Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở lý thuyết

Cơ sở lý thuyết

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hiệu ứng ban đầu (primacy effect): Trong một loạt các yếu tố được

đưa ra có tác động đến nhận thức thì yếu tố nào xuất hiện trước sẽ tác

động lớn hơn.

Hiệu ứng tức thì (recency effect): Ngược lại hiệu ứng ban đầu, đó là

những yếu tố xuất hiện cuối cùng sẽ mang tác động lớn hơn.

Hiệu ứng danh tiếng (halo effect): Người ta thường bị quan điểm và

thái độ chung về một sự vật (sự việc hay con người) làm ảnh hưởng đến

việc đánh giá một tính chất nào đó của sự vật đó.

Dễ dàng xử lý thơng tin (ease of processing): Con người thường ưa

thích các tình huống mà có thể dễ dàng xử lý thơng tin. Thơng tin dễ

hiểu thường cho là chắc chắn đúng.

Quá tải thông tin (information overload): Khi xảy ra hiện trạng thừa

thãi thông tin, con người bối rối và né tránh ra quyết định.

Tự nghiệm (heuristic): Trong trường hợp con người phải ra quyết định

nhanh chóng trong bối cảnh thơng tin và khả năng xử lý bị hạn chế thì

tự nghiệm là quy tắc đưa ra quyết định sử dụng tập hợp con trong tất cả

thơng tin. Được chia ra hai nhóm:





Tự nghiệm dạng 1 (type 1 heuristic): phản thân (reflexive), tự trị

(autonomic), không nhận thức (noncognitive) và tiết kiệm chi phí.

Tự nghiệm phù hợp khi phải nhanh chóng ra quyết định hay với







những số tiền đặt cược nhỏ.

Tự nghiệm dạng 2 (type 2 heuristic): bản chất là nhận thức. Tự

nghiệm này đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn và phù hợp với số tiền đặt

cược cao.



Ngoài ra, một số bài báo khác tự nghiệm có 3 loại: tình huống điển hình

(representativeness), sự sẵn có (availability) và neo quyết định

(anchoring).





Tự nghiệm tình huống điển hình: xu hướng tính xác suất của A dựa







trên mức độ tương đồng của A so với B.

Tự nghiệm sự sẵn có: xu hướng tìm kiếm thơng tin dễ dàng có







được và xử lý.

Tự nghiệm neo quyết định: xu hướng bám vào niềm tin trước đó

lâu hơn mức hợp lý.



Sự quen thuộc (familiar): Con người thường thấy an tâm với những

điều quen thuộc. Con người khơng thích sự mơ hồ và tìm cách né tránh

6



rủi ro khơng được bù đắp. Con người thường có khuynh hướng gắn liền

với những cái gì họ biết thay vì xem xét các lựa chọn khác. Con người

lảng tránh tiếp nhận những sáng tạo mới dù biết điều này rất đáng giá.

Tất cả điều này cho thấy con người ln tìm kiếm sự an tâm.

E ngại sự mơ hồ (ambiguity aversion): Con người ưa thích sự rủi ro

(xác suất thành công) hơn là sự không chắc chắn.

Tự nghiệm đa dạng hố (Diversification heuristic): Con người thường

ít cố gắng khi đứng trước các sự lựa chọn không loại trừ lẫn nhau.

Lệch lạc khơng thích sự thay đổi (Status quo bias) hay hiệu ứng coi

trọng hóa sở hữu (endowment effect): là một tâm lý sợ thua lỗ trong bối

cảnh phi rủi ro, ở đây như một dạng tự nghiệm: “giữ chặt lấy cái mà bạn

có nếu bạn khơng có lý đo mạnh mẽ nào để làm khác đi”.

Neo quyết định (anchor): Khi con người ra quyết định đều có mốc neo

và điều chỉnh nó theo hướng nhất định. Tuy nhiên, sự điều chỉnh này

thường không đầy đủ theo một số quan điểm sau như con người không

chắc chắn về giá trị đúng và điều chỉnh lệch mốc neo nên vùng giá trị

hợp lý càng lớn hoặc con người thiếu nỗ lực nhận thức và lười biếng

nhận thức. Khi không chắc chắn, con người thường neo vào những giữ

liệu có sẵn và điều chỉnh quan điểm của họ một cách chậm chạm. Neo

quyết định thậm chí xuất hiện ngay cả khi mốc neo đó khơng quan

trọng.

Khó khăn trong quyết định phân bổ tài sản đối nhà đầu tư hưu

trí: Nhà đầu tư hưu trí dường như khơng hiểu về quyết định phân bổ tài

sản (asset allocation), họ không hiểu làm cách nào để lựa chọn các tài

sản để rủi ro tổng thể phù hợp với mức độ chấp nhận rủi ro của mình. Sự

nhầm lẫn này có thể gây ra tác hại vì các quyết định phân bổ danh mục

thường là quyết định quan trọng nhất đối với thành quả danh mục của

nhà đầu tư dài hạn. Cách xác định đối tượng có vấn đề này, đó là xem

liệu họ có nhất quán trong lựa chọn khi họ buộc phải đưa ra ý kiến. Khi

các cá nhân không chắc chắn, họ thường dựa vào tự nghiệm, cho phép

họ làm những gì mà họ cho là hợp lý.

Các nhân tố chuẩn tắc trong quyết định phân bổ tài sản

Có 2 nhân tố chuẩn tắc về nhân khẩu học là thái độ đối với rủi ro và độ

tuổi. Những người có thái độ e ngại rủi ro cao, hoàn toàn do sở thích cá

nhân, thường sẽ chọn một độ nhạy cảm đối với thu nhập cố định cao

7



hơn trong danh mục của mình. Có bằng chứng biến đại diện cho thái độ

rủi ro là giới tính, với nữ giới thường e ngại rủi ro hơn với nam giới. Thứ

2, về độ tuổi thì khi cá nhân càng lớn tuổi và sắp nghỉ hưu , nguồn lực

con người có xu hướng giảm sút, yêu cầu một độ nhạy vốn cổ phần thấp

hơn để duy trì một vị thế rủi ro tương đối ổn định. Thực sự những nhà

lập kế hoạch đề xuất tỷ trọng vốn cổ phần không chỉ phù hợp thái độ đối

với rủi ro mà còn sụt giảm 1%/năm khi họ sắp nghỉ hưu.

Tiến trình truyền thống khi quyết định phân bổ tài sản được vận hành

bằng chiến lược khảo sát thông qua bản câu hỏi đo lường mức độ chấp

nhận rủi ro. Bản câu hỏi thiết kế để đánh giá mức chịu đựng rủi ro (risk

tolerance) là hàm số gồm khả năng chấp nhận rủi ro (risk capacity) và

thái độ đối với rủi ro (risk attitude). Khả năng chấp nhận rủi ro đề cập

đến mức độ rủi ro trung bình phù hợp với các cá nhân có cùng độ tuổi,

kế hoạch nghỉ hưu, thu nhập, nhu cầu thanh khoản. Thái độ đối với rủi ro

được xem là nhân tố điều chỉnh, phản ánh mức độ mà một cá nhân cụ

thể lệch khỏi khả năng chấp nhận rủi ro do những ưu tiên cá nhân và

các yếu tố tâm lý => Cách thức phân bổ tài sản từ bản câu hỏi là rủi ro

chủ quan (subjective risk).

Rủi ro chủ quan khác với rủi ro khách quan (objective risk), có được từ

các quyết định đầu tư thực sự được phản ánh trong tỷ lệ phần trăm các

tài sản rủi ro trong tồn danh mục. Hai cách này đều có kết quả tương

tự nhau nhưng đơi khi cũng có phân tán dẫn đến liệu cái nào tốt hơn.

Xin trình bày 2 dạng đều có vấn đề. Mặc dù những gì thực sự làm tốt

hơn đó là rủi ro khách quan nhưng có thể sai lầm do thiếu hiểu biết,

quán tính. Sự thiếu hiểu biết dẫn đến các lựa chọn đầu tư mà rủi ro của

nó khơng phù hợp với sự ưa thích. Việc khơng tái cân bằng do qn tính

có thể khiến phân bổ tài sản khác với dự tính khi thị trường dịch chuyển

lên xuống.

Rủi ro chủ quan có thể sai lầm do lỗi công cụ hoặc/và lỗi người trả lời.

Lỗi của người trả lời có thể họ khơng hiểu câu hỏi và trả lời theo hướng

khác với mục tiêu chính mà câu hỏi đặt ra cho họ. Lỗi của công cụ là

thiếu tính hiệu lực và độ tin cậy. Tính hiệu lực ở đây là bảng câu hỏi có

thực sự đo những thứ mà nó thực sự muốn đo, độ tin cậy biểu thi nhất

quán của kết quả. Để đạt tính hiệu lực cần hỏi câu hỏi đúng. Để có độ

tin cậy cần có các “câu hỏi phù hợp” với “số lượng đủ lớn”. Vấn đề là tác

8



động của một câu hỏi bị hiểu sai sẽ bị khếch đại nếu trong bảng chỉ có

một vài câu hỏi.



9



3. Phân tích nội dung case study

3.1. Tóm tắt case study

Trong thời điểm 2018, khi thị trường vốn đang phát triển nhưng không

phải là tối đa, có tài sản tài chính gồm cổ phiếu, trái phiếu và tiền mặt.

Một trong số các nhà đầu tư là bà Tâm - phụ nữ độc thân, 70 tuổi, nghỉ

hưu, tuy giản dị, khiêm tốn nhưng lại bảo thủ có thu nhập duy nhất là

danh mục đầu tư 1 triệu USD. Mục đích đầu tư là tạo thu nhập trang trải

chi phí suốt đời và mục tiêu là không muốn thua lỗ ở bất kỳ trường hợp

nào. Bà chưa bao giờ thay đổi phân bổ tài sản trong danh mục nếu có

nhà tư vấn có khuyến nghị ngược lại. Danh mục gồm trái phiếu chính

phủ và trái phiếu đơ thị. Bà Tâm đ¬ược làm bài kiểm tra về đặc điểm cá

nhân nhà đầu tư theo thiên kiến của người tư vấn và có kết quả là bà

Tâm là người có tâm lý sợ thua lỗ, neo quyết định và lệch lạc điều chỉnh,

định kiến về trạng thái hiện tại. Sau khi có kết quả khả năng chịu đựng

rủi ro từ bà Tâm qua bài kiểm tra khác, nhà đầu tư đưa ra khuyến nghị

phân bổ tài sản: 70% trái phiếu, 20% cổ phiếu, 10% tiền mặt.

3.2. Sự ảnh hưởng của các thiên kiến của bà Tâm đến quyết định

phân bổ danh mục đầu tư

Dựa vào các lý thuyết được ghi nhận bởi các tài liệu tài chính hành vi

tham khảo uy tín và các kết quả tâm lý đã được chứng minh qua các

khảo sát tại các bài báo nghiên cứu nước ngồi liên quan thì chúng tơi

đưa ra các nhận định về các thiên kiến của bà Tâm như sau:





Lệch lạc nhận thức muộn hay dự đốn theo sự thật đã xảy ra

(hindsight bias): Trong bối cảnh năm 2018, nghĩa là sau cuộc

khủng hoảng năm 2008 thì thị trường đang dần hồi phục. Xét khía

cạnh bà Tâm đang sinh sống tại Mỹ thì bà Tâm là người chứng kiến

cuộc khủng hoảng ngay tại quốc gia mình sinh sống. Những ảnh

hưởng và tổn thất của cuộc khủng hoảng rất nặng nề đến nền kinh

tế trong nước cũng cuộc sống gia đình bà (những người bà con

đều bị thua lỗ) vì thế bà Tâm có xu hướng dự đốn cuộc khủng

hoảng có thể xảy ra một lần nữa trong tương lai. Trong trí nhớ



10



(memory) của bà Tâm ghi nhớ ký ức xấu đó là hậu quả của khủng





hoảng tài chính gây ra.

Bà Tâm là người phụ nữ, sống độc thân, 70 tuổi, đã nghỉ hưu: Theo

lý thuyết trình bày phần trên, thái độ đối với rủi ro của phụ nữ

thấp hơn đàn ơng, độ tuổi càng lớn thì rủi ro chỉ có thể chấp nhận

ở mức tương đối ổn định, những cặp vợ chồng thì nắm giữ chứng







khốn vốn sở hữu (cổ phiếu) cao hơn người độc thân.

Nguồn thu nhập duy nhất là danh mục 1 triệu đơ: Vì đây là tài sản

sinh lời duy nhất và có giá trị lớn nên bà Tâm có xu hướng coi

trọng hàng hóa sở hữu, ngại đánh đổi rủi ro, khơng thích sự thay

đổi mang tính rủi ro hơn dù theo xu hướng có lợi nhuận hơn. Theo

thuật ngữ hiệu ứng coi trọng hàng hóa sở hữu (endowment effect

hay status quo bias) thì giá trị hàng hóa tăng lên khi người ta đã

sở hữu nó phù hợp với lý thuyết triển vọng bởi mất mát sẽ được

cảm nhận mạnh mẽ hơn nhiều so với lợi ích có được nó. Trong

trường hợp bà Tâm, danh mục đầu tư 1 triệu được xem là tài sinh

lời duy nhất và bà Tâm cảm thấy thà chấp nhận lợi nhuận thấp







hơn là mất mát hoặc thua lỗ từ tài sản đó.

Mục đích đầu tư là đủ trang trải chi phí sinh hoạt đến cuối đời: Từ

chi tiết bà Tâm “có lối sống giản dị, khiêm tốn”, ta thấy bà có xu

hướng chi tiêu sinh hoạt khơng cao tuy nhiên vẫn phải có thu nhập

thường niên ổn định, lâu dài. Vì thế theo bà Tâm lựa chọn trái

phiếu là cảm thấy phù hợp theo ý kiến của bà Tâm. Các loại tài

sản vốn trên thị trường tài chính hiện nay bao gồm: cổ phiếu, trái

phiếu, tiền mặt. Khi nhìn lại ta có biết loại nào trong những tài sản

vốn mà thị trường đang có hiện mang cho người nắm giữ cảm giác

yên tâm về độ rủi ro thấp, mức độ sinh lời ổn định trong thời điểm

mới bước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng chưa bao lâu. Thì đây, ta

xem cách lựa chọn của bà Tâm cách đây là chỉ lựa chọn trái phiếu

và đặc biệt là trái phiếu chính phủ và trái phiếu đơ thị (địa phương

phát hành). Những trái phiếu được bảo đảm bởi chính phủ, chính

quyền địa phương, có mức sinh lời ổn định, thời gian lâu dài phù

hợp với đối tượng nghỉ hưu như bà Tâm. Một số tự nghiệm

(heuristic) ảnh hưởng đến sự ưa thích thơng qua q trình tìm

kiếm cảm giác an tâm. Bà Tâm chỉ đầu tư vào những tài sản vốn

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở lý thuyết

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×