Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

---------------------------------------------------------------------------------------------



B. PHẦN NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

Mặc dù ở cấp Tiểu học các em đã được làm quen với một số khái niệm,

biểu tượng, sự vật và hiện tượng địa lí đơn giản thường xảy ra trong tự nhiên

chung quanh, nhưng các em vẫn không khỏi ngỡ ngàng khi tiếp thu những kiến

thức địa lí ở cấp THCS, đặc biệt là những kiến thức địa lí đại cương. Nó q

trừu tượng và một phần nào đó vượt quá khả năng tư duy của các em. Vậy làm

thế nào để các em có thể nhanh chóng nắm được các khái niệm, hiểu được một

cách sâu sắc bản chất các sự vật và hiện tượng địa lí trong chương trình mà các

em phải hồn thành? Để trả lời cho câu hỏi này, mỗi thầy giáo, ngoài những định

hướng của sách giáo viên phải vận dụng kinh nghiệm và năng lực chuyên môn

của bản thân để tìm hướng đi riêng nhằm giúp học sinh hiểu được bài học và vận

dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống một cách hiệu quả nhất.

Trong kho tàng ca dao, tục ngữ của nước ta có câu “Trăm nghe không

bằng một thấy”, các nhà nghiên cứu phương pháp giảng dạy địa lí cũng đã đúc

kết rằng: Con đường tốt nhất và ngắn nhất để nhận thức các khái niệm và biểu

tượng địa lí là con đường đi “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”. Từ

đó chúng ta có thể hiểu rằng trong dạy học địa lí, đồ dùng trực quan đóng một

vai trò cực kì quan trọng. Đồ dùng trực quan làm cho bài học trở nên sinh động,

hấp dẫn, gây hứng thú cho học sinh, nó làm cho các khái niệm và biểu tượng địa

lí gần gũi dễ hiểu hơn.

Các phương tiện dạy học trực quan có ý nghĩa to lớn trong mơn Địa lí ở

phổ thơng. Một mặt các sự vật hiện tượng địa lí trái dài ra khắp trong khơng gian

rộng lớn của Trái Đất, học sinh không thể quan sát trực tiếp được, phải thông

qua các phương tiện dạy học. Mặt khác các sự vật, hiện tượng địa lí lại đa dạng

và phức tạp, nhờ vào phương tiện dạy học mới trở nên gần gũi, cụ thể hơn đối

với nhận thức của học sinh. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo

hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phương tiện dạy

học vừa là công cụ để giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức tích cực cho học

sinh, vừa là cơ sở để học sinh hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo, tìm ra

những kiến cần thiết.



II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

--------------------------------------------5/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

--------------------------------------------------------------------------------------------Thực tiễn hiện nay, ở các trường trung học cơ sở nhất là các trường ở

vùng nông thôn, phương tiện dạy học vừa thiếu, vừa không đảm bảo về mặt chất

lượng nên việc sử dụng chúng không đem lại hiệu quả cao. Mặc khác, do thiếu

phòng học bộ mơn nên đồ dùng dạy học của tất cả các môn đều được để chung

vào một phòng. Hơn nữa cán bộ chuyên trách chưa được đào tạo chính quy nên

việc sắp xếp vẫn còn thiếu khoa học gây khó khăn cho bảo quản, sử dụng, gây

tâm lý ngại mượn đồ dùng dạy học ( vì phải tự vào kho để lục tìm). Điều này

ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy - học địa lí nói riêng và các mơn học khác

nói chung.

Quan điểm chỉ đạo của chương trình địa lí THCS u cầu giáo viên vận

dụng mọi phương pháp, mọi hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm giúp học

sinh vừa có được những kiến thức cần thiết, vừa rèn luyện được các năng lực

hoạt động. Qua mơn địa lí cũng góp phần tạo nên những năng lực cần thiết để

học sinh sau này có thể trở thành người lao động năng động, sáng tạo có khả

năng thu thập xử lí thơng tin, hồ nhập với xã hội đương đại. Bộ mơn địa lí là

một bộ môn khoa học tự nhiên đồng thời cũng vừa là bộ môn khoa học xã hội,

kiến thức rộng lớn và luôn thay đổi theo sự phát triển của xã hội lồi người, do

đó u cầu về đồ dùng dạy học và cách sử dụng đồ dùng dạy học cũng luôn

phải đổi mới không ngừng để phù hợp với những thay đổi đó.

Một thực tế nữa là kỹ năng địa lí của học sinh bậc phổ thơng, nhất là học

sinh lớp 6 còn rất hạn chế do đó các em thường làm mất rất nhiều thời gian khi

làm việc với các phương tiện dạy học, điều này làm nảy sinh tâm lý “ngại” sử

dụng đồ dùng dạy học ở giáo viên (sợ “cháy giáo án”), nhất là khi giáo viên còn

bị gò bó bởi chương trình, bởi quy trình lên lớp ( thực ra đây là một lỗi nhận

thức của giáo viên, nếu học sinh được rèn luyện nhuần nhuyễn các kĩ năng địa lí,

nếu giáo viên nghiên cứu và chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học trước khi lên lớp thì

chính đồ dùng dạy học sẽ giúp giáo viên tiết kiệm được rất nhiều thời gian, đỡ

tốn sức, tránh được lối dạy thuyết giảng và mô tả).

Để khắc phục được những tồn tại trên người giáo viên cần thực hiện biện

pháp lâu dài là việc rèn luyện kĩ năng địa lí cho học sinh để các em dễ dàng khai

thác được kiến thức từ kênh hình trong sách giáo khoa và từ các nguồn trực quan

khác. Bên cạnh đó giáo viên còn có thể vẽ thêm nhiều tranh đơn giản, các sơ đồ

để giúp các em lĩnh hội kiến thức nhanh chóng và phát triển tư duy cho các em.

Vì vậy, nên trong quá trình dạy học địa lí giáo viên cần hạn chế tối đa các

phương pháp dạy học thuyết trình, diễn giảng mang tính nhồi nhét kiến thức.

Thay vào đó việc sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học địa lí là điều kiện,

phương tiện và nguồn tri thức khơng thể thiếu được, bởi nó tạo môi trường hoạt

--------------------------------------------6/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

--------------------------------------------------------------------------------------------động cho học sinh. Thơng qua đó học sinh tiếp cận được với hình ảnh mơ phỏng

thực tế, rèn luyện kỹ năng xử lí thơng tin.

“ Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong môn Địa lí

6” là một đề tài dạng mở, xuất phát từ thực tiễn dạy - học, có tính khả thi cao,

bất kì một giáo viên nào cũng có thể thực hiện được một cách hiệu quả nếu

người đó yêu nghề, nhiệt huyết với nghề và có tinh thần cầu tiến.



III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

--------------------------------------------7/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

--------------------------------------------------------------------------------------------Việc sử dụng đồ dùng trực quan cho từng nội dung bài học đã giúp cho

giáo viên giải quyết được những vướng mắc nêu trên và thực hiện được một tiết

dạy như mong muốn theo hướng tích cực. Đồng thời việc sử dụng đồ dùng trực

quan phù hợp và khai thác có hiệu quả có thể làm “mềm” hóa kiến thức giúp

học sinh phát hiện và tiếp thu dễ dàng, thông qua qua các đồ dùng trực quan, còn

có thể huy động được nhiều đối tượng học sinh tham gia vào bài học một cách

tích cực, đặc biệt là các em yếu và trung bình, tạo ra hứng thú trong tiết học,

kích thích tư duy của học sinh, đồng thời giáo viên còn có thể động viên, hướng

dẫn các em tham gia làm đồ dùng dạy học, đây cũng là cách để các em chiếm

lĩnh tri thức khoa học.

Hiện nay, sách giáo khoa cải cách của mơn Địa lí 6 có hệ thống kênh hình

có nhiều màu sắc đẹp mắt, vừa giúp học sinh dễ quan sát và đọc hiểu. Tuy nhiên

do có giới hạn nên sách giáo khoa khơng thể đưa hết tất cả mọi loại phương tiện

trực quan vào, do đó khi dạy giáo viên phải tự tìm tòi thêm để bài học được sinh

động, để học sinh hứng thú với mơn Địa lí 6.

Các phương tiện trực quan trong dạy học địa li gồm: Bản đồ giáo khoa địa

lí, các tranh ảnh hình vẽ có sẵn, biểu đồ, sơ đồ, mơ hình, khối đồ… và các

phương tiện hiện đại đều góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy

học và nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy - học địa lí trong nhà trường.

1. Bản đồ giáo khoa địa lí

- Bản đồ giáo khoa địa lí là những bản đồ được qui định sử dụng trong dạy

và học ở tất cả các cấp. Bản đồ giáo khoa phải đảm bảo tính khoa học, tính trực

quan và tính sư phạm. Tính trực quan đòi hỏi bản đồ giáo khoa phải khái qt

hóa cao, dùng nhiều hình ảnh và phương pháp biểu thị trực quan, đảm bảo cho

học sinh nhận biết và hiểu nội dung bản đồ tốt hơn.

- Theo hình thức sử dụng trong quá trình học tập có nhiều loại bản đồ khác

nhau.

+ Bản đồ treo tường chủ yếu sử dụng trên lớp với số đông học sinh, chúng

được quan sát ở cự li tương đối xa vì vậy kích thước lớn.

Ví dụ: Bài 11: Thực hành – Sự phân bố các lục địa và đại dương trên

bề mặt Trái Đất.

Giáo viên sử dụng Bản đồ tự nhiên thế giới để học sinh xác định được các

lục địa và đại dương trên thế giới.



--------------------------------------------8/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong môn Địa lí 6

--------------------------------------------------------------------------------------------+ Bản đồ trong SGK (lược đồ) biểu hiện một số nội dung tương ứng với

bài viết SGK, nội dung về sự phân bố không gian của đối tượng địa lí. Bản đồ

trong sách giáo khoa có chủ đề đa dạng, mỗi bản đồ chỉ biểu hện một hoặc một

số nội dung nổi bật của bài học.

Ví dụ: Bản đồ khu vực của TP. Đà Nẵng – Nhìn vào bản đồ học sinh sẽ

đọc được tỉ lệ bản đồ, sẽ phân biệt được bản đồ nào có tỉ lệ lớn và bản đồ nào có

tỉ lệ nhỏ và dựa vào bản đồ tính khoảng cách trên thực tế.



Hình 8. Bản đồ một khu vực của thành phố Đà Nẵng ( Tỉ lệ 1:7500)

+ Tập bản đồ địa lí 6 để học sinh làm bài tập để các em hiểu bài rõ hơn và

có thể quan sát cụ thể hơn các vị trí và đặc điểm của các đối tượng địa lí.

- Trong giảng dạy địa lí ở trường THCS các kĩ năng làm việc với bản đồ

của học sinh lớp 6 gồm:

+ Nhận biết bản đồ, tỉ lệ bản đồ, kí hiệu bản đồ.

+ Xác định phương hướng, kinh độ, vĩ độ và tọa độ địa lí.

+ Xác dịnh giờ, khu vực trên bản đồ.

+ Tính khoảng cách trên thực tế dựa vào tỉ lệ bản đồ, xác định độ cao dựa

vào đường đồng mức.

+ Chỉ ra đối tượng địa lí trên bản đồ.

+ Nhận xét đơn giản sự phân bố một đối tượng địa lí trên bản đồ.



--------------------------------------------9/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

--------------------------------------------------------------------------------------------- Khi sử dụng bản đồ giáo viên có thể đặt câu hỏi phát vấn dựa trên bản đồ

để học sinh quan sát bản đồ trả lời.

- Giao cho học sinh các bài tập có liên quan đến bản đồ.

Ví dụ: Dạy bài 4: Phương hướng trên bản đồ. Kinh độ, vĩ độ và tọa độ

địa lí.

Dựa vào hình 12: Bản đồ thủ đơ các nước ở khu vực Đông Nam Á cho biết

các hướng bay từ:

+ Hà Nội  Viêng Chăn.



+ Cu-a-la Lăm-pơ  Băng Cốc.



+ Hà Nội  Gia-cac-ta.



+ Cu-a-la Lăm-pơ  Ma-ni-la.



+ Hà Nội  Ma-ni-la.



+ Ma-ni-la  Băng Cốc.



Hình 12. Bản đồ thủ đô các nước ở khu vực Đông Nam Á

Ví dụ: Bài 5: Kí hiệu bản đồ, cách biểu hiện địa hình trên bản đồ.

- Quan sát hình 16 cho biết mỗi lát cắt cách nhau bao nhiêu mét?

-



Dựa vào khoảng cách các đường đồng mức ở 2 sườn phía Đơng và sườn

phía Tây cho biết sườn nào có độ dốc lớn hơn?



--------------------------------------------10/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

---------------------------------------------------------------------------------------------



Hình 16. Núi được cắt ngang

và hình biểu hiện của nó trên bản đồ

* Lưu ý:

Để nâng cao hiệu quả sử dụng bản đồ cần lưu ý một số điểm: Sử dụng

thường xuyên trong giờ học, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến

phức tạp, sử dụng hợp lí, trong cả dạy bài mới, kiểm tra bài cũ, trong ôn tập,

bài tập về nhà, bài thực hành…, phù hợp với bài giảng tránh khập khiễng.

2. Các tranh ảnh, hình vẽ có sẵn

Các tranh ảnh, hình vẽ có sẵn trong SGK, trong các tập tranh ảnh được in

ấn để phục vụ cho dạy học, hoặc do giáo viên và học sinh sưu tầm ở các nguồn

xuất bản khác nhau phục vụ cho dạy học. Chúng gần gũi với bài học, có thể

dùng để mở đầu bài học, nghiên cứu bài mới, củng cố, kiểm tra, cho học sinh

làm bài tập.

Ví dụ: Giáo viên có thể sử dụng H42, H 43, H47 để có thể giới thiệu bài

hoặc nghiên cứu bài mới.



Hình 42. Quặng sắt



Hình 43. Quặng đồng



--------------------------------------------11/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

---------------------------------------------------------------------------------------------



Hình 47. Lều khí tượng

- Quan sát hình 48. Sự thay đổi nhiệt độ khơng khí theo độ cao trong SGK

để tính sự chênh lệch về độ cao giữa hai địa điểm



H48. Sự thay đổi nhiệt độ khơng khí theo độ cao

Cách thức hoạt động phổ biến với tranh ảnh, hình vẽ có sẵn là đàm thoại.

Trong q trình đó, giáo viên hướng dẫn học sinh vào việc tìm tòi, liệt kê các

dấu hiệu độc đáo, các mối liên hệ của các sự vật với nhau.



--------------------------------------------12/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

---------------------------------------------------------------------------------------------



H29. Bộ phận rìa lục địa

Ví dụ: Quan sát H29 SGK, cho biết:

- Rìa lục địa gồm những bộ phận nào?

- Nêu độ sâu của các bộ phận từ đó giúp các em phân biệt được thế nào là thềm

lục địa và sườn lục địa.

3. Hình vẽ của giáo viên trên bảng

- Hình vẽ của giáo viên trên bảng cũng được xem là một đồ dùng trực quan

quan trọng, vì nó làm cho học sinh dễ hiểu bài, dễ ghi nhớ và hình thành được

các biểu tượng và khái niệm địa lí. Việc vẽ trên bảng sẽ kéo theo hoạt động của

học sinh: vẽ lại vào vở; thị giác, sự phân tích và liên kết được huy động làm

việc, học sinh suy nghĩ sâu hơn trên hình vẽ và học cách biểu thị suy nghĩ của

mình bằng hình vẽ.

Ví dụ:

*BÀI 10: CẤU TẠO BÊN TRONG CỦA TRÁI ĐẤT

Trong bài này ở mục 1: Cấu tạo bên trong của Trái Đất chỉ có 1 hình 26

như bên dưới. Hình này tương đối trừu tượng, học sinh khó hình dung nhất là

đối với học sinh trung bình và yếu, kém, vậy ta có thể vẽ thêm hình như sau:

(hình 26b)



Lớp vỏ, độ dày từ 5-70km

Lớp trung gian, độ dày gần

3000km



Đại dương



Lục địa



Lõi Trái Đất, độ dày trên

3000km

--------------------------------------------13/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

--------------------------------------------------------------------------------------------Hình 26b: Lát cắt Trái Đất



Giáo viên, sau khi treo hình vẽ lên bảng có thể hỏi: Quan sát hình vẽ, hãy

cho biết cấu tạo bên trong của Trái Đất gồm có mấy lớp, thứ tự sắp xếp và độ

dày mỗi lớp?

*BÀI 18:THỜI TIẾT, KHÍ HẬU VÀ NHIỆT ĐỘ KHƠNG KHÍ

Ở bài này, trong mục 3.b: Nhiệt độ

khơng khí thay đổi theo độ cao cũng chỉ có 1

hình vẽ đó là hình 48, hình này khơng được

rõ ràng, học sinh khó tư duy do đó ngồi

việc sử dụng hình vẽ này, giáo viên có thể vẽ

nhanh bằng phấn màu trên bảng hình vẽ như

bên cạnh để học sinh dễ hình dung hơn.Có

thể minh họa như sau:

Theo quy luật càng lên cao nhiệt độ



4 - 7 0C



3500m



7 - 100C -------- 3000m



13 - 150C -------------------- 2000m



9 - 200C ------------------------------- 1000m



250C----------------------------------------- 0m



càng giảm , cứ lên cao 100m nhiệt độ giảm

từ 0,50 - 0,60C.

Hỏi: Quan sát hình vẽ, cho biết:

+ Nhiệt độ thay đổi như thế nào theo độ cao?

+ Cho biết nhiệt độ tương ứng với từng độ cao?

Hình vẽ này có thể sử dụng để dạy bài khí hậu núi cao.



* BÀI 20: HƠI NƯỚC TRONG KHƠNG KHÍ. MƯA

--------------------------------------------14/35----------------------------------------------



Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong mơn Địa lí 6

--------------------------------------------------------------------------------------------Ở bài này trong mục 1, để chứng minh trong không khí có chứa hơi nước

giáo viên có thể vẽ hình sau (hoặc nếu có điều kiện thì làm thí nghiệm tại chỗ):



--------------------



Giọt nước bám vào thành ly



Cục nước đá



Hỏi: - Vì sao thành ly có bám những giọt nước?

- Nước bám trên thành ly chứng tỏ trong khơng khí có chứa gì?

Ở mục 2 sự phân bố lượng mưa trên Trái Đất sau khi cho học sinh nhận xét

về sự phân bố lượng mưa trên thế giới, giáo viên có thể vẽ hình sau để mở rộng

kiến thức cho học sinh:



Gió

//

Mưa / / / / // /

/ / // // / /

////

Sườn A



Gió



Sườn B



Hỏi: - Sườn nào mưa nhiều?

- Trên thực tế , sườn hướng về phía đại dương và sườn hướng về lục địa

thì sườn nào có nhiều mưa? Vì sao?



--------------------------------------------15/35----------------------------------------------



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×