Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các lãi suất khác nhau trên CBDC

Các lãi suất khác nhau trên CBDC

Tải bản đầy đủ - 0trang

của tiền tệ ngay cả khi CBDC có thể truy cập toàn cầu. Việc trả các tỷ lệ khác

nhau sẽ cho phép chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến các ngân hàng, từ đó tạo

ra tín dụng và tiền, mà đối với các phi ngân hàng là không thể làm được.

Hạn chế mà các ngân hàng phải đối mặt, do quy định và là kết quả của

chuyển đổi trưởng thành mà họ thực hiện, họ phải nắm giữ một phần nhỏ tài

sản lưu động trong bảng cân đối kế toán dưới dạng như tiền ngân hàng trung

ương (hiện tại là dự trữ) hoặc tương tự. Chi phí cơ hội để nắm giữ các tài sản

này, dưới dạng thanh khoản tài sản thường trả tỷ lệ hoàn vốn thấp hơn so với

các lựa chọn khác, ít thanh khoản hơn như cho vay. Các ngân hàng có thể

tăng thu nhập lãi bằng cách giảm tối đa tài sản lưu động mà họ nắm giữ,

nhưng điều này làm tăng rủi ro gặp vấn đề về thanh khoản trong tương lai.

Trả một tỷ lệ duy nhất cho CBDC có thể truy cập tồn cầu có thể làm trầm

trọng thêm vấn đề này. Trong lịch sử, lợi nhuận từ tiền ngân hàng trung ương

ít nhất đã vượt quá lãi suất mà các ngân hàng phải trả cho các khoản nợ ngắn

hạn như tiền gửi thanh tốn (xem Hình 6). Tuy nhiên, như đã thảo luận ở trên,

CBDC có nghĩa là lãi suất tiền gửi cao hơn tỷ lệ chi trả cho CBDC, do đó các

ngân hàng sẽ lỗ ròng trên tất cả các CBDC được nắm giữ. Điều này có thể làm

giảm tồn bộ biên tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận chung, và tăng cường

khuyến khích để mức tối thiểu của tiền ngân hàng trung ương.

Phân biệt lãi suất trả cho ngân hàng và phi ngân hàng gợi ý một giải

pháp cho vấn đề này. Nếu tỷ lệ thanh toán trên các bảng cân đối CBDC do các

ngân hàng nắm giữ lớn hơn tỷ lệ thanh tốn cho các tổ chức phi ngân hàng,

thì sẽ làm tăng lợi nhuận mà ngân hàng nhận được trên phía tài sản của bảng

cân đối kế tốn mà khơng nhất thiết phải tăng chi phí tiền gửi cho bên trách

nhiệm, do đó làm giảm chi phí tổng thể của việc giữ thanh khoản. Từ phía

người gửi tiền, nếu lợi nhuận trên CBDC (lãi suất phi rủi ro) không thay đổi, thì

lợi nhuận họ thu được từ tiền gửi, điều chỉnh rủi ro và các yếu tố khác cũng

không cần phải thay đổi.

Sự chênh lệch giữa lãi suất trả cho ngân hàng và phi ngân hàng có thể được

coi như một số dương, cố định, mức độ thay đổi với hai tỷ lệ là như nhau.

Trong trường hợp này sẽ tác động ổn định đến bảng cân đối của ngân hàng,

còn hậu quả của chính sách tiền tệ vượt ra ngoài trường hợp chuẩn sẽ bị hạn

chế. Ngoài ra, sự chênh lệch có thể thay đổi theo thời gian; điều này sẽ có ý

nghĩa đối với chính sách tiền tệ và sự ổn định tài chính đầy tiềm năng. Khi sự

chênh lệch gia tăng có thể làm giảm chi phí nắm giữ mức độ thanh khoản cho

một ngân hàng, từ đó sẽ cải thiện vị trí bảng cân đối kế tốn. Từ đó, sẽ xảy ra

kích thích tiền tệ thông qua kênh bảng cân đối ngân hàng, hoặc thông qua

kênh cho vay của ngân hàng. Ngay cả khi các ngân hàng vượt qua một số

hoặc tất cả sự gia tăng trong việc hoàn trả tài sản của họ cho người gửi tiền

dưới dạng lãi suất tiền gửi cao hơn, điều này sẽ được kích thích thơng qua

dòng tiền. Do đó, sự chênh lệch giữa tỷ lệ CBDC của ngân hàng và CBDC phi

ngân hàng sẽ cung cấp thêm một hướng cho lập trường của chính sách tiền

tệ.

Cần lưu ý rằng các ngân hàng đã được hưởng lợi từ một hình thức khác biệt

tương tự theo mơ tả ở đây: họ có quyền truy cập vào bảng cân đối của ngân

hàng trung ương với các điều khoản khác nhau đối với cơng chúng. Trong thực

tế, sự khác biệt thậm chí còn rõ ràng hơn mơ hình hiện tại: các ngân hàng

nhận được tiền lãi từ tiền ngân hàng trung ương (khoản dự trữ) trong khi các

tổ chức phi ngân hàng lại khơng được (chỉ tiền mặt), do đó chức năng và tiện

ích của hai hình thức tiền ngân hàng trung ương là khác nhau. Mặc dù việc trả



11



lãi suất khác nhau cho các ngân hàng và phi ngân hàng có thể hỗ trợ thực

hiện chính sách tiền tệ, tuy nhiên việc trả nhiều tiền cho ngân hàng hơn là

cho công chúng nói chung có thể bị phản đối vì những lo ngại xung quanh sự

công bằng. Những cuộc tranh luận này có thể là đặc biệt nghiêm trọng trong

thời kỳ khủng hoảng tài chính.

6.1. Dự trữ và CBDC cùng tồn tại dưới dạng tài sản riêng biệt

Xét một kịch bản khác về việc giới thiệu một CBDC có thể truy cập toàn cầu

cùng với hệ thống dự trữ ngân hàng trung ương truy cập hạn chế. Ví dụ, trong

mơ hình của Barrdear và Kumhof (2016) và Kumhof và Noone (2018), các

ngân hàng sẽ có thể nắm giữ cả dự trữ và CBDC, trong khi các phi ngân hàng

chỉ có thể nắm giữ CBDC. Tỷ lệ chính của chính sách tiền tệ sẽ là lãi suất

thanh toán trên các dự trữ, trong khi lãi suất thanh toán trên CBDC sẽ được sử

dụng để kiểm soát nhu cầu đối với CBDC liên quan tới tiền gửi ngân hàng.

Thoạt nhìn, kịch bản này dường như cung cấp thêm các khả năng cho chính

sách tiền tệ theo CBDC. Tuy nhiên, theo một số giả định hợp lý, chúng ta tin

rằng kết quả thực tế sẽ giống với kịch bản ở trên, trong đó các tỷ lệ được trả

cho các ngân hàng và phi ngân hàng là khác nhau về trách nhiệm pháp lý

dưới hình thức CBDC.

Để xem tại sao lại như vậy, chúng ta hãy bắt đầu từ điểm của hai trách nhiệm

ngân hàng trung ương điện tử riêng biệt: dự trữ và CBDC - theo Barrdear và

Kumhof (2016). Các ngân hàng có thể nắm giữ cả dự trữ và CBDC như tài sản,

nhưng các tổ chức phi ngân hàng chỉ có thể nắm giữ CBDC. Để khẳng định

rằng điều này sẽ có trách nhiệm pháp lý như nhau với tỷ lệ khác biệt, chúng

ta đưa ra hai giả định để nắm giữ:

1. Cả hai hình thức tiền điện tử đều cung cấp cùng một tiện ích khơng

dùng tiền mặt, hoặc là rất giống nhau. Ví dụ, cả hai đều cung cấp các

dịch vụ giao dịch giống nhau cho các ngân hàng, điều đó có nghĩa là

các ngân hàng dễ dàng xóa số dư giữa họ với CBDC như với dự trữ.

Tương tự, cả dự trữ và CBDC sẽ được xử lý tương đương liên quan đến

các quy định như tỷ lệ bao phủ thanh khoản.

2. Ngân hàng trung ương sẵn sàng chuyển đổi bất kỳ hình thức tiền ngân

hàng trung ương nào sang hình thức khác, theo u cầu, miễn phí.

Trong các điều kiện này, theo quan điểm của ngân hàng, sự khác biệt duy

nhất giữa dự trữ và CBDC sẽ là lãi suất mỗi khoản phải trả. Các ngân hàng sẽ

không cần phải đồng thời nắm giữ cổ phiếu đệm của cả dự trữ và CBDC, vì họ

có thể tự do chuyển đổi giữa chúng, ví dụ chuyển đổi dự trữ sang CBDC tại

thời điểm mà người gửi tiền yêu cầu rút CBDC. Điều này có nghĩa là các ngân

hàng sẽ nắm giữ độc quyền bất kỳ tài sản nào trong số hai tài sản trả cho họ

mức lãi suất cao nhất. Nếu tỷ lệ thanh toán trên dự trữ lớn hơn tỷ lệ thanh

toán trên CBDC, điều này dẫn đến việc các ngân hàng chỉ nắm giữ dự trữ (ở tỷ

lệ cao hơn) và các tổ chức phi ngân hàng chỉ có thể nắm giữ CBDC. Kết quả

này thực tế giống hệt với kịch bản ở trên, trong đó các ngân hàng được trả

một tỷ lệ trên CBDC mà họ nắm giữ, trong khi các tổ chức phi ngân hàng phải

trả một tỷ lệ khác. Nếu tỷ lệ thanh toán dự trữ thấp hơn tỷ lệ thanh tốn trên

CBDC, thì các ngân hàng và phi ngân hàng sẽ chỉ nắm giữ CBDC, tương đương

với kịch bản trước đây của chúng ta trong đó một tỷ lệ duy nhất được trả cho

các ngân hàng và phi ngân hàng.

Do đó, trong chế độ tài sản kép này, giả sử khả năng chuyển đổi đối với các

loại tiền ngân hàng trung ương khác nhau, để tồn tại một lượng dự trữ khác

không, tỷ lệ dự trữ phải lớn hơn tỷ lệ trên CBDC.Giới hạn này sẽ không tồn tại

trong một khung tỷ lệ khác biệt cho một CBDC duy nhất, trong đó các ngân

12



hàng nhận được tỷ lệ được xác định bởi ngân hàng trung ương và khơng có

tùy chọn nào để kiếm được tỷ lệ trả cho các tổ chức phi ngân hàng.

Trong trường hợp nào hai giả định trên sẽ không được? Một khả năng hợp lý là

dự trữ và CBDC có chức năng khác nhau. Ví dụ, ở Anh, dự trữ hiện là phương

tiện thanh toán được chấp nhận cho hầu hết các liên ngân hàng và hệ thống

thanh toán quốc gia, và chúng ta giả định rằng họ sẽ tiếp tục với mục đích đó.

Tuy nhiên, có lẽ CBDC được giới thiệu dưới dạng mã thơng báo mã hóa trên

nền tảng sổ kế toán phân tán với cách sử dụng cụ thể, chẳng hạn như giải

quyết các giao dịch an tồn trong các thị trường tài chính cụ thể. Trong trường

hợp này, các ngân hàng sẽ có động cơ để nắm giữ cả dự trữ và CBDC. Tuy

nhiên, nếu tỷ lệ dự trữ cao hơn tỷ lệ trên CBDC, các ngân hàng vẫn muốn giữ

cổ phiếu tối thiểu của CBDC và chuyển đổi dự trữ sang CBDC tại thời điểm cần

thiết để giải quyết các giao dịch an toàn. Do đó, giả định thứ hai, dự trữ và

CBDC có thể chuyển đổi tự do tại ngân hàng trung ương là sai, từ đó chúng ta

xem xét CBDC và dự trữ như hai tài sản riêng biệt. Kumhof và Noone (2018)

khám phá các kịch bản mà cả hai giả định này đều không thể giữ.

7. Tiền điện tử

Mặc dù trọng tâm chính của bài viết này là một CBDC duy nhất có thể truy

cập tồn cầu và được sử dụng cho mục đích chính sách tiền tệ, nhưng có thể

thay thế bằng phương án sử dụng nhiều hình thức của tiền điện tử NHTW

nhưng mỗi loại có mục tiêu khác nhau. Đơn giản nhất trong số này là việc kết

hợp một loại tiền kỹ thuật số, phi lợi nhuận, “tiền điện tử” cùng với dự trữ của

ngân hàng trung ương.

Để rõ ràng hơn, ngân hàng trung ương ban hành hai hình thức CBDC đồng

thời và phân biệt chúng về mặt truy cập. Trên thế giới, dự trữ (hình thức đầu

tiên của CBDC) sẽ tiếp tục hoạt động như hiện tại, được sử dụng để thanh

tốn giữa các ngân hàng nhưng khơng thể được sử dụng để thanh tốn hàng

hóa, dịch vụ và tài sản trong nền kinh tế rộng lớn hơn. Nó cũng sẽ tiếp tục là

trung tâm của việc thiết lập chính sách tiền tệ (Boel, 2016). Tiền điện tử (hình

thức thứ hai của CBDC) sẽ khơng được sử dụng trong việc thiết lập chính sách

tiền tệ, mà là một phương tiện để thiết lập một hệ thống thanh toán an toàn

và hiệu quả.

Cần xem xét đến cách hai tài sản sẽ tương tác lẫn nhau. Như chúng ta đã lưu

ý trước đây, thông thường các ngân hàng trung ương cho phép chuyển đổi

miễn phí, ngang bằng, giữa các loại tài sản khác nhau (ví dụ: $100 dự trữ cho

$100 tiền mặt) và họ sẽ vẫn áp dụng điều này nếu họ đưa loại tài sản thứ ba

là CBDC vào bảng cân đối . Do đó, một CBDC tiền điện tử sẽ cần được cung

cấp hoàn toàn linh hoạt để đáp ứng nhu cầu với lãi suất cố định ở mức không.

Điều này đồng nghĩa với việc các ngân hàng có thể tự do thay thế giữa tiền

mặt, CBDC, và dự trữ. Ngân hàng trung ương có thể thiết lập quy mô tổng thể

của cơ sở tiền tệ, nhưng không trực tiếp cấu thành các trách nhiệm trong đó.

Đây là một tính năng trọng tâm của khả năng chuyển đổi mệnh giá của các

trách nhiệm ngân hàng trung ương ngay cả bây giờ: ngân hàng trung ương có

thể chọn bơm dự trữ vào hệ thống ngân hàng, nhưng nếu có sự gia tăng nhu

cầu đối với tiền giấy thì họ phải cho tăng tiền giấy trong khi dự trữ giảm, hoặc

nếu khơng thì dự trữ thêm, mở rộng cơ sở tiền tệ. Nhu cầu tiền giấy tăng lên

mà không được đáp ứng và giá của một tờ tiền thay đổi so với giá dự trữ, phá

vỡ sự ngang giá giữa các loại tiền ngân hàng trung ương khác nhau và làm

suy yếu sự ổn định tiền tệ



13



Nhu cầu về tiền điện tử đóng vai trò là chức năng của các khoản lãi suất khác

trong nền kinh tế do những thay đổi về tỷ lệ thanh toán trên các tài sản khác

làm thay đổi lợi tức tương đối của tiền điện tử. Những thay đổi trong nhu cầu

có thể thúc đẩy dòng chảy giữa tiền gửi và tiền điện tử. Theo cách này, nhu

cầu đối với tiền điện tử có thể sẽ ngược lại với các chính sách. Trong trường

hợp thắt chặt chính sách tiền tệ, việc tăng lãi suất thanh toán dự trữ sẽ dẫn

đến tăng lãi suất thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng và do đó làm giảm lợi

nhuận tương đối của tiền điện tử. Điều này sẽ làm cho tiền điện tử trở nên

kém hấp dẫn và dẫn đến sự thay thế từ CBDC thành tiền gửi ngân hàng.

Ngược lại, mở rộng chính sách tiền tệ sẽ có tác động ngược lại, làm cho tiền

điện tử tương đối hấp dẫn hơn và dẫn đến sự thay thế từ tiền gửi vào thành

CBDC. Những dòng chảy vào và ra của một CBDC tiền điện tử có thể tạo ra

nguồn bất ổn trong lĩnh vực ngân hàng. Chúng cũng có thể ảnh hưởng đến

mức độ thanh khoản trên bảng cân đối ngân hàng và chi phí/khả năng của

quỹ ngân hàng, có thể làm giảm bớt sự vơ ý của việc thay đổi chính sách, nới

lỏng các điều kiện tín dụng, khi mà chính sách đang thắt chặt hoặc ngược lại.

8. Câu hỏi nổi bật và nghiên cứu trong tương lai

Những tài liệu về CBDC ngày càng nhiều, nhưng đây vẫn là một chủ đề nghiên

cứu mới, và có một loạt các câu hỏi vẫn cần được khám phá. Bài viết này đã

nghiên cứu các lợi ích mà CBDC mang lại cho chính sách tiền tệ và nhấn

mạnh một số nguy cơ mà CBDC có thể gây ra cho sự ổn định tài chính. Việc

tìm hiểu về các yếu tố quyết định và bản chất của ngành thương mại này là

rất quan trọng. Nếu CBDC thay thế cho tiền gửi ngân hàng thương mại thì

điều đó có thể cải thiện lĩnh vực tiền tệ, nhưng, điều đó cũng làm tăng rủi ro

từ khu vực ngân hàng.

Bên cạnh đó, điều quan trọng là tìm cách giảm thiểu rủi ro ổn định tài chính

của CBDC và để CBDC có thể được giới thiệu một cách trình tự, khơng gây bất

ổn cho ngành ngân hàng. Các cơ chế cần được thiết kế để tạo ra sự tương tác

giữa tiền gửi và CBDC, đồng thời ngăn chặn việc chuyển từ tiền gửi đến CBDC

một cách đột ngột.

Một lĩnh vực khác cần quan tâm khi phân tích lợi ích chi phí của CBDC là cơng

nghệ. Hiện tại, nhiều người cho rằng công nghệ sổ cái phân tán quá non nớt

và tốn nhiều năng lượng để thay thế cho hệ thống thanh tốn quy mơ lớn hiện

có. Tuy nhiên, cơng nghệ đang phát triển mạnh nên hứa hẹn sẽ có mơt ngày

CBDC có thể truy cập rộng rãi.

Cùng với việc thực hiện chức năng của công cụ tiền tệ hiện có, CBDC cũng có

khả năng làm thay đổi công cụ này. Bài viết này đã xem xét tác động của

CBDC đối với chính sách tiền tệ, cụ thể là thay đổi tỷ lệ chính sách của ngân

hàng trung ương và mua tài sản. CBDC và công nghệ hiện đại trong tương lai

có thể sẽ làm phát sinh các công cụ tiền tệ chưa được xem xét.

Lĩnh vực nghiên cứu này cần được phát triển thành những nghiên cứu định

lượng về CBDC. Điều này rất phức tạp do thiếu dữ liệu về CBDC. Các câu hỏi

cần được trả lời là: Nhu cầu đối với CBDC là bao nhiêu? Nhu cầu này sẽ biến

động như thế nào? Điều gì sẽ tác động đến lãi suất thay thế giữa CBDC và

tiền gửi ngân hàng? Và CBDC sẽ làm gì để ổn định tình trạng lãi suất và chênh

lệch tín dụng?

9. Nhận xét

CBDC có thể được coi là tiền điện tử và đây là khái niệm quen thuộc với các

nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách. CBDC có thể truy cập tồn cầu,

chính sách tiền tệ có thể hoạt động theo cách tương tự như hiện tại, truyền

dẫn nền kinh tế thông qua việc thay đổi lãi suất đối với số dư của CBDC và



14



tổng hợp số lượng tiền đó. Bản chất của CBDC tác động lên cơ chế truyền dẫn

tiền tệ là không chắc chắn, nhưng có thể là CBDC sẽ tăng cường cơ chế

truyền tiền tệ, cho một sự thay đổi nhất định trong các cơng cụ chính sách.

Bài viết này được xem là một trong những tài liệu đầu tiên về CBDC, nên còn

nhiều câu hỏi cơ bản vẫn chưa được trả lời như những tác động của CBDC đến

lĩnh vực tài chính, đến sự ổn định tài chính và của nền kinh tế. Việc quan

trọng cần làm đưa ra chính sách để giới thiệu/hướng dẫn về CBDC.

Tài liệu tham khảo

Bech, M. L., & Garratt, R. (2017). Central Bank Cryptocurrencies. Bank for International Settlements.

Bjerg, O. (2017). Designing New Money: the policy trilemma of central bank digital currency.

Copenhagen Business School.

Broadbent, B. (2016). Central banks and digital currencies (speech). Bank of England.

Carney, M. (2018). The future of money. Speech to the Inaugual Scottish Economics Conference.

Danezis, G., & Meiklejohn, S. (2016). Centrally Banked Cryptocurrencies. University College

London.

Fung, B. S., & Halaburda, H. (2016). Central Bank Digital Currencies: A Framework for Assessing

Why and How. Bank of Canada Staff Discussion Paper.

Kimball, M., & Agarwal, R. (2015). Breaking Through the Zero Lower Bound. IMF Working Paper

(15/224).

Koning, J. (2014). Fedcoin. https://jpkoning.blogspot.com/2014/10/ fedcoin.html.

Mersch, Y. (2017). Digital Base Money: an assessment from the ECBs perspective. Speech at the

Farewell ceremony for Pentti Hakkara

Motamedi, S. (2014). Will Bitcoin Ever Become Money? A path to decentralized central banking.

http://tannutuva.org/blog/2014/7/



21/will-bitcoins-ever-become-money-a-path-to-decentralized



-central-banking.

Meaning, J., Dyson, B., Barker, J., & Clayton, E. (2018). Broadening narrow money: monetary policy

with a central bank digital currency.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các lãi suất khác nhau trên CBDC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×