Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân tích nội dung case study

Phân tích nội dung case study

Tải bản đầy đủ - 0trang

(memory) của bà Tâm ghi nhớ ký ức xấu đó là hậu quả của khủng





hoảng tài chính gây ra.

Bà Tâm là người phụ nữ, sống độc thân, 70 tuổi, đã nghỉ hưu: Theo

lý thuyết trình bày phần trên, thái độ đối với rủi ro của phụ nữ

thấp hơn đàn ông, độ tuổi càng lớn thì rủi ro chỉ có thể chấp nhận

ở mức tương đối ổn định, những cặp vợ chồng thì nắm giữ chứng







khốn vốn sở hữu (cổ phiếu) cao hơn người độc thân.

Nguồn thu nhập duy nhất là danh mục 1 triệu đơ: Vì đây là tài sản

sinh lời duy nhất và có giá trị lớn nên bà Tâm có xu hướng coi

trọng hàng hóa sở hữu, ngại đánh đổi rủi ro, khơng thích sự thay

đổi mang tính rủi ro hơn dù theo xu hướng có lợi nhuận hơn. Theo

thuật ngữ hiệu ứng coi trọng hàng hóa sở hữu (endowment effect

hay status quo bias) thì giá trị hàng hóa tăng lên khi người ta đã

sở hữu nó phù hợp với lý thuyết triển vọng bởi mất mát sẽ được

cảm nhận mạnh mẽ hơn nhiều so với lợi ích có được nó. Trong

trường hợp bà Tâm, danh mục đầu tư 1 triệu được xem là tài sinh

lời duy nhất và bà Tâm cảm thấy thà chấp nhận lợi nhuận thấp







hơn là mất mát hoặc thua lỗ từ tài sản đó.

Mục đích đầu tư là đủ trang trải chi phí sinh hoạt đến cuối đời: Từ

chi tiết bà Tâm “có lối sống giản dị, khiêm tốn”, ta thấy bà có xu

hướng chi tiêu sinh hoạt không cao tuy nhiên vẫn phải có thu nhập

thường niên ổn định, lâu dài. Vì thế theo bà Tâm lựa chọn trái

phiếu là cảm thấy phù hợp theo ý kiến của bà Tâm. Các loại tài

sản vốn trên thị trường tài chính hiện nay bao gồm: cổ phiếu, trái

phiếu, tiền mặt. Khi nhìn lại ta có biết loại nào trong những tài sản

vốn mà thị trường đang có hiện mang cho người nắm giữ cảm giác

yên tâm về độ rủi ro thấp, mức độ sinh lời ổn định trong thời điểm

mới bước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng chưa bao lâu. Thì đây, ta

xem cách lựa chọn của bà Tâm cách đây là chỉ lựa chọn trái phiếu

và đặc biệt là trái phiếu chính phủ và trái phiếu đô thị (địa phương

phát hành). Những trái phiếu được bảo đảm bởi chính phủ, chính

quyền địa phương, có mức sinh lời ổn định, thời gian lâu dài phù

hợp với đối tượng nghỉ hưu như bà Tâm. Một số tự nghiệm

(heuristic) ảnh hưởng đến sự ưa thích thơng qua quá trình tìm

kiếm cảm giác an tâm. Bà Tâm chỉ đầu tư vào những tài sản vốn

11



có lợi nhuận dài hạn và rủi ro thấp hơn gồm trái phiếu chính phủ

và trái phiếu đơ thị, nó cũng phù hợp với mục tiêu là trang trải chi

phí cho phần đời còn lại của bà. Các nhà đầu tư càng nhận định

khả năng suy thối kinh tế thì mức độ rủi ro danh mục đầu tư càng





thấp , danh mục bà Tâm là một điển hình như vậy,

Dù bất cứ trường hợp nào, bà cũng không muốn mất (hay thua lỗ)

tiền đầu tư: Đây là tâm lý sợ thua lỗ. Khi nhận thức của bà

(perception) về thị trường tài chính là có tâm lý sợ thua lỗ thì bà

chỉ thường nhìn thấy những gì mà bà muốn thấy đó là vấn đề

khủng hoảng tài chính, rủi ro thua lỗ trước mắt. Khiến bà bị lệch







lạc nhận thức về thị trường tài chính hiện tại.

Bà Tâm bị ám ảnh bởi những người thua lỗ: Đây tự nghiệm neo

quyết định với niềm tin cứ đầu tư thị trường chứng là nguy cơ thua

lỗ, mất mát rất cao, bà Tâm đã bám vào niềm tin ấy trong thời

gian cuộc khủng hoảng đến bây giờ. Đó là lý do bà Tâm khơng đầu

tư vào cổ phiếu hay trái phiếu công ty. Khi không chắc chắn, con

người thường neo (anchor) vào những dữ liệu có sẵn và điều chỉnh

quan điểm của họ một cách chậm chạp, trong trường hợp này, bà

Tâm cũng là một cá nhân điển hình cho việc ảnh hưởng neo quyết

định. Bà Tâm neo thơng tin khủng hoảng tài chính để ra quyết







định và chưa từng thay đổi phân bổ tài sản danh mục đầu tư.

Bà Tâm có định kiến về trạng thái hiện tại, mong muốn mọi thứ

giữ nguyên. Bà Tâm ảnh hưởng đến những điều quen thuộc

(familiar) và có sự lệch lạc khơng thích sự thay đổi (status quo

bias), khó tiếp nhận các thông tin mới, lảng tránh tiếp nhận bất kỳ

sự phân bổ tài sản trong danh mục đầu tư đặc biệt danh mục đầu

tư của nhà tư vấn đưa ra có mức rủi ro cao hơn nhưng có mức lợi

nhuận cao hơn ban đầu. Vì thế có thể nhận ra bất kể nhà tư vấn

có khuyến nghị tốt như thế nào hay thời gian quen biết giữa nhà

tư vấn và bà Tâm có lâu hay khơng (3 năm) thì bà Tâm cũng không

thay đổi quyết định phân bổ tài sản của mình. Tuy nhiên việc

khơng thay đổi tài sản trong danh mục này không chỉ do tâm lý

ngại thay đổi và mà còn một phần do tính cách bảo thủ, cứng

nhắc của bà Tâm (lệch lạc cảm xúc - sự lệch lạc nằm sâu trong

viền não). Với lệch lạc về cảm xúc này của bà Tâm rất khó thay

12



đổi, thậm chí nếu nhà tư vấn cố gắng đẩy bà Tâm vào những tình

huống đầu tư rủi ro thì có thể gây ra tình trạng mối quan hệ căng

thẳng giữa bà Tâm và nhà tư vấn.

Tổng kết lại, bà Tâm có tâm lý sợ thua lỗ, ngại rủi ro, ngại sự thay đổi và

khó thay đổi cảm xúc (tính cách bảo thủ) vì thế rất khó để nhà tư vấn

điều tiết các thiên kiến của bà Tâm.

3.3. Nên điều tiết hay chọn cách thích ứng với các thiên kiến của

bà Tâm

Theo Micheal Pompian (2006) có 2 ngun tắc đưa ra:





Ngun tắc 1: Trung hòa (điều chỉnh) lệch lạc với những khách

hàng ít giàu có hơn. Thích nghi với các lệch lạc ở những khách







hàng giàu có hơn.

Ngun tắc 2: Trung hòa các lệch lạc nhận thức. Và thích nghi các

lệch lạc cảm xúc.



Trong nguyên tắc 1 thì một rủi ro lớn đối với những người ít khá giả hơn

trong đầu tư để nghỉ hưu là tài sản trong dài hạn. Với cùng lệch lạc đó

nhà đầu tư giàu có vẫn sẽ có đủ nguồn lực khi về hưu vì thế tốt hơn là

thuyết phục nhà đầu tư ít giàu có điều chỉnh theo suy nghĩ của mình.

Cần chỉ cho họ thấy rằng nhiều người lo ngại thua lỗ nhưng qua thời

gian dài, thị trường có xu hướng trunh hòa giữa điều kiện tốt và kém, là

bước hướng dẫn cho nhà đầu tư đi đúng hướng.

Trong nguyên tắc 2 thì ý tưởng ở đây là các lệch lạc (cả về nhận thức và

đánh giá) thường dễ dàng ngăn lại bằng việc giáo dục phù hợp hơn cảm

xúc. Cảm xúc nằm sâu trong viền não nên khó thay đổi hơn nhiều. Nếu

những cân nhắc về mặt cảm xúc gây ra quan điểm sai về việc chấp

nhận rủi ro, thì tốt nhất là nhà đầu tư nên chấp nhận những quan điểm

này. Giả định rằng, khách hàng mong muốn rủi ro thấp hơn mức đề xuất,

nếu người này bị đẩy vào những đầu tư rủi ro hơn, ngược lại xu hướng

của họ, họ sẽ thay đổi q trình (và thậm chí sa thải cả nhà tư vấn bất

chấp lời khuyên đúng) khi thị trường đi xuống.

Dựa theo 2 nguyên tắc mà Micheal Pomian đưa ra được trình bày ở phần

lý thuyết thì chúng tôi nhận định bà Tâm thuộc đối tượng khách hàng

giàu có (mức tài sản 1 triệu USD), có lệch lạc nhận thức do tự nghiệm



13



neo quyết định và có lệch lạc về cảm xúc (bảo thủ) thì thích ứng với các

thiên kiến của bà Tâm là phù hợp.

Tuy nhiên, trên thực tế, chúng tôi lựa chọn giải pháp ban đầu sẽ

dùng mọi nỗ lực để điều tiết các thiên kiến và nếu mọi nỗ lực

điều tiết thất bại thì mới lựa chọn trung hòa thiên kiến. Như vậy,

chúng tơi có thể cải thiện được mối quan hệ của bà Tâm và nhà tư vấn

đồng thời danh mục sẽ được quản lý phù hợp với mục tiêu mong muốn,

gia tăng mức lợi nhuận hiện có phù hợp với mức độ chịu đựng rủi ro của

bà Tâm.

Cách thức điều tiết như sau:





Tư vấn bà Tâm chi tiêu tiền như du lịch, mua sắm, thăm họ hàng,

bạn bè…=>Thấy được sự tận hưởng của người có tiền, thay đổi

thói quen chi tiêu lúc cao tuổi.







Tư vấn bà Tâm những mất mát nếu bà chỉ đầu tư vào trái phiếu và

càng cho thấy nhiều mất mát thì càng tốt =>Tâm lý lo sợ thua lỗ

sẽ khiến bà Tâm thay đổi quan điểm đầu tư.







Cần thay đổi tỷ lệ phân bổ một cách từ từ như từ 100% trái phiếu

xuống còn 85%, sau đó giảm dần về 70% => Bà Tâm thấy các

mức lợi nhuận được cải thiện sau mỗi lần thay đổi và sẽ càng tin

tưởng vào sự tư vấn của chúng tôi.



3.4. Cách thức phân bổ tài sản tối ưu cho khách hàng

Chúng tôi dựa trên những nguyên tắc sau đây để phân bổ tài sản một

cách tối ưu đối với hàng như bà Tâm:





Khơng đặt tất cả số trứng vào cùng 1 giỏ , đó là cần đa dạng hóa







danh mục đầu tư, phân tán rủi ro.

Phân bổ theo tài sản theo các quỹ vòng đời: Đây là giải pháp giải

quyết độ tuổi nhà đầu tư, sự chấp nhận rủi ro, mục tiêu đầu tư để

phân bổ các tài sản sao cho phù hợp. Một sự tham khảo được cho

là tốt nhất dành cho những nhà đầu tư có số tiền lớn nhưng tuổi

cao, đã nghỉ hưu, mức độ chấp nhận rủi ro thấp, mục tiêu lợi

nhuận ổn định và thời gian đầu tư lâu dài đó là tham gia quỹ đầu

tư (quỹ tương hỗ) Vanguard



- Một trong những quỹ đầu tư lớn



nhất thế giới và thành công của Mỹ trong mục tiêu xây dựng quỹ

đầu tư thụ động theo một chỉ số thị trường.

14



Chúng tơi có 2 phương án chọn lựa:

Phương án 1: Phân bổ 1 triệu USD vào nhiều quỹ tương hỗ, ưu tiên các

quỹ tương hỗ chứng khoán thu nhập ổn định.

Phương án 2: Tự lựa chọn và phân bổ theo danh mục đầu tư gồm:









70%: Trái phiếu

20%: Cổ phiếu

10%: Tiền mặt



Chúng tơi giải thích lý do vì sao lại lựa chọn 2 phương án trên:

Phương án 1: Dựa trên các khảo sát thực tế từ bài nghiên cứu tham khảo

“Asset location for retirement savers” (2000) của Jame M.Poterba et al.,

chúng tôi nhận thấy việc đầu tư vào các công ty quỹ đầu tư/quỹ tương

hỗ mang lại mức sinh lời cao hơn khi nhà đầu tư mua và nắm giữ trái

phiếu. Chúng tôi sẽ phân bổ càng nhiều quỹ tương hỗ càng tốt, đa dạng

hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Quỹ tương hỗ ở đây là Quỹ đầu tư trái

phiếu/chứng khốn có thu nhập cố định, quỹ ưu tiên đầu tư vào các

cơng cụ nợ chính phủ và cơng ty. Trong đó, danh mục nên có chứng

khốn kho bạc để giảm thiểu rủi ro lạm phát. Các quỹ tương hỗ này áp

đặt tỷ lệ phân bổ tài sản trong danh mục đầu tư và đưa ra cam kết mức

sinh lời tối thiểu. Ở phương án này, nhà đầu tư khơng có quyền chủ

động lựa chọn tài sản mà bị áp đặt bởi quỹ tương hỗ, vì thế chúng tôi

không đưa ra cụ thể tỷ lệ phân bổ tài sản.

Phương án 2: Malkiel (1973) đưa ra yếu tố độ tuổi ảnh hưởng đến sự

phân bổ danh mục đầu tư và đưa ra kết quả khảo sát về danh mục phân

bổ tài sản của những người trên 60 tuổi bao gồm cổ phiếu, trái phiếu,

bất động sản, tiền mặt theo tỷ lệ tương ứng là 40:35:15:10.

Shauna C.H (2018) đưa ra 2 tỷ lệ phân bổ cho những người đầu tư bảo

thủ và tương đối bảo thủ, trong đó:

Danh mục đầu tư “bảo thủ” gồm chứng khoán thu nhập cố định, cổ

phiếu và tiền mặt theo tỷ lệ tương ứng là 70-75:15-20:5-15.

Mục tiêu chính của danh mục đầu tư bảo thủ là bảo vệ giá trị gốc của

danh mục đầu tư của bạn (số tiền bạn đầu tư ban đầu). Do đó, các mơ

hình này thường được gọi là "danh mục đầu tư bảo toàn vốn".

Danh mục đầu tư “tương đối bảo thủ” gồm chứng khoán thu nhập cố

định, cổ phiếu và tiền mặt theo tỷ lệ tương ứng là 55-60:35-40:5-10.



15



Mục tiêu của những người muốn bảo toàn một phần lớn tổng giá trị của

danh mục đầu tư, nhưng sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao hơn để có được

sự bảo vệ lạm phát

Robert Farrington (2014) đưa ra lựa chọn dành cho những người gần

nghỉ hưu và trên 50 tuổi như sau:





25% cổ phiếu vốn hóa lớn (Vanguard Large Cap Index Fund NYSE:







VV)

20% cổ phiếu vốn hóa nhỏ (Vanguard Small Cap Index Quỹ NYSE:







VB)

5% Chỉ số thị trường chứng khốn quốc tế (Quỹ chỉ số chứng







khốn quốc tế Vanguard NYSE: VXUS)

40% Trái phiếu Trung hạn (Quỹ Trái phiếu Trung hạn Vanguard







NYSE: BIV)

10% Trái phiếu Ngắn hạn (Quỹ Trái phiếu Ngắn hạn Vanguard

NYSE: BSV)



Dựa trên 3 nguồn tham khảo trên chúng tôi nhận thấy trường hợp bà

Tâm phù hợp với chiến lược danh mục đầu tư bảo thủ của Shauna C.H

(2018) và trùng khớp với tỷ lệ phân bổ mà nhà đầu tư ban đầu muốn lựa

chọn là 70% trái phiếu: 20% cổ phiếu: 10% tiền mặt.



16



4. Kết luận

Qua những phân tích trên chúng tôi kết luận bà Tâm bị tâm lý sợ thua

lỗ, neo quyết định, lệch lạc điều chỉnh và định kiến về trạng thái hiện

tại. Để cải thiện mối quan hệ giữa nhà tư vấn và bà Tâm tốt đẹp hơn và

để có mức lợi nhuận phù hợp hơn, chúng tôi chọn cách sử dụng mọi nỗ

lực để điều tiết các thiên kiến của bà Tâm và sẽ trung hòa nếu mọi nỗ

lực điều tiết thất bại. Tuy nhiên để đưa ra một danh mục phù hợp nhất

thì chúng tôi dựa trên các bài tham khảo khác nhau để giúp đa dạng hóa

lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro và ảnh hưởng của lạm phát đó là tỷ lệ phân

bổ danh mục như sau: 70% trái phiếu, 20% cổ phiếu, 10% tiền mặt.

Mối quan hệ giữa nhà tư vấn tài chính và khách hàng có tính duy nhất khơng trường hợp nào giống trường hợp nào và khơng có phương pháp

nào tối ưu để có thể chắc chắn giúp phát hiện và ngăn chặn những thiên

kiến (biases) của khách hàng.

Với một nhà tư vấn đầu tư tài chính, nên tập trung vào quy trình phương

pháp, đánh giá tác động, quyết định phản ứng của khách hàng và cách

phân bổ tài sản thực tế để đưa ra những khuyến nghị hợp lý, tốt nhất và

tối ưu nhất đối với danh mục đầu tư của khách hàng.



17



Tài liệu tham khảo

Ackert, L., & Deaves, R. (2009). Behavioral finance: Psychology, decisionmaking, and markets. Cengage Learning.

Tversky, A., & Kahneman, D. (1974). Judgment under uncertainty: Heuristics

and biases.

Barsky, R. B., Juster, F. T., Kimball, M. S., & Shapiro, M. D. (1997). Preference

parameters and behavioral heterogeneity: An experimental approach in the

health and retirement study. The Quarterly Journal of Economics, 112(2), 537579.

Bodie, Z., Merton, R. C., & Samuelson, W. F. (1992). Labor supply flexibility and

portfolio choice in a life cycle model. Journal of economic dynamics and

control, 16(3-4), 427-449.

Schooley, D. K., & Worden, D. D. (1999). Investors' asset allocations versus lifecycle funds. Financial Analysts Journal, 55(5), 37-43.

Poterba, J. M., Shoven, J. B., & Sialm, C. (2001). Asset location for retirement

savers. In Private Pensions and Public Policies (Brookings Institution.

Malkiel, B. G., & McCue, K. (1985). A random walk down Wall Street (Vol. 332).

New York: Norton.

Shauna Carther Heyford, “Achieve optimal asset allocation”, March 2018,



Robert Farrington, “Building the perfect portfolio allocation – 5 models to

follow”,



May 2014,






portfolio-allocation-5-models-follow/>



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân tích nội dung case study

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×