Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2). Mô tả dây chuyền công nghệ sản xuất của nhà máy

2). Mô tả dây chuyền công nghệ sản xuất của nhà máy

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Công đoạn đồng nhất liệu.

Phối liệu ở cyclone lắng được tháo vào cyclone sấy theo kiểu tháo chéo. Từ

tháp đồng nhất, phối liệu được sấy sơ bộ đến gần 10000 trước khi đi vào lò nung. Để

có một sản phẩm Clinker ổn định, chúng ta thấy nguyên liệu phải qua ít nhất 4 lần

đồng nhất.



 Nhiên liệu.

Than cám nhập về sau đó được nghiền mịn, qua hệ thống phân ly khí động

chuyển lên két chứa. Đáy của két than mịn có tiếp liệu vít xoắn, nhờ điều chỉnh động

cơ 1 chiều mà điều chỉnh dễ dàng lượng than cấp vào lò. Khi than mịn được cho vào

đường ống, ở đây có 1 quạt cao áp thổi than mịn vào lò qua hệ thống vòi phun. Dầu

MFO được bơm lên bể chứa, từ bể chứa dầu được vận chuyển bằng hệ thống đường

ống qua hệ thống sấy (nhờ hơi nước của lò hơi ) rồi được bơm qua van điều chỉnh vào

lò bởi hệ phun dầu.



 Cơng đoạn nung Clinker.

Lò nung Clinker là loại lò quay bao gồm các hệ thống chính: Hệ thống sấy 5 tầng, lò

nung, hệ thống làm mát. Lò nung có dạng hình trụ tròn đường kính từ 3-5 mét và dài từ

30 – 80 mét tùy thuộc vào cơng suất lò. Vỏ lò được làm bằng thép chịu nhiệu, bên trong

có lót một lớp vật liệu chịu lửa. Góc nghiêng từ 3-5% để tạo độ nghiêng cho dòng

nguyên liệu cháy bên trong.Nhiên liệu để nung là bột than được phun ở áp suất cao

dưới dạng mù. Dòng khí nóng đi ngược từ đáy lò lên đến đỉnh lò. Liệu từ

cyclone lắng qua hệ thống sấy 5 tầng được sấy sơ bộ từ 75 -> 1200 C . Phối liệu đi vào lò

nhiệt độ tăng dần lên phản ứng các pha rắn xảy ra và được kết khối ở 1300 -> 14500 C

tạo thành Clinker.



 Công đoạn vận chuyển Clinker.

Clinker ra khỏi lò có nhiệt độ khá cao được làm nguội qua hệ thống làm mát

đến nhiệt độ khoảng 1200 C . Hệ thống làm mát có 2 kiểu: Kiểu lò hành tinh và giàn

ghi. Hệ thống quạt cao áp đặt bên dưới sẽ thổi gió tươi vào làm nguội nhanh viên

Clinker về nhiệt độ 50 - 9000 C.

Clinker được máy đập búa đập nhỏ có kích thước  25 mm và được đổ vào



băng cào xích rồi được chuyển lên băng gầu xiên. Từ băng gầu xiên Clinker được đổ

vào cyclone chứa. Ơ đây Clinker được ủ từ 7 đến 15 ngày.



 Công đoạn nghiền Clinker.

Clinker, thạch cao và phụ gia được cho vào máy nghiền để nghiền thành xi

măng. Thành phần Clinker, thạch cao và phụ gia được điều chỉnh theo tỉ lệ phù hợp để

đạt được chất lượng xi măng theo yêu cầu. Xi măng ra khỏi máy nghiền : Hạt to được

hồi lưu lại nhờ hệ thống phân ly, hạt quá nhỏ được thu hồi lại bởi hệ thống lọc bụi.



 Đóng bao.

Từ Silo chứa, xi măng sẽ được cấp theo 2 cách khác nhau:

1. Rút xi măng cấp trực tiếp cho xe bồn nhận hàng xá rời.

2. Cấp qua máy đóng bao, để tọ thành từng bao 50kg giao đến từng phương

tiện nhận hàng.



PHẦN II. NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN DCS

1.Giới thiệu hệ thống điều khiển DCS

a. Khái niệm

DCS – (Distributed Control System), là một hệ thống điều khiển cho một dây

chuyền sản xuất, một quá trình hoặc bất cứ một hệ thống động học nào, trong đó các

bộ điều khiển không tập trung tại một nơi mà được phân tấn trên toàn bộ hệ thống, với

mỗi hệ thống con được điều khiển bởi một hoặc nhiều bộ điều khiển. Giải pháp thiết

kế của các hệ DCS thương phẩm là hướng vào các ứng dụng điều khiển phân tán nên

nó thường được thiết kế theo hệ thống mở, khả năng tích hợp cao kể cả tích hợp với

các PLC khác nhau điều khiển máy và công đoạn sản xuất độc lập. Mục tiêu tạo thuận

lợi cao nhất cho kỹ sư thiết kế và tích hợp hệ thống điều khiển.

Thế mạnh của DCS là khả năng xử lý các tín hiệu tương tự và thực hiện các

chuỗi quá trình phức tạp, khả năng tích hợp dễ dàng. Các hệ thống DCS thương phẩm

ngày nay thường bao gồm các bộ điều khiển ( controller ), hệ thống mạng truyền

thông và phần mềm điều hành hệ thống tích hợp. Các hệ DCS có thể quản lý được từ

vài nghìn điểm đến hàng chục nghìn điểm vào/ra. Nhờ cấu trúc phần cứng và phần

mềm, hệ điều khiển có thể thực hiện đồng thời nhiều vòng điều chỉnh, điều khiển

nhiều tầng, hay theo các thuật toán điều khiển hiện đại: Nhận dạng hệ thống, điều

khiển thích nghi, tối ưu, bền vững, điều khiển theo mơ hình dự báo (MPC), fuzzy,

neutral, điều khiển chất lượng ( QCS).

Để phục vụ cho việc trao đổi thông tin, các hệ DCS thương phẩm ngày nay hỗ

trợ nhiều giao thức truyền thông từ cấp trường đến cấp quản lý. Hiện nay các giao

thức này đã được chuẩn hoá ( Profibus, Foudation FieldBus, Ethernet ).

Các hệ DCS thương phẩm ngày nay có độ tin cậy rất cao : nhờ có khả năng dự

phòng kép ở tất cả các thành phần trong hệ ( controller, mođun I/O, bus truyền thông

), khả năng thay đổi chương trình ( sửa chữa và download ), thay đổi cấu trúc của hệ,

thêm bớt các thành phần mà không cần làm gián đoạn, không cần khởi động lại quá

trình ( thay đổi online ).



Cơ sở dữ liệu quá trình trong các hệ DCS thương phẩm cũng được thiết kế sẵn

và là cơ sở dữ liệu lớn có tính tồn cục và thống nhất. Các nhà sản xuất DCS cũng

cam kết thời gian hỗ trợ với các sản phẩm DCS lớn, từ 15 đến 20 năm để đảm bảo

thời gian hoạt động và khai thác của các hệ thống lớn.

Tất cả những đặc điểm trên cho thấy các hệ DCS hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về

một giải pháp tự động hố tích hợp tổng thể. Các chun gia cho tới ngày nay, DCS

vẫn là không thể thay thế được trong các ứng dụng lớn.

b. Phân loại

Các hệ DCS thường được phân loại thành ba hệ sau:

 Các hệ DCS truyền thống

Các hệ này sử dụng các bộ điều khiển quá trình theo kiến trúc riêng của

từng nhà sản xuất. Các hệ cũ thường đóng kín, ít tn theo các chuẩn giao tiếp

công nghiệp, các bộ điều khiển được sử dụng cũng thường chỉ làm nhiệm vụ

điều khiển quá trình, vì vậy phải sử dụng kết hợp các thiết bị điều khiển khả

trình PLC (Programmable Logic Controller). Các hệ mới có tính năng mở tốt

hơn, một số bộ điều khiển đảm nhiệm cả các chức năng điều khiển quá trình,

điều khiển trình tự lẫn điều khiển logic (hybrid controller).

 Các hệ DCS trên nền PLC

Thiết bị điều khiển khả trình (PLC) là một loại máy tính điều khiển chuyên

dụng, do nhà phát minh người Mỹ Dick Morley sáng chế vào năm 1968. Hầu

hết các PLC hiện đại không chỉ có thể thực hiện các phép tính logic đơn giản,

mà còn có khả năng làm việc với các tín hiệu tương tự và thực hiện các phép

toán số học, các thuật toán điều khiển phản hồi. PLC được sử dụng trong các

hệ điều khiển phân tán thường có cấu hình mạnh, hỗ trợ điều khiển trình tự

cùng với các phương pháp lập trình hiện đại.

 Các hệ DCS trên nên PC

Giải pháp sử dụng máy tính cá nhân (PC) làm thiết bị điều khiển đã trở nên

phổ biến. Nếu so sánh với các bộ điều khiển khả trình (PLC) và các bộ điều

khiển DCS đặc chủng thì thế mạnh của PC chính là tính năng mở, khả năng lập

trình tự do, hiệu năng tính tốn cao và đa chức năng, cũng như giá thành cạnh

tranh.

c. Thành phần chính

Một hệ điều khiển phân tán DCS bao gồm các thành phần chính sau:

SVTH : Nguyễn Tiến Quang



Page 10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2). Mô tả dây chuyền công nghệ sản xuất của nhà máy

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×