Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng cân đối kế toán CBDC

Bảng cân đối kế toán CBDC

Tải bản đầy đủ - 0trang





Các tổ chức phi ngân hàng nắm giữ tiền gửi, trái phiếu chính phủ, vốn

chủ sở hữu ngân hàng và tiền giấy

Hình 1. Sự chuyển dịch các thành phần trong BCĐKT của nền kinh tế CBDC

Ngân hàng trung ương



Tài sản



Nguồn vốn



Tài sản



Nguồn



Tiền giấy



Tiền giấy



Trái phiếu



Tài sản



Nguồn vốn



Trái phiếu

Dự trữ



Trái phiếu



CBDC

CBDC



Ngân hàng thương mại



Tài sản







Nguồn vốn



Nợ phải trả của bảng cân đối kế tốn,

thành phần phi ngân hàng có khoản

Tiền gửi

Nợ vay

Nợ vay

Tiền gửi

vay nợ từ ngân hàng, vốn chủ sở hữu

dương (Tài sản > Nợ phải trả)

Trái phiếu

Trái phiếu

Vốn chủ sở hữu

Trường hợp 2: Nền kinh tế có CBDC truy cập

Vốn chủ sở hữu

CBDC

Dự trữ

tồn cầu

• Tiền NHTW gồm: CBDC và tiền giấy.

• CBDC thay thế dự trữ và phần lớn tiền mặt trong nền kinh tế. Tiền giấy

tồn tại ở mức duy trì khá

Khu vực tư nhân phi ngân hàng

nhỏ hơn so với CBDC.

Goodfriend (2016), Kimball và

Tài sản

Nguồn vốn

Tài sản

Nguồn vốn

Agarwal (2015) và Rogoff (2016)

cho rằng thay tiền mặt bằng

Tiền gửi

Tiền gửi

Nợ vay

Nợ vay

CBDC sẽ giúp dễ dàng đặt tỷ lệ

Trái phiếu

âm trên tiền NHTW và do đó

Trái phiếu

giảm bớt sự phụ thuộc vào lãi

CBDC

Vốn CSH phi NHsuất. Tuy nhiên, không nhất thiết

Vốn CSH phi NH

Tiền giấy

Tiền giấy

loại bỏ hoàn toàn tiền giấy ra

Vốn CSH NH

Vốn CSH NH

khỏi nền kinh tế bởi vì tiền giấy

và CBDC hỗ trợ cho nhau. Hai loại tiền sẽ có 2 chính sách riêng dựa trên giá

trị của từng loại.



5



Sự khác nhau của nền kinh tế có CBDC đó là khu vực tư nhân phi ngân hàng

sẽ có thể được nắm giữ một phần hay toàn bộ tiền gửi, tiền giấy, trái phiếu

dưới dạng CBDC. Dựa vào sự thay thế từ mỗi tài sản sang CBDC thì sẽ tác

động đến quy mơ và thành phần trên bảng cân đối kế toán của các ngành

khác nhau.

Khu vực phi ngân hàng thay đổi tiền giấy sang CBDC là chuyển thành phần nợ

phải trả NHTW và các tài sản tư nhân. Điều này có thể ảnh hưởng “đặc quyền

thu lợi từ phát hành tiền”.11 Tuy nhiên, việc việc thay đổi trên còn ảnh hưởng

nhiều hơn như vậy. Điều này sẽ được thảo luận phần tiếp theo.

3.1. Thay đổi tổng cung CBDC

NHTW tăng tổng cung bằng cách mua tài sản của khu vực tư nhân hoặc ngân

hàng thương mại bằng CBDC mà NHTW phát hành ra.

Dựa vào bảng trên ta nhận thấy sự thay đổi như sau:

• ương

NHTW: thay đổi khuynh hướng tăng tổng tài sản

Ngân hàng trung

• Khu vực tư nhân: không thay đổi tổng tài sản nhưng thay đổi thành

phần trong tài sản.

CBDC là loại tài sản khá an tồn vì thế khi biến động hay khủng hoảng tài

Hình 2. Sự chuyển dịch các thành phần kinh tế trước và sau khi mua bán tài sản chính diễn ra thì nhu cầu CBDC

sẽ tăng cao như 1 kênh trú ẩn tài

sản lý tưởng. Như vậy, NHTW cần

có biện pháp để đáp ứng nhu cầu

L

L

A

A

đó của thị trường. NHTW có thể

Tiền giấy

Tiền giấy

sẽ phải mở rộng phạm vi nhận

Trái phiếu

Trái

phiếu

tài sản đó, có nghĩa là khơng chỉ

CBDC

CBDC

nhận trái phiếu mà có thể nhận

Trái phiếu

CBDC

thêm các tài sản khác có trong

bảng cân đối kế tốn của tư

Khu vực tư nhân phi ngân hàng

nhân. NHTW cần xem xét các

yếu tố như tài sản đủ điều kiện

L

L

A

A

mua hay không, khả năng chấp

nhận rủi ro, mục tiêu thay đổi

Tiền gửi

Nợ vay

Nợ vay

Tiền gửi

thành phần nào trên bảng cân

đối kế toán, mục tiêu mở rộng

Trái phiếu

Trái phiếu

chính sách tiền tệ của NHTW.

CBDC

CBDC



Tiền giấy



Vốn CSH phi NH



Vốn CSH NH



Tiền giấy



Vốn CSH phi NH



Vốn CSH NH



3.2. Thay đổi CBDC và tiền gửi



11 seigniorage



6



Hình 3 thể hiện sự tương tác giữa CBDC và tiền gửi trong ngân hàng thương

mại (NHTM). Sau khi khách hàng rút tiền dưới dạng CBDC tại NHTM thì BCĐKT

của NHTM giảm CBDC (cột

Hình 3. Sự thay đổi các thành phần trên BCĐKT trước và sau khi rút tiền gửi CBDC

A) và giảm tiền gửi (cột L).

Ngân hàng thương mại

Như vậy, tổng tài sản

NHTM giảm. Đồng thời, tại

A

L

A

L

BCĐKT của khách hàng,

CBDC tăng và tiền gửi

Tiền gửi

Nợ vay

Tiền gửi

Nợ vay

giảm (cột A). Tổng tài sản

của khách hàng không

Trái phiếu

Trái phiếu Vốn chủ sở hữu

thay đổi.

CBDC

Vốn chủ sở hữu

3.2.1. Rủi ro phân tán

CBDC

của ngân hàng

Như trình bày ở trên, khi

khách hàng rút tiền, CBDC

Khu vực tư nhân phi ngân hàng

và tiền gửi tại NHTM sẽ

A

L

A

L

giảm. Theo đó, CBDC rút

ra sẽ chuyển vào tài khoản

Tiền gửi

CBDC phi ngân hàng tại

Tiền gửi

Nợ vay

Nợ vay

NHTW12. Điều này khiến

CBDC

CBDC

quy mô tổng tài sản của

ngân hàng bị giảm đi. Đây

Trái phiếu

Trái phiếu

Vốn CSH phi NH

Vốn CSH phi NHđược xem là thách thức lớn

Tiền giấy

Tiền giấy

để duy trì tính bền vững

Vốn CSH NH

Vốn CSH NH

của NHTM. Tuy nhiên,

trong ngắn hạn và trung

hạn, NHTW vẫn kiểm sốt được thơng qua thiết kế CBDC. Đó là CBDC khơng

thực hiện được tất cả các chức năng như tiền gửi ngân hàng, trong đó có thấu

chi. NHTM cũng chủ động đưa ra những chính sách lãi suất tiền gửi để thu hút

khách hàng trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay.

3.2.2. Rủi ro vận hành CBDC

Broadbent (2016) và Carney (2018) cho rằng NHTM sẽ đối mặt với thách thức

thanh khoản trong bối cảnh khách hàng có thể nhanh chóng rút tiền tài khoản

đề đổi sang CBDC. Một số nhận định được Jack Meaning và cộng sự (2018)

đưa ra như: khách hàng phải thông báo thời gian rút tiền vào trước đó theo

quy định, khơng trả lãi cho số dư vượt quá hạn mức được cấp, áp dụng phí

cho tài khoản có số dư lớn bất thường. Ngồi ra, thiết kế tính năng có phần

hạn chế hơn tiền gửi và sự quản lý chặt chẽ của NHTW đối với CBDC cũng làm

giảm mức độ hấp dẫn của CBDC.

Trên thực tế, độ nhạy của người nắm giữ tài sản của chính họ rất quan trọng.

Khi thấy rủi ro thực sự hoặc chỉ là rủi ro được phán đoán hoặc cảm nhận từ tài

khoản tiền gửi, những người có độ nhạy cảm cao sẽ tìm cách thay đổi tài sản

khác an toàn hơn. Một khi CBDC được phát hành thì động thái đầu tiên của

những người này là tìm cách đổi tiền gửi tài khoản sang CBDC càng nhanh

càng tốt. Do đó, điều mà NHTM làm hiện tại đó là củng cố lòng tin của khách

hàng như kiểm sốt chặt chẽ đầu ra tín dụng, đưa ra quy định kiểm sốt

thanh khoản hiệu quả và có chính sách bảo hiểm tiền gửi hợp lý.

4. CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TIỀN TỆ



12 xem Broadbent (2016)



7



Nội dung quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là việc cung ứng tiền cho nền

kinh tế. Việc cung ứng tiền có thể thơng qua con đường tín dụng, cũng có thể

thơng qua hoạt động của thị trường mở ( mua bán giấy tờ có giá), thị trường

hối đối ( mua bán ngoại tệ) và để điều tiết mức tiền cung ứng, ngân hàng

Trung ương các nước sử dụng các công cụ khác nhau như lãi suất, tỷ suất, dự

trữ bắt buộc…. Vì vậy sự tác động cụ thể của CBDC sẽ tác động về chính sách

tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến con đường của chính sách kinh tế thực như thế nào.

Tiếp theo sẽ thảo luận về 3 cơ chế truyền tiền tệ: Đầu tiên là cài đặt các cơng

cụ chính sách ( đó là lãi suất hoặc số lượng tiền điện tử NHTW trên thị trường

thứ cấp); Thứ hai, thông qua các thay đổi về giá và lãi suất CBDC với giá và lãi

suất của tài sản khác của nền kinh tế; Cuối cùng, thông qua sự thay đổi

chuyển từ thị trường tài chính sang nền kinh tế thực được chia thành các kênh

truyền tải bao gồm kênh lãi suất thực, kênh cho vay của ngân hàng và kênh

kỳ vọng/tín hiệu, trong số các kênh khác.

Với sự thay đổi biên của mỗi chính sách, CBDC sẽ mang đến một loạt các thay

đổi đối với cấu trúc trạng thái ổn định của nền kinh tế. Chúng tôi cũng sẽ tập

trung vào các công cụ chính sách phổ biến nhất hiện có là (1) lãi suất danh

nghĩa ngắn hạn và (2) nới lỏng định lượng QE. Điều này cung cấp một lăng

kính rõ ràng hơn để qua đó xem sự thay đổi biên đối với cơ chế truyền tải

chính sách hồn tồn là hệ quả của một CBDC có thể truy cập tồn cầu:

4.1 Điều chỉnh trên trị trường giai đoạn 1:

4.1.1 Tỷ giá qua đêm trên Tiền Ngân hàng trung ương:

Các ngân hàng trung ương nhắm mục tiêu lãi suất trong thị trường thứ cấp

cho tiền ngân hàng trung ương (dự trữ) và thiết lập nguồn cung sao cho thị

trường bù trừ ở mức đó. Để điều chỉnh NHTW phải thiết lập một sàn giao dịch

cho thị trường, lãi suất qua đêm là lãi suất khả dụng thấp nhất và do đó, nó

chỉ dành cho các tổ chức đáng tin cậy nhất (sẽ thấp hơn lãi suất mục tiêu).

Tương tự vậy, một mức trần có thể được thiết lập bằng cách cho vay tiền

NHTW hoàn toàn co giãn với tỷ lệ cao hơn tỷ lệ mục tiêu thông qua một cơ sở

cho vay. Cấu trúc này là hệ thống hành lang.

Trong hệ thống sàn, số lượng dự trữ được mở rộng để thị trường thanh toán

theo tỷ lệ thanh toán trên số dư dự trữ và tất cả số dư dự trữ được trả theo tỷ

lệ đó. Do đó, tỷ lệ phù hợp với chính sách khơng còn là tỷ lệ thị trường thứ cấp

đối với tiền ngân hàng trung ương, mà là tỷ lệ lãi suất dự trữ. Sàn được tạo ra

bằng cách trả lãi cho các khoản dự trữ khác xa với sự ràng buộc hoàn toàn.

Điều này phần lớn được quy cho tính chất cấp bậc của việc truy cập vào tiền

ngân hàng trung ương điện tử. Nó cũng có thể thay đổi số lượng tổng hợp của

CBDC như một cơng cụ độc lập (hoạt động) để kích thích nền kinh tế.

4.1.2 Cấu trúc kỳ hạn của CBDC:

Hiện tại, thời hạn cho vay dự trữ được giới hạn trong các đường ngắn hạn

tương đối. Tuy nhiên, bản chất rộng lớn hơn của thị trường đối với một CBDC

có thể truy cập toàn cầu sẽ dẫn đến một loạt các động cơ cho vay và vay

CBDC khác nhau, và do đó, nhiều khả năng CBDC được cho vay với thời hạn

dài hơn dự trữ truyền thống và cho rộng hơn phạm vi mục đích. Các khoản

vay CBDC này sẽ tạo ra cấu trúc kỳ hạn đối với tiền của ngân hàng trung

ương dựa trên kỳ vọng về lãi suất qua đêm trong suốt thời hạn của khoản vay

và phí bảo hiểm bù cho các đặc điểm như rủi ro mặc định. Tất cả điều này có

nghĩa là bằng cách hướng dẫn những kỳ vọng của thị trường cho con đường

chính sách trong tương lai, các ngân hàng trung ương có thể thay đổi cấu trúc

kỳ hạn của CBDC, sau đó sẽ trực tiếp kiểm soát lãi suất cho bất kỳ hợp đồng

nào được quy định trong CBDC.



8



4.1.3 Tỷ lệ phi CBDC và cấu trúc kỳ hạn mở rộng:

Như hiện tại, Quá trình kinh doanh chênh lệch giá có nghĩa là những thay đổi

về tỷ lệ trên CBDC sẽ chuyển qua tỷ lệ trên các tài sản khác trong nền kinh tế.

Về bản chất, điều mà người ta mong đợi sẽ thấy là lãi suất thị trường của

CBDC sẽ là lãi suất phi rủi ro về mặt lý thuyết. Giao dịch này có thể được thúc

đẩy theo một số cách và khơng cần phải liên tục, nhưng có thể thay đổi theo

thời gian và, như Friedman (1960) đưa ra, nó có thể là một chức năng của

chính CBDC .

Hậu quả ban đầu của một CBDC có thể truy cập tồn cầu có thể là lãi suất

tiền gửi của các ngân hàng thương mại sẽ cao hơn lãi suất trả cho CBDC. Với

một CBDC có thể truy cập tồn cầu, các ngân hàng trung ương sẽ sẵn sàng

cung cấp cho các tổ chức phi ngân hàng bên ngoài, một lựa chọn cạnh tranh

để cung cấp phương tiện thanh toán. Với lựa chọn bên ngoài như vậy, là một

ngân hàng thương mại để thử và trả ít hơn lãi suất chính sách đối với các

khoản tiền, người gửi tiền không phải là ngân hàng có thể rút CBDC để đổi lấy

số dư tiền gửi của họ. Thay đổi lớn về cấu trúc cho ngành ngân hàng có thể

gây ra hậu quả cho việc cung cấp tín dụng và mơ hình tài trợ của các ngân

hàng. Phương tiện thanh tốn khơng rủi ro dưới hình thức CBDC có thể đóng

vai trò kỷ luật đối với các ngân hàng thương mại vì giờ đây họ phải thể hiện sự

an toàn để cạnh tranh với dịch vụ của CBDC, hoặc phải đối mặt với chi phí tài

trợ cao hơn.

4.2 Điều chỉnh trên trị trường giai đoạn 2: truyền vào thị trường tài

chính.

Cùng với khả năng thay đổi cấu trúc lãi suất trong nền kinh tế, có một số tính

năng của mơ hình CBDC được nêu ra trước đó có thể ảnh hưởng đến tốc độ và

mức độ thơng qua giữa các thay đổi về tỷ lệ chính sách và các tỷ lệ khác. Việc

này đưa ra một lựa chọn bên ngoài những người từng chỉ giữ tiền gửi ngân

hàng thương mại. Phân bổ đầy tư để tận dụng tối đa lợi nhuận tương đối cao

hơn, tạo ra dòng chảy tài chính tài sản giữa hai tài sản. Nếu lãi suất chính

sách được thanh tốn trên CBDC tăng thì điều này có thể dẫn đến nhu cầu

tiền gửi ngân hàng giảm, trong khi nếu lãi suất chính sách bị cắt giảm, điều

này có thể đẩy nhu cầu từ CBDC vào tiền gửi ngân hàng.

Các tổ chức nhận tiền gửi tham gia vào ngân hàng quan hệ tập trung vào

khách hàng có thể sẽ ít bị tổn thương hơn với dòng tiền gửi ra ngồi so với các

khu vực của thị trường cạnh tranh hoàn toàn về giá cả. Một khi ngân hàng

trung ương đưa ra một lựa chọn bên ngoài, và trước những thay đổi về cấu

trúc sẽ giúp việc chuyển đổi tài khoản trở nên dễ dàng hơn.

Cuối cùng, việc có sự thay đổi về tốc độ chuyển từ thay đổi lãi suất chính sách

sang thay đổi lãi suất tiền gửi hay không sẽ phụ thuộc vào cách các ngân

hàng phản ứng. Hai điều chúng ta quan tâm ở đây là: Thứ nhất, những thay

đổi lớn hơn về tiền gửi và lãi suất bán buôn cho một thay đổi nhất định trong

tỷ lệ chính sách cũng có nghĩa là tác động lớn hơn đến chi phí tài trợ của các

ngân hàng, thứ hai một CBDC có thể truy cập tồn cầu cũng có thể cho phép

cạnh tranh lớn hơn trong việc cung cấp tín dụng. Điều này làm tăng độ nhạy

của cả chi phí tài trợ và lãi suất cho vay đối với những thay đổi trong lãi suất

chính sách có thể hành động để củng cố kênh cho vay của ngân hàng mà

chúng ta sẽ thảo luận thêm trong phần tiếp theo.

4.3 Điều chỉnh trên trị trường giai đoạn 3: truyền vào nền kinh tế.

Có thể gây ra lãi suất chỉ là một bước trung gian trong cơ chế truyền tiền tệ;

mục tiêu cuối cùng của những thay đổi trong chính sách là hướng dẫn nền



9



kinh tế thực sự. Rõ ràng nhất trong số này là kênh lãi suất thực, nhưng kênh

dòng tiền và kênh cho vay của ngân hàng cũng phụ thuộc vào những thay đổi

về lãi suất danh nghĩa hoặc lãi suất thực. Và CBDC có thể truy cập tồn cầu có

khả năng tăng mức độ thay đổi lãi suất cho một thay đổi nhất định trong tỷ lệ

chính sách phục vụ cho việc tăng cường sức mạnh của tất cả các kênh này,

cho một thay đổi tỷ lệ chính sách.

Kênh tỷ giá hối đối có thể trở nên nhạy cảm hơn với sự thay đổi của tỷ lệ

chính sách, vì chênh lệch quốc tế về lãi suất thị trường sẽ mở rộng hơn nữa.

Đối với lập luận logic đằng sau điều này, hãy nghĩ đến một điều kiện tương

đương lãi suất chưa được khám phá (UIP) trong đó hai mức lãi suất quan trọng

là lãi suất trái phiếu trong mỗi loại tiền tệ.

Sự cạnh tranh về chi phí và nhạy cảm hơn về lãi suất chính sách thực tế là lãi

suất tiền gửi hiện cao hơn lãi suất chính sách có thể làm giảm biên lãi ròng

của ngành ngân hàng, trong số những điều khác có thể dẫn đến tỷ lệ thấp

hơn; điều này có nghĩa là vốn ngân hàng tăng với tốc độ chậm hơn, hạn chế

khả năng cho vay của các ngân hàng và do đó làm suy yếu kênh cho vay của

ngân hàng. Giảm quy mô bảng cân đối kế tốn tổng hợp của ngân hàng. Viêc

chính là ngân hàng tham gia chủ yếu tạo ra tiền, một phần quan trọng kênh

cho vay thơng qua hình thức tiền gửi mới, hiệu lực tạo ra sức mua. Có thể

Ngân hàng sẽ vay bằng phát hành tiền gửi chọn thay thế để cho vay CBDC.

Việc cân nhắc vay và cho vay của ngân hàng giữa chọn tiền gửi và CBDC rất

có thể sẽ tác động mạnh hơn vào nền kinh tế mà chủ yếu là lãi suất chính

sách. Như vậy CBDC ngụ ý rằng lãi suất chính sách cần thay đổi ít để ổn định

chu kỳ.

5. Nới lỏng định lượng với CBDC:

Về thực tế, NHTW mua tài sản của các khu vực tư nhân bằng phát hành mới

tiền NHTW và bơm một lượng tiền vào nền kinh tế gọi là nới lỏng định lượng

QE. Tuy nhiên với các tổ chức phi ngân hàng phải thông qua ngân hàng làm

trung gian và nếu là một CBDC truy cập toàn cầu sẽ loại bỏ việc này khi có

ghi nhận trách nhiệm trên bảng cân đối cho người bán cuối cùng. QE sẽ có thể

thực hiện trực tiếp một cách độc lập, thiết lập một trong những kênh truyền

QE đi là truyền tải các lý thuyết chính mua tài sản là kênh tái cân bằng danh

mục đầu tư, đồng nghĩa là sẽ có sự thay đổi nếu có sự xung đột thị trường làm

nguồn cung hay đổi tương đối sẽ gây ra hậu quả cho giá cả và sản lượng.

Nếu các ngân hàng phản ứng với việc nắm giữ thêm dự trữ bằng cách thoái

vốn bằng các tài sản lỏng, an toàn, tương tự, họ có thể bán trái phiếu chính

phủ cho khu vực tư nhân phi ngân hàng. Điều này sẽ bù đắp cho việc giảm

nguồn cung trái phiếu chính phủ cơng khai và chống lại một số tác động chính

sách dự định, CBDC có thể tăng cường tác động và ngân hàng có thể tăng kỳ

hạn nhằm tăng quy mô bảng cân đối. Như vậy QE sẽ tạo ra sự thay đổi dẫn

đến kênh khuếch đại tái cân bằng danh mục truyền thống,phản ứng chi phối

ngân hàng thì CBDC sẽ loại bỏ hiệu ứng tái cân bằng thứ cấp này và giảm sức

mạnh QE. Vì vậy CBDC được kỳ vọng là dẫn đến nhiều hiệu quả QE hơn.

6. Các lãi suất khác nhau trên CBDC

Trong phần lớn của bài viết, CBDC cho dù được nắm giữ bởi ai đều được xem

là trả cùng một tỷ lệ lãi suất. Tuy nhiên, có thể có lợi khi trả các tỷ lệ khác

nhau trên CBDC tùy thuộc vào người nắm giữ nó.

Ví dụ, xem như chủ thể nắm giữ CBDC gồm 2 loại là các ngân hàng và phi

ngân hàng. Trong đó, các ngân hàng tạo ra tiền và sức mua trong nền kinh tế

(McLeay et al., 2014), và chúng ta mong đợi họ sẽ tiếp tục tạo ra đơn vị biên



10



của tiền tệ ngay cả khi CBDC có thể truy cập tồn cầu. Việc trả các tỷ lệ khác

nhau sẽ cho phép chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến các ngân hàng, từ đó tạo

ra tín dụng và tiền, mà đối với các phi ngân hàng là không thể làm được.

Hạn chế mà các ngân hàng phải đối mặt, do quy định và là kết quả của

chuyển đổi trưởng thành mà họ thực hiện, họ phải nắm giữ một phần nhỏ tài

sản lưu động trong bảng cân đối kế toán dưới dạng như tiền ngân hàng trung

ương (hiện tại là dự trữ) hoặc tương tự. Chi phí cơ hội để nắm giữ các tài sản

này, dưới dạng thanh khoản tài sản thường trả tỷ lệ hồn vốn thấp hơn so với

các lựa chọn khác, ít thanh khoản hơn như cho vay. Các ngân hàng có thể

tăng thu nhập lãi bằng cách giảm tối đa tài sản lưu động mà họ nắm giữ,

nhưng điều này làm tăng rủi ro gặp vấn đề về thanh khoản trong tương lai.

Trả một tỷ lệ duy nhất cho CBDC có thể truy cập tồn cầu có thể làm trầm

trọng thêm vấn đề này. Trong lịch sử, lợi nhuận từ tiền ngân hàng trung ương

ít nhất đã vượt quá lãi suất mà các ngân hàng phải trả cho các khoản nợ ngắn

hạn như tiền gửi thanh tốn (xem Hình 6). Tuy nhiên, như đã thảo luận ở trên,

CBDC có nghĩa là lãi suất tiền gửi cao hơn tỷ lệ chi trả cho CBDC, do đó các

ngân hàng sẽ lỗ ròng trên tất cả các CBDC được nắm giữ. Điều này có thể làm

giảm toàn bộ biên tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận chung, và tăng cường

khuyến khích để mức tối thiểu của tiền ngân hàng trung ương.

Phân biệt lãi suất trả cho ngân hàng và phi ngân hàng gợi ý một giải

pháp cho vấn đề này. Nếu tỷ lệ thanh toán trên các bảng cân đối CBDC do các

ngân hàng nắm giữ lớn hơn tỷ lệ thanh toán cho các tổ chức phi ngân hàng,

thì sẽ làm tăng lợi nhuận mà ngân hàng nhận được trên phía tài sản của bảng

cân đối kế tốn mà khơng nhất thiết phải tăng chi phí tiền gửi cho bên trách

nhiệm, do đó làm giảm chi phí tổng thể của việc giữ thanh khoản. Từ phía

người gửi tiền, nếu lợi nhuận trên CBDC (lãi suất phi rủi ro) khơng thay đổi, thì

lợi nhuận họ thu được từ tiền gửi, điều chỉnh rủi ro và các yếu tố khác cũng

không cần phải thay đổi.

Sự chênh lệch giữa lãi suất trả cho ngân hàng và phi ngân hàng có thể được

coi như một số dương, cố định, mức độ thay đổi với hai tỷ lệ là như nhau.

Trong trường hợp này sẽ tác động ổn định đến bảng cân đối của ngân hàng,

còn hậu quả của chính sách tiền tệ vượt ra ngồi trường hợp chuẩn sẽ bị hạn

chế. Ngồi ra, sự chênh lệch có thể thay đổi theo thời gian; điều này sẽ có ý

nghĩa đối với chính sách tiền tệ và sự ổn định tài chính đầy tiềm năng. Khi sự

chênh lệch gia tăng có thể làm giảm chi phí nắm giữ mức độ thanh khoản cho

một ngân hàng, từ đó sẽ cải thiện vị trí bảng cân đối kế tốn. Từ đó, sẽ xảy ra

kích thích tiền tệ thơng qua kênh bảng cân đối ngân hàng, hoặc thông qua

kênh cho vay của ngân hàng. Ngay cả khi các ngân hàng vượt qua một số

hoặc tất cả sự gia tăng trong việc hoàn trả tài sản của họ cho người gửi tiền

dưới dạng lãi suất tiền gửi cao hơn, điều này sẽ được kích thích thơng qua

dòng tiền. Do đó, sự chênh lệch giữa tỷ lệ CBDC của ngân hàng và CBDC phi

ngân hàng sẽ cung cấp thêm một hướng cho lập trường của chính sách tiền

tệ.

Cần lưu ý rằng các ngân hàng đã được hưởng lợi từ một hình thức khác biệt

tương tự theo mơ tả ở đây: họ có quyền truy cập vào bảng cân đối của ngân

hàng trung ương với các điều khoản khác nhau đối với công chúng. Trong thực

tế, sự khác biệt thậm chí còn rõ ràng hơn mơ hình hiện tại: các ngân hàng

nhận được tiền lãi từ tiền ngân hàng trung ương (khoản dự trữ) trong khi các

tổ chức phi ngân hàng lại không được (chỉ tiền mặt), do đó chức năng và tiện

ích của hai hình thức tiền ngân hàng trung ương là khác nhau. Mặc dù việc trả



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng cân đối kế toán CBDC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×