khác biệt về số lượng

lồi này có thể là do thời gian thu mẫu của chúng tôi tại khu vực nghiên cứu

chưa bắt gặp nhiều lồi thuộc bộ này.

Để làm rõ hơn tính đa dạng của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu,

18

Footer Page 26 of 63.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×