Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 HỆ THỐNG TÍN HIỆU

2 HỆ THỐNG TÍN HIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường hợp mắc nhiều còi thì dòng điện qua cơng tắc còi rất lớn ( 10 - 25A ) nên

dễ làm hỏng cơng tắc còi. Do đó relay còi dùng để giảm dòng điện qua cơng tắc còi

( khoảng 0,1A khi sử dụng relay còi ).



Hình 1.13: Relay còi

Khi nhấn nút còi: + Acqui nút còi cuộn dây mass, từ hóa lõi thép hút tiếp điểm

đóng lại: + Acqui cầu chì khung từ lõi thép tiếp điểm còi mass, còi kêu.

b. Chng nhạc



Hình 1.14: Sơ đồ hệ thống tín hiệu và chng nhạc



19



Hình 1.15: Sơ đồ mạch chng nhạc

Khi gài cơng tắc lùi đóng lại, có dòng nạp cho tụ theo 2 nhánh:

Từ + Acqui R1 C1 cực B E của transitor T2 R4 diode D mass, dòn điện

phân cực thuận cho T2 dẫn T1 khóa. Khi C1 được nạp đầy làm T2 khóa T1 dẫn cho dòng:

+ Acqui chng T1 mass, làm chng kêu. Khi T1 dẫn thì C1 phóng nhanh qua T1 

R4  âm tụ, làm T1 mở nhanh T2 khóa nhanh, khi T1 phóng xong thì nó lại được nạp,

tiếp tục như vậy.

1.2.2 Hệ thống báo rẽ và báo nguy

a. Công tắc báo rẽ

Công tắc báo rẽ được bố trí trong cơng tắc tổ hợp nằm dưới tay lái, gạt công tắc

này sang phải hoặc sang trái để bật đèn báo rẽ phải hay trái.



Hình 1.16: Công tắc đèn báo rẽ

20



b. Công tắc đèn báo nguy

Khi bật cơng tắc đèn báo nguy nó sẽ làm cho tất cả các đèn cùng nháy.



Hình 1.17: Cơng tắc đèn báo nguy trên xe ô tô

c. Bộ tạo nháy

Bộ tạo nháy làm cho tất cả các đèn báo rẽ nháy theo một tần số định trước. Bộ

tạo nháy dùng cho cả đèn báo rẽ và báo nguy. Bộ tạo nháy có nhiều dạng: Cơ điện, cơ

bán dẫn hoặc bán dẫn tuần hoàn.

 Bộ tạo nháy kiểu cơ điện:

Bộ tạo nháy này bao gồm một tụ điện, các cuộn dây L 1 và L2 và các tiếp điểm.

Dòng điện đến đèn báo rẽ qua cuộn L 1 và dòng điện qua tụ bằng cuộn L 2. Cuộn L1 và L2

được quấn sao cho khi dòng điện được nạp, hướng vào từ trường trong 2 cuộn khử lẫn

nhau và khi tụ điện đang phóng hướng của từ trường trong 2 cuộn kết hợp lại. Các tiếp

điểm được đóng bởi lực lò xo. Một điện trở được mắc song song với các tiếp điểm để

tránh phóng tia lửa giữa các tiếp điểm khi bộ tạo nháy hoạt động.



21



*Nguyên lý hoạt động:

Khi bật công tắc máy dòng điện từ + Acqui đến tiếp điểm và tụ điện qua cuộn L 2

nạp cho tụ, tụ được nạp đầy.



Hình 1.18: Hoạt động của bộ tạo nháy cơ-điện khi bật công tắc máy

Khi công tắc báo rẽ bật sang trái hay sang phải, dòng điện từ + Acqui đến tiếp

điểm, qua cuộn L1 đến công tắc báo rẽ sau đó đến các đèn báo rẽ. Khi dòng điện chạy

qua cuộn L1, ngay thời điểm đó trên cuộn L1 sinh ra một từ trường làm cho tiếp điểm

mở.



Hình 1.19: Hoạt động của bộ nháy cơ-điện khi công tắc báo rẽ bật

Khi tiếp điểm mở, tụ điện bắt đầu phóng điện vào cuộn L 2 và L1, đến khi tụ

phóng hết điện, từ trường sinh ra trên hai cuộn giữ tiếp điểm mở. Dòng điện phóng ra



22



từ tụ và từ + Acqui ( chạy qua điện trở ) đến các bóng đèn báo rẽ, nhưng do dòng điện

q nhỏ nên đèn khơng sáng.



Hình 1.20: Tiếp điểm mở tụ điện phóng

Khi tụ phóng hết điện tiếp điểm lại đóng cho phép dòng điện tiếp tục chạy từ

+Acqui đến cuộn L1 rồi đến các đèn báo rẽ làm chúng sáng. Cùng lúc đó dòng điện

chạy qua cuộn L2 để nạp cho tụ. Do hướng dòng điện qua L 2 và L1 ngược nhau, từ

trường sinh ra trên hai cuộn khử lẫn nhau và giữ cho tiếp tục đóng đến khi nạp đầy. Vì

vậy, đèn vẫn sáng. Khi tụ được nạp đầy, dòng điện ngưng chạy trong cuộn L 2 lại làm

tiếp điểm tiếp tục mở, đèn tắt.

Chu trình trên lặp lại liên tục làm tất cả các đèn báo rẽ và báo nguy nháy ở một

tần số nhất định.



Hình 1.21: Tiếp điểm đóng ( đen báo rẽ sáng )

23



 Bộ tạo nháy kiểu cơ-bán dẫn :

Một relay nhỏ để làm các đèn báo rẽ nháy và một mạch transitor để đóng ngắt

relay theo một tân số định trước được kết hợp thành bộ tạo nháy kiểu bán dẫn.



Hình 1.22: Bộ tạo nháy kiểu cơ-bán dẫn



24



1.2.3 Một số sơ đồ hệ thống tín hiệu trên Toyota



Hình 1.23: Sơ đồ mạch điện hệ thống tín hiệu trên xe TOYOTA COROLLA



25



Hình 1.24: Sơ đồ mạch điện hệ thống tín hiệu trên xe TOYOTA HIACE



26



Hình 1.25: Công tắc báo nguy trên xe TOYOTA

1.2.4 Hệ thống đèn phanh, đèn kích thước

a. Hệ thống đèn phanh

Đèn này được bố trí sau xe và có cường độ sáng cao để ban ngày có thể nhìn rõ.

Mỗi ơ tơ phải có 2 đèn phanh và tự động bật bằng công tắc đặc biệt khi người lái xe đạp

bàn đạp phanh. Màu qui đinh của đèn phanh là màu đỏ. Công tắc đèn phanh tùy thuộc

vào phương pháp dẫn động phanh ( cơ khí, khí nén hay dầu ) mà có kết cấu kiểu cơ khí

hay màn hơi.



Hình 1.26: Sơ đồ đèn phanh

b. Hệ thống đèn kích thước

Hệ thống đèn kích thước được lắp sau xe, trước xe, bên hơng xe trên nắp capin để

chỉ báo chiểu rồng, chiều dài và chiều cao xe. Các đèn kích thước thường dùng kính

khuếch tán màu đỏ có cơng suất mỗi bóng là 10W.

1.2.5 Hệ thống báo cáo sự cố đèn tín hiệu

Để báo đứt bóng đèn hoặc đèn bị mờ do sụt áp trên đường dây ở các điểm nối

người ta dùng mạch báo hư hỏng đèn ( lamp failure circuit ). Trên xe ơ tơ, mạch này có

2 loại phổ biến: loại dùng mạch điện tử và mạch dùng công tắc lưỡi gà ( reed switch ).



27



Hình 1.27: Sơ đồ nguyên lý của mạch báo hư đèn ( Electronic Lamp Failure Unit )

Đa số các mạch báo hư đèn kiểu điện tử đều dựa trên nguyên lý cầu Wheatstone

kết hợp với mạch khuếch đại thuật toán (OPAMP) mắc theo kiểu so sánh. Một trong các

điện trở của cầu là đoạn dây dẫn thường làm bằng sắt và mắc nối tiếp với bóng đèn.

Đoạn dây này có điện trở cực nhỏ để khơng ảnh hưởng đến độ sáng của bóng đèn. Nó

cũng đóng vai trò cảm biến dòng ( current sensor ). Để báo hư hỏng cho nhiều mạch đèn

( thường là mạch đèn phanh và mạch đèn kích thước ) ta phải sử dụng nhiều mạch so

với các ngõ ra nối vào cổng logic OR để điều khiển đèn báo đứt bóng trên tableau thơng

qua transitor. Ngõ vào trừ của OPAMP được đặt một điện áp cố định ( điện áp so ) nhờ

cầu phân áp của diode Zener. Ngõ vào cộng của OPAMP được cấp điện áp của cầu phân

áp thứ hai gồm đoạn dây so dòng và bóng đèn kích thước hoặc đèn phanh. Khi các bóng

đèn bị đứt hoặc mờ do điện trở tiếp xúc thì điện áp ở các ngõ cộng sẽ tăng. Điện áp ở

ngõ cộng vào lúc này lớn hơn ngõ vào trừ, làm ngõ ra của một trong 2 OPAMP hoặc của

cả 2 OPAMP lên mức cao. Tin hiệu này của 2 OPAMP được đưa vào ngõ vào của cổng

logic OR.

Ta có bảng chân trị



của cổng logic OR



28



Nhìn vào bảng chân trị ta thấy: lúc hư 1 hay nhiều bóng đèn, ngõ ra của cổng

logic OR sẽ ở mức 1, khiến transitor dẫn và đèn báo hỏng trên tableau sáng, tài xế biết

để khắc phục



Hình 1.28: Sơ đồ đấu dây mạch báo hư bóng xe Toyota

Các mạch báo hư đèn dùng công tắc lưỡi gà thường được dùng trên các xe đời

cũ. Các vòng dây quấn trên ống thủy tinh của công tắc lưỡi gà sẽ đóng vai trò cảm

biến dòng qua bóng đèn vì chúng được mắc nối tiếp với bóng đèn. Khi bật cơng tắc

máy, dòng điện qua hai cuộn dây đến đèn. Do hai cuộn dây quấn ngược chiều nhau

nên từ trường tạo ra từ hai cuộn dây khử lẫn nhau và khơng có dòng điện đến đèn báo

đứt. Trường hợp có một trong hai bóng đèn bị đứt, sẽ khơng có dòng điện đến một

trong hai cuộn dây, từ trường tạo ra sẽ hút tiếp điểm cung cấp dòng điện đến làm sáng

đèn trên bảng tableau.



29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 HỆ THỐNG TÍN HIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×