Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

lông (Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng

(Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy

(Lepidoptera).

* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)

Khi dựa vào những bằng chứng hóa thạch, bộ Phù du được tìm thấy ở

giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷ Pecmia, cách đây khoảng 290 triệu

năm (Edmund, 1972) [14]. Phù du là một bộ côn trùng, chúng được xem như

một trong những tổ tiên của cơn trùng và đặc biệt chúng còn có cánh cổ sinh

trương đối nguyên thủy. Bộ Phù du được mơ tả từ rất sớm. Cơng trình nghiên

cứu đầu tiên về phân loại học Phù du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng

Lineaus (1758). Ơng đã mơ tả 6 lồi Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng

vào một nhóm là Ephemera [25].

Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển

hình là các cơng trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933),

Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự

(1935). Edmunds (1963) đã xây dựng hệ thống phân loại tới họ thuộc bộ Phù

du trên tồn thế giới. Ơng đã đưa ra một bức tranh tổng thể về khóa phân loại

bậc cao cũng như nguồn gốc phát sinh của phù du [13].

Đến năm 2008, toàn thế giới đã xác định được khoảng 3000 loài Phù du

thuộc 375 giống và 37 họ trong đó ở Châu Âu có khoảng 350 lồi và Bắc Mỹ

là 670 lồi (Hubbard, 2008) [16]. Các nghiên cứu về Phù du vẫn đang phát

triển, các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm tòi và phân loại học. Điển hình ở các

khu vực nhiệt đới còn rất nhiều lồi chưa được mơ tả.

* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)

Bộ Chuồn chuồn là côn trùng thuộc nhóm thuộc nhóm cơn trùng ăn thịt.

Vòng đời của chúng trải qua 3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành.

Thiếu trùng thường sống trong nước, chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí

hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn. Bộ Chuồn chuồn được chia thành 3

phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim)

và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô). Phân bộ Anisozygoptera chỉ có 1

giống là Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố ở độ cao khoảng

4



2.000m ở những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao Himalaya (Tani &

Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983). Hai phân bộ còn lại phân bố rộng

cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng lồi vơ cùng phong phú

[23].

* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)

Cho đến năm 2007 trên thế giới đã xác định được khoảng 3500 lồi cánh

úp trong đó: khu vực Bắc Mỹ có khoảng 650 loài (Stark & Baumann, 2005),

khu vực Trung Mỹ 95 loài, khu vực Nam Mỹ 378 loài (Heckman, 2003), khu

vực Châu Âu 426 loài (Fochetti & Tierno de Figueroa, 2004), khu vực Châu

Phi 126 loài; Châu Á là khu vực có số lượng lồi phong phú nhất với số lồi

đã xác định được lên tới 1527 lồi trong đó: khu vực Đơng Á và Nam Á có

khoảng 784 lồi, Trung quốc đứng đầu với 350 loài (Yuzhou & Junhua,

2001), tiếp đó là Nhật Bản với 306 lồi (Sivec & Yang 2001); Tây Á có 114

lồi và Bắc Á với 279 lồi. Khu vực Australia có 191 lồi (Michaelis & Yule,

1988) và New Zealand với 104 loài [35].

Morse et al. (1994); Merritt & Cummins (1996) khi nghiên cứu khu hệ

Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả đã xây dựng khóa định loại tới

giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại các loài thuộc bộ

Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này [22, 23].

* Nghiên cứu về bộ Cánh lơng (Trichoptera)

Cánh lơng là một trong những bộ có số lượng loài phong phú. Những

nghiên cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện

bởi Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hồn thiện bởi

Morse (1997) [15].

Bộ Cánh lơng được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm. Các hướng

nghiên cứu chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành thì Ulmer (1955, 1957) đã

mở ra hướng nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng [15].

Vào những năm 70 của thế kỉ trước, các cơng trình nghiên cứu của

Haris, Mackay và Wiggins đã bổ sung nghiên cứu về sinh thái và đặc điểm

sinh học của bộ cánh lông. Một số cơng trình khá đồ sộ liên quan đến giai

đoạn ấu trùng côn trùng của Wiggins (1969, 1978, 1985, 1986) trong đó có ấu

5



trùng cánh lơng (1977, 1982, 1984). Năm 2009, Morse đã cơng bố một danh

sách đầy đủ các lồi cũng như phân bố địa lý sinh vật của bộ Cánh lơng trên

tồn thế giới và tiếp tục được cập nhật cho tới hiện nay [15].

* Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)

Bộ Cánh rộng được xem là nhóm cơn trùng ngun thủy trong nhóm cơn

trùng biến thái hồn tồn. Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 lồi được

biết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae. Giai đoạn

trưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm. Tuy nhiên, giai

đoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [22].

Ở các thủy vực nước ngọt như: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các

mảnh vụn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ các loài thuộc họ Sialidae có số

lương rất phong phú. Chúng trải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm

trong vòng đời của mình. Ấu trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa

nhộng. Tuy nhiên các lồi thuộc họ này lại phân bố rất hẹp. Ở châu Á, họ này

mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở

Trung Quốc (Bank, 1940) [22].

* Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)

Bộ lớn nhất trong giới Động vật là bộ Cánh cứng. Hiện nay, số lồi

thuộc bộ cơn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 lồi và khoảng

18.000 thuộc nhóm cơn trùng nước [17]. Theo các kết quả nghiên cứu nhóm

sống dưới nước được xem là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới. Hiện

nay, các cơng trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học,

sinh thái học, tiến hóa như: các nghiên cứu của Feng (1932, 1933),

Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach (1984).

Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji (1995, 1998, 2003) đã

cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ Cánh cứng ở

châu Á [23].

Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 lồi, Sato (1988) đã

định loại đƣợc 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng

510 lồi và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ

thuộc bộ Cánh cứng [22].

6



* Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)

Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công

bố, đặc biệt là các cơng trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer

(1934), Zwich & Hortle (1989). Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy

(1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài

của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai. Khóa định loại tới họ và giống hiện

nay chủ yếu thực hiện theo khóa định loại được xây dựng bởi Harris (1990)

[22].

* Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)

Trên thế giới đã có nhiều cơng trình nghiên cứu bộ Hemiptera ở nước về

hình thái, sinh học, sinh thái, phân loại và chủng loại phát sinh như: Cheng và

Fernando (1969), Menke (1979), Andersen (1985), Schuh và Slater (1995),

Hilsenworf (1991) [38].

Các cơng trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá

sớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury

(1972, 1973) [21].

* Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)

Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae và

Crambidae sống ở nước. Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là

về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck

& Solis (1994) và Munroe (1995). Trong các nghiên cứu này, các tác giả cũng

đã thành lập khóa định loại cụ thể tới lồi [22].

1.2. Tình hình nghiên cứu cơn trùng nước ở Việt Nam

*Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)

Ở Việt Nam, trong những năm đầu của thế kỷ 20, các mô tả về

Ephemeroptera cũng được đề cập và quan tâm nghiên cứu. Mở đầu cho những

nghiên cứu về Ephemeroptera ở Việt Nam, nhà côn trùng học Lestage (1921,

1924), đã mơ tả một lồi mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật

được lưu giữ ở bảo tàng Paris. Ông đặt tên lồi là Ephemeraduporti, do các

lồi thuộc giống Ephemera có kích thước lớn, phân bố khá rộng và dễ thu



7



thập nên nó được tiếp tục nghiên cứu ở giai đoạn này. Sau đó, Navas (1922,

1925) đã cơng bố hai lồi Ephemera longiventris và Ephemera innotata, cũng

dựa trên các mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt Nam [25]. Cho đến nay, hai

lồi này cũng chưa tìm thấy ở các khu vực phân bố khác, nên có thể xem

chúng như là lồi đặc hữu cho khu hệ Ephemeroptera ở Việt Nam.

Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loại các

nhóm động vật khơng xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã đưa

ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du [5].

Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2004, 2008) ở một số Vườn Quốc

gia của Việt Nam. Những nghiên cứu này, đã công bố hàng loạt các kết quả

về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và đã bổ sung danh sách thành phần

lồi, mơ tả các lồi mới, cũng như xây dựng các khóa định loại tới loài [26]

[27] [28] [29] [30].

Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và

14 họ Phù du ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa

định loại và mơ tả đặc điểm hình dạng ngồi của các lồi thuộc bộ Phù du ở

Việt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp

theo về bộ Phù du ở nước ta [25].

Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia

Tam Đảo đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ. Trong đó, có 10

lồi lần đầu tiên ghi nhận cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc [6].

Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia

Ba Vì, Hà Tây đã thu được 27 lồi thuộc 22 giống và 9 họ. Trong đó có một

lồi mới cho khoa học là Polyplocia orientalis [7].

Nguyen et al. (2012) nghiên cứu đa dạng của nhóm cơn trùng nước tại

VQG Ba Vì, Hà Nội đã ghi nhận đƣợc 31 loài thuộc bộ Phù du (chiếm 18,7%

tổng số lồi thu đƣợc). Bộ Phù du cũng là bộ có số lượng lồi nhiều nhất

trong các bộ cơn trùng nước thu được ở khu vực nghiên cứu [31].

Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2014) đã xác định được 49 loài thuộc 34

giống 12 họ của bộ Phù du tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Kết quả phân



8



tích cho thấy họ Baetidae có số lượng giống và lồi cao nhất với 8 giống và

11 lồi; họ Heptageniidae có 8 giống và 10 lồi; họ Ephemerellidae có 5

giống, 7 lồi; họ Leptophlebiidae với 4 giống, 9 lồi; họ Potamanthidae có 2

giống, 2 lồi; họ Ephemeridae có 1 giống, 3 lồi; họ Caenidae với 1 giống, 2

loài. Các họ Teloganodidae, Polymitarcyidae, Neoephemeridae, Isonychiidae

và Austremerellidae mỗi họ chỉ có 1 giống, 1 lồi. Bên cạnh nghiên cứu đa

dạng về loài, các tác giả còn nghiên cứu về phân bố của Phù du theo tính chất

của dòng chảy ở khu vực nghiên cứu [8].

* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)

Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn

và chưa thành hệ thống. Ở Việt Nam, Bộ Chuồn chuồn được nghiên cứu lần

đầu tiên vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc

bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố

năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật Đông Dương. Trong báo cáo này, ông

công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae. Trong

139 lồi, Martin đã mơ tả 9 lồi mới và một giống mới là Merogomphus [2].

Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại các

nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây

dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [5].

Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng

nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ

Chuồn chuồn ở khu vực này. Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại

thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít. Do đó, những mẫu vật thu được

mới chỉ phân loại đến bậc giống [24].

* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên

cứu trong thơi gian gần đây. Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968,

1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999), nhưng tất cả các mẫu vật đều ở

giai đoạn trưởng thành [10]. Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác

định lại và mơ tả một số lồi mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên

cứu trước đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu

9



trùng được thu thập ở Việt Nam. Thêm vào đó là việc xác định khóa định loại

tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng ở Việt Nam

cũng như sinh thái, nơi ở của chúng. Cao Thị Kim Thu (2002), đã xây dựng

khóa định loại tới lồi Cánh úp ở Việt Nam. Cơng trình là cơ sở khoa học cho

các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [10].

Nguyễn Văn Vịnh et al. (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước

ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp. Kết

quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ

[24].

Nguyen et al. (2012) nghiên cứu đa dạng của nhóm cơn trùng nước tại

VQG Ba Vì, Hà Nội đã ghi nhận được 13 lồi thuộc bộ Cánh úp (chiếm 7,8%

tổng số loài thu được) [31].

Nguyen et al. (2014), đã xác định được 7 loài thuộc 2 họ Perlidae và

Nemouridae của bộ Cánh úp tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Lng, tỉnh

Thanh Hóa. Các loài Cánh úp chủ yếu thu được ở các điểm thuộc cuối nguồn

của suối và nước chảy tương đối mạnh [32].

*Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)

Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm. Những tài liệu

về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước

châu Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913). Sau những

nghiên cứu đầu tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và

Paraphlegopteryx tonkinensis, ơng đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về

Cánh lông ở Việt Nam. Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930,

1932, 1933) đã mơ tả một số lồi thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae,

Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae và

Rhyacophiloidae. Banks (1931) và Mosely (1934) [14] nghiên cứu về

Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae. Oláh (1987 - 1989)

mơ tả các lồi thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae

[11]. Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng

khóa định loại tới họ của bộ Cánh lơng thường gặp ở nước ta. Hồng Đức

Huy (2005) mơ tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngồi của các lồi Cánh lơng ở



10



Việt Nam dựa vào giai đoạn ấu trùng [5].

*Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ

Cánh vảy và bộ Cánh rộng

Ở nước ta, các cơng trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai

cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera)

còn tản mạn. Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà

thường đi cùng với các cơng trình nghiên cứu về khu hệ cơn trùng nước nói

chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo;

Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở

Vườn Quốc gia Bạch Mã [16], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi

định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt

Nam [3][4].

Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt

đầu vào những năm đầu của thế kỷ XX. Lồi đầu tiên thuộc họ Gerridae

(Hemiptera) được mơ tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903

thuộc Bắc Việt Nam.

Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngồi của

các lồi thuộc họ Gerridae ở Việt Nam. Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên

cứu về bộ Cánh nửa ở nước ta [36].



11



CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Côn trùng nước thu được tại một số thủy vực dạng suối thuộc xã Sín

Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào cai.

2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.2.1. Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08/2018 đến tháng 5/2019. Mẫu vật

sử dụng trong nghiên cứu được thu ngoài thực địa từ ngày 11/08/2018 đến

ngày 15/08/2018. Các điểm nghiên cứu thuộc suối hệ thống suối tại xã Sín

Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Tồn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại Phòng

thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh- kỹ thuật nơng nghiệp, Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội 2.

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại ba điểm khác nhau thuộc các suối tại xã

Sín Chải, kí hiệu ba điểm nghiên cứu là SC1, SC2, SC3. Các điểm nghiên cứu

được sắp xếp theo độ cao tăng dần so với mực nước biển.

Trước khi tiến hành thu mẫu, ghi lại một số đặc điểm sinh cảnh, hình ảnh

chính của các điểm nghiên cứu:

Điểm 1 (ký hiệu SC1) độ cao 270m

Tọa độ N:22o26’08.4’’ E:103o56’09,2’’

Hai bên suối là ruộng canh tác và có nhiều cây bụi. Phía trên suối là đập

thủy điện. Nước suối đục, tốc độ dòng chảy nhanh và xiết. Độ sâu của suối

lớn trung bình 80m. Nền đáy có đá và cát sỏi và chủ yếu là đá tảng lớn, ít mùn

bã hữu cơ. Độ che phủ 0 – 5%. Trời nắng, nhiều mây và có gió nhẹ, nhiệt độ

khơng khí 320C.



12



Điểm 2 (ký hiệu SC2) độ cao744m

Tọa độ N:22o24’49,6’’ E:103o53’55,3”

Trời âm u, khơng nắng, rất nhiều mây, có mưa nhỏ và kèm theo gió nhẹ.

Hai bên bờ là đồi núi đang được tiến hành thi công. Nước chảy khá mạnh,

nước suối đục, độ sâu trung bình 50cm. Suối có nhiều tảng đá với đường kính

khoảng 60 – 80cm. Nền đáy đá hỗn hợp chủ yếu là cát và sỏi nhỏ, đá nhỏ. Độ

che phủ 0 – 5%.

Điểm 3 (ký hiệu SC3) độ cao 937m

Tọa độ N:22o24’05,0” E:103o54’35,7

Độ rộng của suối nhỏ. Nước chảy vừa, nhiều lá mục. Độ che phủ trung

bình 40 - 60%, hai bên bờ là cây tre bụi cây gỗ nhỏ. Nền đáy chủ yếu là đá

nhỏ, sỏi, mùn bã hữu cơ.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên

Theo phương pháp của Merritt và Cummins [22], Morse và cộng sự [23],

Nguyen [25], q trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm

tay (Hand net). Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber Sample

với 5 lần lại tại mỗi điểm nghiên cứu.

Tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng

chân đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước). Ở nơi có

nhiều bụi cây dùng vợt tay để thu mẫu. Ở những nơi đáy có đá lớn khơng thu

mẫu đạp nước được thì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để

tránh làm nát mẫu. Ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các cây

bụi đó và các rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp

việc thu mẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay.

Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber Sample lấy 5 mẫu. Diện

tích thu mẫu tại mỗi điểm là 0,5m2. Như vậy, tổng diện tích thu mẫu cho mẫu

định lượng tại mỗi điểm là 1,5m2. Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch

bùn đất. Do các cá thể côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu

phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại thực địa. Mẫu thu ngoài thực địa

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×