Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Trong phân môn Chính tả, các bài nghe - viết, nhớ - viết đều được trích hoặc tóm tắt từ bài tập đọc; trong trường hợp chọn ngữ liệu mới thì ngữ liệu ấy cũng có nội dung phù hợp với chủ điểm của tuần. Các bài tập điền chữ, điền vần, tìm tiếng có âm, vần

- Trong phân môn Chính tả, các bài nghe - viết, nhớ - viết đều được trích hoặc tóm tắt từ bài tập đọc; trong trường hợp chọn ngữ liệu mới thì ngữ liệu ấy cũng có nội dung phù hợp với chủ điểm của tuần. Các bài tập điền chữ, điền vần, tìm tiếng có âm, vần

Tải bản đầy đủ - 0trang

nội dung chương trình học, khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất…Những

khõ khăn đó khiến cho việc tổ chức dạy học theo định hướng phát triển

năng lực ở trường tiểu học chưa đạt được kết quả như mong muốn.

CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT

LỚP 2 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

I. Dạy đọc hiểu văn bản văn học ở tiểu học

1.Thế nào là “đọc hiểu sâu” theo định hướng phát triển năng lực (ĐHPTNL)

“Đọc hiểu sâu” theo ĐHPTNL yêu cầu trong quá trình đọc, cần thiết phải

biến quá trình hướng dẫn đọc thành tự đọc. Trên cơ sở hướng dẫn của GV, HS

có thể đưa ra những quan điểm riêng đồng thời có cách nhìn nhận về tác phẩm,

cuộc sống theo cách riêng của mình. Thơng qua việc hiểu giá trị tác phẩm, HS

biết cách tự điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của mình cho phù hợp.

Dạy học đọc – hiểu theo hướng năng lực không nhằm truyền thụ 1 chiều

cho HS những cảm nhận của GV về văn bản được học, mà hướng đến việc cung

cấp cách đọc, cách tiếp nhận, khám phá những vấn đề về văn bản. Hoạt động

đọc – hiểu cần thực hiện theo trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao.

2.Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản truyện theo định hướng phát triển

năng lực

2.1.Tóm tắt/kể lại câu chuyện

Đây là cách đọc hiểu tương đối dễ đối với HS. GV cần hướng dẫn HS dùng

lời văn của mình để tóm tắt/kể lại chuyện. Để HS có thể làm tốt việc này, sau khi

HS đọc xong câu chuyện, GV có thể yêu cầu HS trả lời 6 câu hỏi : Ai? Ở đâu?

Khi nào? Cái gì? Tại sao? Bằng cách nào? để tìm ra các ý chính câu chuyện.

2.2.Tạo kết nối

Tạo kết nối là tìm ra mối liên hệ giữa cái mình đang đọc/tìm hiểu với sự vật,

sự việc, con người mình từng biết. Có 3 cách tạo kết nối như sau:

- Liên hệ giữa truyện (hay sách, phim) với bản thân mình hay những gì đã

trải nghiệm.

- Liên hệ chéo giữa các truyện với nhau, liên hệ giữa truyện đang đọc/xem

với những truyện (phim) đã xem.

- Liên hệ giữa truyện với thế giới hiện thực. Đây là kiểu liên hệ thể hiện rõ

nhất nguyên tắc dạy đọc gắn với phát triển năng lực.

2.3.Đặt câu hỏi

Đặt câu hỏi giúp HS hiểu văn bản hơn và kích thích đào sâu nghiên cứu

cũng như đọc mở rộng. Các câu hỏi trong SGK được coi như “phần cứng”. Đặt

11



câu hỏi theo hướng năng lực, GV có thể thêm “phần mềm”. Việc đặt câu hỏi

được tiến hành vào trước, trong và sau khi đọc.

2.4.Dự đốn

Dựa trên việc hướng dẫn tìm hiểu nội dung văn bản, GV có thể gợi ý cho

HS để dự đoán bước tiếp theo của nhân vật, tình huống. Có 2 cách dự đốn:

- Dự đốn đơn giản: HS dự đoán phần kết theo đúng nội dung câu chuyện.

- Dự đốn khó hơn: HS sẽ nêu những dự đốn của mình dựa trên những

thơng tin văn bản cung cấp.

2.5.Suy luận

Phương pháp này khó hơn dự đốn vì khơng chỉ dựa vào những gì HS đọc

từ văn bản mà còn phải kết hợp với kiến thức, kinh nghiệm ngồi đời mà HS

tích lũy, học hỏi được.

Để tập cách đọc hiểu này, GV nên hướng dẫn HS giải quyết tình huống nhỏ

trước rồi mới áp dụng vào truyện đang học/đọc. Đây là kĩ năng khó nhưng rất tốt

cho hướng phát triển năng lực của HS. Nếu thành thạo kĩ năng này các em sẽ

hiểu ẩn ý của tác giả, đồng thời có kiến thức về đời sống mn màu.

2.6.Kết luận

Phương pháp này đòi hỏi HS phải rút ra kết luận dựa trên những suy đốn,

suy luận của mình. Kĩ năng này thường được áp dụng với những câu chuyện có

nhiều tầng ý nghĩa.

Những mẫu câu dùng cho cả 3 phương pháp đọc hiểu Dự đoán, suy luận,

Rút ra kết luận là:

- Em có nghĩ…

- Em đốn…

- Có thể là…

- Em cho rằng…

2.7.Vận dụng kiến thức nền

- Kiến thức nền gồm: vốn sống, những trải nghiệm đã có, từng làm; mơi

trường, lối sống, văn hóa, gia đình; những kiến thức từ việc đọc sách hay đi trải

nghiêm.

- Để HS có kiến thức nền phong phú, GV cần nói chuyện, kể thêm những

hiểu biết về cuộc sống xung quanh bài học cho HS; tạo cơ hội đẻ các em tiếp

xúc với nhiều trải nghiệm khác nhau.

- HS cần thực hiện những yêu cầu sau:

+ Đọc thêm cuốn sách có liên quan.

+ Thực hành.

12



+ Xem phim (nếu có) trước khi đọc truyện.

+ quan sát sự vật, hiện tượng liên quan đến đề tài của câu chuyện.

+ Hỏi những người xung quanh những gì họ biết về chủ đề mình sắp đọc.

2.8.Góc nhìn/Giọng kể của tác giả.

Đây là một trong những cách giúp HS có được tư duy phản biện. Trong q

trình dạy đoc – hiểu, Hs cần xác định được ngôi kể. Có 2 góc nhìn để kể chuyện:

- Người kể xưng “tôi” (chúng tôi): Truyện hay đoạn văn, câu văn được kể

bằng giọng, góc nhìn của tác giả.

- Người kể ẩn: Người kể tự gọi tên các nhân vật, tự giấu mình đi như là

khơng có mặt.

2.9.So sánh

Các bài tập đọc trong SGK được sắp xếp theo chủ đề nên đây cũng là cơ hội

để luyện kí nằn so sánh đối chiếu không chỉ cho môn Tập đọc mà cho cả các

mơn học khác nữa. Gv có thể hướng dẫn HS dùng sơ đồ hình tròn để lên ý tưởng

khi so sánh.



Khác nhau



Giống Khác nhau

nhau



3.Quy trình dạy học sinh đọc hiểu văn bản văn học

3.1.Những yêu cầu nhằm đảm bảo hiệu quả dạy đọc hiểu văn bản

Để đảm bảo hiệu quả của việc dạy đọc hiểu văn bản văn học, cần lưu ý

những đặc điểm cơ bản sau:

a. Về quan niệm dạy đọc hiểu văn bản

Dạy đọc văn bản trong nhà trường chính là q trình tương tác giữa cá nhân

HS với chính mình, với văn bản và với xung quanh. Thơng qua q trình này,

HS dựa trên kiến thức nền tảng của mình để kiến tạo nghĩa cho tác phẩm. Nghĩa

là HS hiểu văn bản theo cách của riêng mình dựa vào hiểu biết cũng như trải

nghiệm của bản thân. Từ đó phát triển năng lực cảm thụ, giao tiếp… của các em.

Qua quá trình dạy đọc hiểu văn bản GV cũng giúp HS yêu thích tác phẩm hơn

và biết dùng những kinh nghiệm này vào cuộc sống.

13



b. Về chương trình sách giáo khoa.

Chương trình cần có độ mở nhất định nhằm hướng tới hình thành phẩm chất

và phát triển năng lực. Chương trình nên khuyến khích có nhiều bộ SGK.

c. Về phương pháp giảng dạy

- Không nên áp đặt cách hiểu của GV về văn bản đối với HS.

- Chú ý bối cảnh lịch sử khi HS thực hiện hoạt động đọc: GV không nên chỉ

chú trọng vào bối cảnh lịch sử, xã hội ở thời điểm văn bản được sáng tạo mà còn

phải chú ý tới bối cảnh khi HS đọc văn bản để làm tăng sức sống, ý nghĩa của

văn bản đối với cuộc sống của HS.

- Kĩ thuật đọc: bản chất của kĩ thuật đọc là học đọc thành tiếng và đọc thầm.

Việc đọc thành tiếng diễn ra trước đọc thầm.

- Đọc diễn cảm tác phẩm: Đọc diễn cảm tác phẩm để các em đồng cảm với

nhân vật, góp phần phát triển năng lực ngơn ngữ, thẩm mĩ.

- Đọc hiểu: Sau khi đọc xong một tác phẩm, GV có thể cho HS kể lại, viết lại,

đóng vai, đọc thơ, các trò chơi…để các em cảm nhận sâu sắc hơn về tác phẩm.

HS được thảo luận, trao đổi , phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm.

- Hình thành thói quen tự đọc tác phẩm: GV hướng dẫn HS đọc tác phẩm

trước ở nhà, đọc trên lớp; phân tích, thảo luận… về tác phẩm.

- Hệ thống các câu hỏi trong bài: Phải đáp ứng yêu cầu PTNL của HS

d. Về kiểm tra, đánh giá

Cần chú ý cả đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết. Nội dung kiểm tra

không nên chú trọng kiểm tra ghi nhớ kiến thức mà cần phải đánh giá được năng

lực đọc của HS.

3.2.Quy trình dạy học sinh đọc hiểu văn bản văn học ở tiểu học

Để quá trình dạy đọc hiểu văn bản trên lớp diễn ra đúng với định hướng

PTNL và phù hợp với các gợi ý về phương pháp dạy học đã nêu ở trên, GV cần

thực hiện những yêu cầu sau:

a. Giáo viên tự làm người đọc tối thiểu 3 lần khơng giống nhau

- Lần 1: Đọc một mình để biến văn bản thành tác phẩm cho mình ( tương tác

với tác giả).

- Lần 2: Đọc hướng tới hoạt động dạy (thiết kế giáo án; vừa tương tác với tác

giả vừa hướng tới HS).

- Lần 3: Đọc hướng tới bạn đọc HS/ đồng hành tương tác với bạn đọc HS

( vừa đọc lại vừa gợi dẫn sự đọc của HS).

b. Gợi động cơ

14



GV là người gợi động cơ tiếp nhận cho các cá thể HS. Có nhiều cách để GV

“gợi động cơ” như thuyết giảng và đặt câu hỏi nêu vấn đề; dẫn truyện; gợi mở,

chia sẻ bằng trò chơi…Có thể thơng qua hệ thống tranh ảnh hoặc câu hỏi mang

tính chất “khởi động”.

b. Hướng dẫn học sinh đọc

* Hướng dẫn HS kĩ thuật đọc:

- Đọc đúng âm, vần và thanh điệu.

- Đọc đúng ngữ điệu: Bao gồm việc ngắt/nghỉ, lên/xuống giọng…trong văn

xuôi hoặc đúng nhịp thơ. Đây là việc làm quan trọng vì Đọc sai ngữ điệu có

thể dẫn đến hiểu sai ý nghĩa của đoạn, bài.

- Khi soạn giáo án, GV cần:

+ Đánh dấu ngắt nghỉ vào những câu dài.

+ Đánh dấu vào những câu mà việc ngăt nghỉ hay lên/xuống giọng có thể

mang đến những ý nghĩa khác nhau.

+ Đánh dấu nhấn giọng những từ khóa hoặc những chi tiết quan trọng.

-Trong quá trình dạy học GV có thể dùng các hình thức:

+ Giải thích,lưu ý cho HS trong quá trình đọc-đọc mẫu-HS đọc lại.

+ Viết câu khó về nhữ điệu lên bảng cùng với quy ước ngắt nghỉ, HS đọc

theo hướng dẫn đó.

+ Cùng HS thảo luận và rút ra cách ngắt nhịp, nhấn giọng cho phù hợp.

* Hướng dẫn HS đọc diễn cảm

Đọc diễn cảm khơng phải là “đọc điệu”, đó chính là cách HS sau khi

hiểu và cảm nhận vẻ đẹp của văn bản, biết đọc bằng rung cảm cùng những

hiểu biết về cách đọc đúng. Để hướng dẫn HS đọc diến cảm GV cần:

- Giảng cho HS về ý nghĩa của từ/câu/đoạn.

- Hướng dẫn HS lưu ý những từ chìa khóa.

- Hướng dẫn HS về nhịp điệu hoặc ngữ điệu, nhất là ở những từ, câu, đoạn

tập trung bộc lộ nghĩa hàm ẩn của văn bản.

d.Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài

Sau khi “gợi động cơ”, Gv phải bằng một hệ thống thao tác và việc làm

giúp cho mỗi HS phát huy nguồn lực của bản thân để tìm hiểu các tầng ý

nghĩa của tác phẩm. Quá trình khai thác chiều sâu của tác phâm qua dạy đọc

văn bản phân thành các cấp độ: đọc để hiểu từ, hiểu câu; đọc để nắm được

nội dung cơ bản của đoạn văn, bài văn; đọc để nắm được chiều sâu của tác

phẩm; đọc để đánh giá được gí trị nghệ thuật của tác phẩm; đọc để so sánh,

liên hợp, vận dụng, sáng tạo.

15



Hướng dẫn HS hiểu và phản hồi về văn bản: Đây là mức độ cao của việc

đọc hiểu theo hướng tiếp cận năng lực. Trong q trình soanjvaf dạy trên lớp,

Gv có thể đặt ra những câu hỏi suy đoán, hồi tưởng, phản chiếu…để các em

có thể nêu lên tình cảm, suy nghĩ của bản thân và những bài học rút ra được

sau khi đọc văn bản.

II.Phương pháp dạy học kiến thức tiếng Việt

1.Tổ chức dạy học kiến thức tiếng Việt

Việc dạy kiến thức tiếng Việt gồm 2 nhóm hoạt động: Hoạt động tìm hiểu về

tiếng, từ, câu và hoạt động thực hành luyện tiếng, từ, câu.

1.1. Hoạt động tìm hiểu về tiếng, từ, câu

Là những hoạt động có mục đích tìm hiểu kiến thức lí thuyết về tiếng, từ,

câu và những quy tắc sử dụng từ, câu. Để thực hiện được hoạt động này GV cần

thực hiện các việc sau:

a. Hiểu cách trình bày hoạt động tìm hiểu về tiếng, từ, câu trong sách

giáo khoa

Trong SGK những hoạt động tìm hiểu về tiếng, từ, câu luôn được bắt đầu

bằng nhận xét và kết thúc bằng nội dung ghi nhớ.

b. Xác định nội dung lí thuyết cần dạy

c. Các bước cần thực hiện để tổ chức hoạt động tìm hiểu về tiếng, từ,

câu

- Xác định mục tiêu hoạt động.

- Chuẩn bị cho hoạt động.

- Tổ chức kiểm soát hoạt động.

1.2.Hoạt động thực hành luyện tiếng, từ, câu

Đây là trọng tâm của dạy học kiến thức tiếng Việt. Hoạt động này có 2

nhiệm vụ:

- Giúp HS nhận ra hiện tượng về từ và câu cần nghiên cứu . Ở mức yêu cầu

thấp, những hiện tượng này được nêu sẵn trong các ngữ liệu khác. Mức

yêu cầu cao hơn, HS phải tự tìm các hiện tượng về từ, câu vừa học trong

vốn tiếng Việt của mình.

- Tạo điều kiện cho HS sử dụng những đơn vị từ ngữ, ngữ pháp đã học vào

hoạt động nói năng của mình.

Việc tổ chức thực hiện hoạt động thực hành luyện tiếng, từ, câu gồm các

bước sau:

a. Xác định mục tiêu hoạt động

b. Chuẩn bị cho hoạt động ( chuẩn bị đồ dùng, phương tiện dạy học)

16



c. Tổ chức, kiểm soát hoạt động

d. Kiểm tra, đánh giá hoạt động

2.Dạy học kiến thức tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực

2.1.Thế nào là dạy học kiến thức tiếng Việt theo định hướng phát triển năng

lực

Dạy học kiến thức tiếng Việt theo chương trình định hướng nội dung là tập

trung dạy cho HS nhận biết, phân tích, phân loại các đơn vị ngơn ngữ mà ít chú

ý đến tạo năng lực sử dụng các đơn vị , kiểu loại ngôn ngữ nên không kết nối

kiến thức tiếng Việt với năng lực sử dụng tiếng Việt của HS.

Dạy học kiến thức tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực là chuyển từ

mục tiêu HS biết được gì về đơn vị ngơn ngữ sang mục tiêu HS làm được gì từ

điều đã biết – sử dụng các đơn vị này như thế nào trong hoạt động giao tiếp.

2.2.Những việc cần làm khi dạy học kiến thức tiếng Việt theo định hướng

phát triển năng lực

a. Bảo đảm mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp cho HS khi dạy học kiến

thức tiếng Việt

Muốn làm được điều này GV cần phải xác định đúng mục tiêu chung của bài

học và mục tiêu cụ thể của từng hoạt động.

b. Tối giản hóa (dễ hóa) q trình nhận diện, phân loại, phân tích các

đơn vị ngôn ngữ bằng cách:

- Giảm số lượng bài tập nhận diện, phân loại, phân tích các đơn vị ngơn ngữ.

- Cho ví dụ điển hình, tối giản khi dạy học tìm hiểu tiếng, từ, câu.

- Xây dựng “mẹo” nhận diện, phân loại, phân tích các đơn vị ngơn ngữ: các

đơn vị, kiểu loại ngôn ngữ đưa ra dạy cần gắn liền với dấu hiệu hình thức để

dễ nhận diện. Đồng thời chúng phải được đưa ra trong thế đối lập”nó”/

“khơng phải nó”, nhất là hững cái gì na ná như “nó”.

c. Tối ưu hóa q trình sử dụng các đơn vị ngơn ngữ thuộc các cấp độ và

bình diện khác nhau bằng việc:

- Tăng số lượng bài tập dạy sử dụng ( bài tập có tính chất tổng hợp, sáng tạo) các

đơn vị ngôn ngữ và các kiểu loại ngơn ngữ.

- Cho HS thấy lợi ích, chức năng xã hội, chức năng giao tiếp của những đơn vị

ngôn ngữ thuộc các cấp độ và bình diện khác nhau.

- Bảo đảm tính thống nhất giữa nội dung và hình thức khi dạy học kiến thức

tiếng Việt.

- Chú trọng dạy nghĩa và dạy cách dùng.

- Tổ chức dạy kiến thức tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp.

17



III. Dạy viết

1. Phương pháp dạy viết đúng

1.1.Phương pháp dạy tập viết

a. Phương pháp trực quan: Mẫu chữ là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập

viết. Đây là điều kiện đầu tiên để các em viết đúng. Vì vậy yêu cầu mẫu chữ cần

phải đúng quy định, rõ ràng, đẹp.

b. PP đàm thoại gợi mở: PP này thường được sử dụng ở đầu tiết học. GV dẫn

dắt HS tiếp xúc với các chữ sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi.

c. PP luyện tập thực hành

1.2.Phương pháp dạy Chính tả

a. PP phân tích ngơn ngữ: Bao gồm các thao tác phân tích, tổng hợp cấu tạo

chữ, cách đọc các âm, vần khó hay dễ lẫn…

b. PP giao tiếp: Được thể hiện bằng việc GV tổ chức tiết học bằng cách giao

nhiệm vụ học tập sao cho HS tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động giao

tiếp một cách hiệu quả.

c. PP rèn luyện theo mẫu

1.3.Phương pháp dạy kĩ thuật viết theo định hướng phát triển năng lực

Dạy kĩ thuật viết theo hướng phát triển năng lực vẫn sử dụng chủ yếu các

phương pháp như đã nêu trên nhưng giáo viên cần:

- Tích cực hóa hoạt động của người học .

- Tăng cường các hoạt động thực hành cho HS.

- Thay đổi cách đánh giá.

2. Phương pháp dạy viết đoạn văn, văn bản (tập làm văn) theo định hướng

phát triển năng lực

2.1.Hướng dẫn HS trong suốt quá trình tạo lập văn bản

Để thực hiện tiến trình tạo lập văn bản, GV cần thực hiện các bước sau:

- Giúp HS xác định chủ đề chính của đoạn văn, bài văn: bằng việc GV đưa

ra các câu hỏi gợi mở, HS sẽ xác định được nội dung yêu cầu.

- Hướng dẫn HS thu thập thơng tin và chất liệu có liên quan đến chủ đề bài

viết.

- Giúp HS xác định cấu trúc đoạn văn.

2.2.Sử dụng phối hợp, linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học viết văn bản.

Trong quá trình dạy tập làm văn, muốn HS chủ động trong học tập, GV cần

linh hoạt sử dụng các phương pháp: nêu vấn đề, so sánh, đàm thoại, thảo luận…

Trong đó đặc biệt chú ý đến các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sau:

- PP thực hành, luyện tập.

18



- PP thực hành theo nhóm và cá nhân.

- Phối hợp với hoạt động trải nghiệm.

IV. Dạy nói và nghe

1.Phương pháp dạy nói và nghe theo chương trình Tiếng Việt hiện hành.

1.1. Bước chuẩn bị

- Giúp HS nắm vững, hiểu và có cảm xúc đối với câu chuyện sắp kể để các em

chủ động, tự tin hơn.

- Tạo cho HS tâm thế muốn kể chuyện cho cô, cho bạn nghe.

1.2. Bước tập kể từng phần câu chuyện

- Lúc đầu tập cho các em kể từng phần câu chuyện, các tình tiết quan trọng.

- Đối với các lớp lớn, Gv hướng dẫn các em cách nhấn giọng khi kể.

1.3. Bước tập kể toàn bộ câu chuyện

Bước này HS cần luyện tập cả 2 yêu cầu: kể đúng, kể hay.

2.Phương pháp dạy nói và nghe theo định hướng phát triển năng lực

Dạy nói và nghe theo định hướng phát triển năng lực, Gv vẫn có thể sử

dụng các PPDH như ở PP dạy kể chuyện hiện hành. Tuy nhiên, để giờ nói và

nghe hiệu quả, GV cần chú ý:

- Hướng dẫn HS cách thức, quy trình chuẩn bị một bài trình bày ngắn và

trình bày trước nhóm.

- Hướng dẫn HS cách tập trung vào chủ đề và mục tiêu khi nói

- Hướng dẫn HS kĩ năng nghe hiểu.

- Tổ chức cho HS thảo luận, tranh luận.

- Gv hướng dẫn HS cách xâu chuỗi những chủ đề.



CHƯƠNG III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM



19



I. ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM

- HS lớp 2A (28 em) trường tiểu học…………… – Thành phố Hà Nội

II. GIÁO ÁN DẠY THỰC NGHIỆM

GIÁO ÁN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 TUẦN 7 (Dành cho học buổi 2)

CHỦ ĐỀ: THẦY CƠ



I) Mục đích, u cầu

- Đọc rành mạch, trôi chảy.

- Đọc diễn cảm phù hợp với từng nhân vật trong câu chuyện (giọng của thầy

giáo ngạc nhiên, vui vẻ; giọng của bố Dũng từ tốn, lễ phép).

- Hiểu ý nghĩa của bài đọc: Lòng biết ơn, kính trọng thầy cô giáo.

- Nhận diện được các từ chỉ hoạt động của người.

- Vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề trong thực tế.

- Biết kể lại một câu chuyện dựa vào gợi ý.

- Phân biệt và viết đúng ui/uy.

- Xác định được chủ đề cần nói và tự tin khi nói.

- Rèn tư duy logich,tư duy tượng hình bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách

cho học sinh.

- Tích hợp giáo dục giá trị sống: Lòng biết ơn.

II) Đồ dùng dạy học

- Tranh ảnh có liên quan đến nội dung bài học.

- Bảng phụ

- Phiếu học tập ( các bài tập trong bài được thiết kế dưới dạng phiếu học

tập để HS làm việc cá nhân hoặc thảo luận nhóm)

III) Các phương pháp, kĩ thuật dạy học chủ yếu

- Vấn đáp

- Giải quyết vấn đề

- Thảo luận nhóm

- Trò chơi.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Trong phân môn Chính tả, các bài nghe - viết, nhớ - viết đều được trích hoặc tóm tắt từ bài tập đọc; trong trường hợp chọn ngữ liệu mới thì ngữ liệu ấy cũng có nội dung phù hợp với chủ điểm của tuần. Các bài tập điền chữ, điền vần, tìm tiếng có âm, vần

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×