Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khi so sánh với thông tư 44 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về yêu cầu

chất lượng nước nuôi tơm (TT44) [3] thì nhiệt độ qua các tháng nghiên cứu đều

nằm trong khoảng giới hạn cho phép (18 ÷ 330C).

Qua phân tích thống kê cho thấy nhiệt độ giữa các tháng có sự sai khác có

ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Sự gia tăng nhiệt độ qua các tháng có thể được

giải thích theo quy luật biến động theo mùa, càng về hè thì nhiệt độ càng tăng do

sự gia tăng cường độ chiếu sáng của mặt trời.

4.1.2. Biến động giá trị pH

Nồng độ ion [H]+ có trong môi trường nước được biểu thị bằng giá trị pH.

Mỗi sinh vật đều có một ngưỡng pH nhất định. Trong thủy vực giữa pH nước và

sinh vật có mối quan hệ tác động qua lại. Hoạt động của sinh vật làm thay đổi

pH nước và ngược lại, khi pH nước thay đổi sẽ làm ảnh hưởng tới các quá trình

thẩm thấu của màng tế bào, từ đó làm thay đổi các quá trình trao đổi muối và

nước giữa sinh vật và mơi trường ngồi. pH còn ảnh hưởng rất lớn đến q trình

phát triển của phơi, q trình sinh sản, sinh trưởng của cá và quá trình lột xác ở

giáp xác. Trong tự nhiên pH thay đổi theo ngày đêm, theo mùa và theo độ sâu.

Kết quả nghiên cứu pH được thể hiện trên đồ thị 4.2 sau.



Đồ thị 4.2. Biến động giá trị pH qua thời gian nghiên cứu

Qua đồ thị 4.2 cho thấy, giá trị pH có xu hướng tăng theo các tháng nghiên

cứu. Giá trị pH dao động trong khoảng 5,5 ÷ 8,8. Giá trị trung bình của pH cao

nhất vào tháng 4 (7,82 ± 0,119) và thấp nhất vào tháng 2 (6,82 ± 0,133). Trong

thủy vực tự nhiên thì giá trị pH chịu ảnh hưởng nhiều từ nồng độ CO 2. Giá trị

CO2 càng tăng thì pH càng giảm và ngược lại, do CO 2 hòa tan kết hợp với nước

30



tạo thành H2CO3 là một acid yếu dễ phân ly, vì vậy nó làm cho pH của môi

trường nước giảm. Theo quy luật biến động theo mùa của CO 2 thì nồng độ CO2

sẽ giảm dần khi về hè. Điều đó lý giải vì sao qua các tháng nghiên cứu giá trị pH

lại tăng dần. Khi phân tích thống kê cho thấy giá trị pH tháng 2 và tháng 3

khơng có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nhưng giá trị pH tháng 4

cao hơn tháng 3 và tháng 2 có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

So sánh giá trị pH đầm Phú Mỹ với các nghiên cứu khác được thể hiện tại

bảng dưới.

Bảng 4.1. Giá trị pH của các nghiên cứu các đầm phá Việt Nam

Yếu tố



Phú Mỹ (1)

2012



TG – CH(2)



Lăng Cơ (3)



Thị Nại(4)



2006 - 2007



2010



2009 - 2010



pH



5,5 ÷ 8,8



5,5 ÷ 9



8,05 ÷ 8,35



6,5 ÷ 7,39



Ghi chú: (1) Nghiên cứu pH của tác giả đề tài; (2) Nghiên cứu của Nguyễn

Văn Hợp và cộng sự [11]; (3) Nghiên cứu pH của bộ môn QLMT và NLTS, khoa

Thủy Sản, Đại học Nông Lâm Huế [2]; (4) Nhiên cứu pH của Trí Tú Anh. [1]

Qua bảng 4.1 cho thấy giá trị pH tại đầm Phú Mỹ hoàn toàn phù hợp với

kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hợp và cộng sự năm 2006 – 2007 tại phá

Tam Giang - Cầu Hai[13] và tương đương với kết quả nghiên cứu tại đầm Lăng

Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế và đầm Thị Nại ở Bình Định. [7]

Khi so sánh với TT44 [3], có thể nhận thấy vào tháng 2 và tháng 3 giá trị

pH không phù hợp với quy chuẩn của thông tư. Do tháng 2 và tháng 3 thường là

mùa vụ ương nuôi và thả nuôi tôm của các ngư dân ven đầm Sam Chuồn. Nên

bà con ngư dân cần phải chú ý đến giá trị của pH và cần có biện pháp nâng cao

pH nước. Ví dụ chúng ta có thể bón vơi để làm tăng pH.

4.1.3. Biến động oxy hòa tan (DO)

DO là nồng độ của Oxy hòa tan có trong thủy vực. Oxy là yếu tố quan

trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến q trình hơ hấp của các lồi thủy sinh vật và

vi sinh vật hiếu khí. Đồng thời ảnh hưởng đến các quá trình phân giải chất hữu

cơ trong thủy vực. Mỗi lồi thủy sinh vật đều có mỗi ngưỡng oxy nhất định, oxy

quá cao hay quá thấp đều có ảnh hưởng tới đời sống thủy sinh vật.

Chỉ số oxy hòa tan trong thủy vực DO có sự biến động theo quy luật ngày

đêm, thao mùa và theo độ sâu. Trong tự nhiên nồng độ oxy hòa tan của thủy vực

phụ thuộc và hai nguồn chủ yếu là: Khuếch tán từ khơng khí vào mơi trường

nước và quang hợp của tảo và thực vật thủy sinh trong môi trường nước.

31



Kết quả nghiên cứu biến động DO được thể hiện theo đồ thị 4.3 dưới.



Đồ thị 4.3. Đồ thị biến động DO theo thời gian

Từ đồ thị biến động DO theo thời gian cho thấy nồng độ oxy hòa tan tại

đầm phá xã Phú Mỹ có sự biến động, tăng dần theo các tháng nghiên cứu (5,10

÷ 8,24mg/l). Giá trị trung bình của DO cao nhất vào tháng 4 (7,04 ± 0,118mg/l)

và thấp nhất vào tháng 2 (5,64 ± 0,059mg/l). Nồng độ DO đo được tại đầm phá

Phú Mỹ cũng hoàn toàn phù hợp với kết quả Nguyễn Văn Hợp và cộng sự năm

2006 – 2007 tại phá Tam Giang – Cầu Hai [11] với nồng độ oxy hòa tan dao

động từ 5,1 ÷ 9,1 mg/l.

Khi so sánh với TT44 [3] cho thấy là tất cả các tháng nghiên cứu đều có giá

trị DO cao hơn so với quy chuẩn của TT44 (> 3,5) phù hợp cho mục đích ni

tơm. Qua phân tích thống kê cho thấy giá trị DO tháng 2 thấp hơn tháng 3 và

tháng 4 có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tuy nhiên giá trị DO giữa tháng 3 và

tháng 4 lại khơng có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Sự gia tăng của

lượng oxy hòa tan trong thủy vực theo các tháng nghiên cứu có thể được giải

thích như sau:

Nồng độ oxy hòa tan có được trong thủy vực nước tự nhiên, chủ yếu là do

tảo và thực vật trong nước. Khi chúng quang hợp sẽ làm tăng lượng oxy hòa tan.

Vì vậy, khi cường độ ánh sáng tăng do càng về các tháng hè thì quá trình quang

hợp của tảo và thực vật ngày càng tăng điều đó làm cho lượng oxy trong nước

tăng lên.



32



4.1.4. Biến động Nitrate (NO3-)

Nitrate là sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy các chất chứa nitrogen có

trong chất thải của động vật thủy sản. Nitrate trong thủy vực là sản phẩm của

q trình nitrate hóa và được cung cấp từ nước mưa khi có sấm chớp. Nitrate là

một trong những dạng đạm được thực vật hấp thụ dễ nhất, không độc với thủy

sinh vật. Hàm lượng nitrate cao không gây độc cho động vật thủy sản nhưng sự

kết hợp với phosphorus gây hiện tượng phì dưỡng làm thực vật phù du nở hoa,

đồng thời kéo theo sự thay đổi chất lượng nước trong thủy vực.

Kết quả nghiên cứu biến động NO3- được thể hiện ở đồ thị 4.4 dưới.

5



Đồ thị 4.4: Biến động Nitrate theo thời gian

Qua quá trình nghiên cứu cho thấy rằng, nitrate có sự biến động khơng lớn,

giá trị NO3- dao động từ 0,05 ÷ 0,25mg/l và có xu hướng giảm dần từ tháng 2

đến tháng 4. Trong đó giá trị trung bình NO3- cao nhất vào tháng 2 là 0,19 ±

0,008mg/l và thấp nhất vào tháng 4 là 0,14 ± 0,011mg/l. Nhìn chung giá trị NO 3qua 3 tháng nghiên cứu có giá trị tương đối thấp. Điều này có thể được giải thích

là do sự giảm đi nguồn cung cấp các sản phẩm tạo NO 3- từ các dòng chảy vào

đầm phá và từ sự giảm đi lượng mưa vào mùa khô. Đồng thời do quá trình phát

triển mạnh của tảo và thực vật thủy sinh khi cường độ ánh sáng tăng nên lượng

nitrat mất đi do thực vật hấp thụ tăng, do đó làm cho lượng NO 3- trong thủy vực

nước giảm. Khi so sánh với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt

bảo vệ đời sống thủy sinh của bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2011 (QCVN

38:2011/BTNMT) [6], cho thấy giá trị NO3- tại đầm phá Phú Mỹ qua 3 tháng

đều thấp hơn 5 mg/l và phù hợp với quy chuẩn. Kết quả nghiên cứu cũng cho

33



thấy giá trị NO3- tại đầm Phú Mỹ tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Văn

Hợp và cộng sự năm 2006 – 2007 [11] với giá trị dao động từ 0,06 ÷ 0,25mg/l.

Nhưng lại thấp hơn so với giá trị tại đầm Thị Nại [1], Bình Định (2,15 ÷

9,68mg/l).

Qua phân tích thống kê cho thấy giá trị nitrate giữa tháng 3 và tháng 4

không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nhưng giá trị tháng 2 cao

hơn tháng 3 và tháng 4 có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

4.1.5. Biến động Photphat (PO43-)

Photphat là một trong những nguyên tố dinh dưỡng đối với sự phát triển

của thực vật, rong, tảo và sinh vật dưới nước. Nguồn gốc của photphat chủ yếu

là từ nước thải của các hoạt động cơng nghiệp, nơng nghiệp, sinh hoạt, phốtpho

trầm tích hồ tan trở lại và sự phân huỷ của các vi sinh vật sống trong môi

trường nước.

Photphat là một nhân tố giới hạn đối với đời sống của thực vật thủy sinh.

Cũng như nitrate, photphat là yếu tố dinh dưỡng cần cho sự sinh trưởng và phát

triển của thực vật thủy sinh. Tuy nhiên hàm lượng photphat quá cao cùng với

nitrate sẽ gây nên hiện tượng phì dưỡng.

Kết quả nghiên cứu photphat được thể hiện qua đồ thị 4.5 dưới.



Đồ thị 4.5. Biến động giá trị photphat qua các tháng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu PO43- theo các tháng cho thấy rằng PO43- có sự biến

động từ 0 ÷ 0,25mg/l. Giá trị PO43- cao nhất vào tháng 2 là 0,18 ± 0,009mg/l và

34



thấp nhất vào tháng 4 với 0,12 ± 0,005mg/l. Nhìn chung giá trị PO 43- từ tháng 2

đến tháng 4 có xu hướng giảm dần. Điều này có thể được giải thích là: do cũng

giống như nitrate thì photphat là chất được thực vật thủy sinh và tảo sử dụng cho

quá trình sinh trưởng và phát triển, nên khi quá trình sinh trưởng và phát triển

của chúng tăng trong điều kiện cường độ ánh sánh gia tăng thì nó sẻ làm giảm đi

lượng PO43- có trong thủy vực.

Khi so sánh với quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước mặt của Bộ Tài

nguyên và Môi trường năm 2008 (QCVN 08:2008/BTNMT) [4] tại cột A2 quy

định chất lượng nước phục vụ cho đời sống thủy sinh, cho thấy giá trị PO 43- ở

các tháng 2, 3, 4 đều thấp hơn 0,2mg/l và phù hợp với quy chuẩn.

So sánh với các vùng khác cho thấy giá trị PO 43- tại đầm Phú Mỹ cao hơn

so với các nghiên cứu của Nguyễn Văn Hợp về đầm phá Tam Giang – Cầu Hai

( 2006 – 2007) [11] với giá trị từ 0,01 ÷ 0,1mg/l và đầm Thủy Triều ở Khánh

Hòa trong nghiên cứu của Lê Thị Vinh năm 2005 -2006 [15] với giá trị là 0,004

÷ 0,026mg/l. Nhưng lại thấp hơn so với đầm Thị Nại ở Bình Định trong nghiên

cứu của Trí Tú Anh năm 2009 – 2010 [1] với giá trị là 0,34 ÷ 4,01mg/l.

Qua phân tích thống kê cho thấy giá trị PO 43- tháng 4 thấp hơn tháng 2 và

tháng 3 có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Giữa tháng 2 và tháng 3 giá trị PO 43khơng có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

4.1.6. Biến động nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5)

BOD là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật tiêu thụ trong quá trình phân hủy

các chất hữu cơ trong nước trong điều kiện hiếu khí.

BOD là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm

của nước do các chất hữu cơ có thể bị các vi sinh vật phân hủy trong điều kiện

hiếu khí. Chỉ số BOD chỉ ra lượng Oxy mà vi khuẩn tiêu thụ trong phản ứng oxy

hóa các chất hữu cơ trong nước ô nhiễm. Chỉ số BOD càng cao chứng tỏ lượng

chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học trong nước càng lớn.

Kết quả nghiên cứu nhu cầu oxy sinh học được thể hiện tại đồ thị 4.6 dưới.



35



Đồ thị 4.6. Biến động hàm lượng BOD5 theo thời gian

Qua đồ thị 4.6 cho thấy rằng, giá trị BOD 5 từ tháng 2 đến tháng 4 có sự

biến động trong khoảng từ 0,35 ÷ 6,20mg/l. BOD5 trung bình cao nhất vào tháng

2 với giá trị là 4,01 ± 0,209mg/l và thấp nhất vào tháng 4 với giá trị là 3,09 ±

0,429mg/l. Theo thời gian giá trị BOD5 có xu hướng giảm dần. Do vào mùa khô

lượng mưa giảm từ tháng 2 đến tháng 4, kéo theo lượng phù sa chứa các chất

hữu cơ mà vi sinh vật có thể phân hủy được từ sông và các kênh nhỏ đổ vào đầm

giảm, từ đó làm cho chỉ số BOD5 giảm theo. So sánh với giá trị BOD5 của TT44

[3] cho thấy qua các tháng nghiên cứu BOD 5 đều nhỏ hơn 30mg/l và kém hơn

so với quy chuẩn từ 7,48 - 9,71 lần. Kết quả cũng cho thấy giá trị BOD 5 của đầm

Phú Mỹ hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Hợp và cộng sự

năm 2006 - 2007 về chất lượng nước phá Tam Giang – Cầu Hai (0,5 ÷ 5mg/l)

[11]. Tuy nhiên lại có giá trị cao hơn đầm Thị Nại ở Quảng Ninh (1,05 ÷

2,55mg/l). [1]

Kết quả phân tích thống kê cho thấy giá trị BOD 5 tháng 2 cao hơn tháng 4

có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Giữa tháng 3 và tháng 4, giữa tháng 3 và tháng 2

khơng có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

4.1.7. Biến động độ đục (NTU)

Độ đục là khả năng ngăn cản sự xuyên thấu của các tia sáng mặt trời qua

môi trường nước. Trong thủy vực độ đục có được là do các vật chất lơ lửng (bao

gồm chất vô cơ và hữu cơ) và sinh vật phù du quy định. Độ đục là yếu tố quan

trọng trong việc đánh giá chất lượng nước.

Kết quả nghiên cứu độ đục được thể hiện ở đồ thị 4.7 dưới.

36



Đồ thị 4.7. Biến động độ đục theo các tháng nghiên cứu

Từ đồ thị biến động độ đục theo các tháng nghiên cứu cho thấy giá trị NTU

qua có sự biến động theo thời gian (3,00 ÷ 13,00NTU). Giá trị trung bình của độ

đục cao nhất vào tháng 2 (7,50 ± 0,482NTU) và có giá trị thấp nhất vào tháng 4

(4,57 ± 0,151NTU). Giá trị độ đục có xu hướng giảm dần theo thời gian do

nguồn cung cấp các vật chất lơ lững có trong thủy vực từ các dòng chảy giảm vì

lượng nước từ các kênh rạch giảm dần khi càng về mùa khô. Chỉ tiêu độ đục

không được quy định trong các bộ quy chuẩn hay tiêu chuẩn chất lượng nước

thủy sản hiện nay, nhưng theo tài liệu “Nước nuôi thủy sản, chất lượng và giải

pháp cải thiện chất lượng” của Lê Văn Cát, Đỗ Thị Hồng Nhung, Ngơ Ngọc Cát

(2006) thì độ đục dưới 45 NTU không ảnh hưởng đến tôm, cá [8]. Như vậy, hàm

lượng độ đục ở khu vực đầm phá xã Phú Mỹ vẫn nằm trong giới hạn cho phép

để tiến hành hoạt động nuôi trồng thủy sản.

Qua phân tích thống kê cho thấy giá trị độ đục giữa các tháng có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

4.1.8. Biến động tổng chất rắn (TS)

Trong nước chất rắn được tạo thành bởi:

• Chất vơ cơ dạng muối hòa tan và các chất khơng tan như đất, đá ở dạng

huyền phù.

• Các chất hữu cơ như các sinh vật (vi khuẩn, tảo, động vật nguyên sinh)

và các chất hữu cơ tổng hợp như phân bón, chất thải nông nghiệp…

Chất rắn trong nước gồm 2 loại: chất rắn lơ lửng (TSS) và chất rắn hòa tan

(TDS), tổng hai loại trên gọi là tổng chất rắn ký hiệu là TS. Tổng chất rắn TS là

thông số quan trọng để đánh giá chất lượng nước.

37



Kết quả nghiên cứu tổng chất rắn được thể hiện qua đồ thị 4.8 sau.



Đồ thị 4.8. Biến động tổng chất rắn theo thời gian

Qua quá trình nghiên cứu biến động TS cho thấy, theo thời gian giá trị tổng

chất rắn TS có xu hướng giảm dần. Nhìn chung giá trị TS dao động trong

khoảng từ 19,5 ÷ 67mg/l. Giá trị trung bình TS cao nhất vào tháng 2 với giá trị

là 47,74 ± 2,119mg/l và thấp nhất vào tháng 4 với giá trị là 36,72 ± 1,165mg/l.

Xu hướng giảm dần của TS có thể giải thích là do sự giảm sút lưu lượng các

dòng chảy đổ vào vùng đầm phá khi sang mùa khơ, nó làm giảm lượng chất rắn

hòa tan và lượng chất rắn lơ lửng trong thủy vực.

Theo lý thuyết thì tổng chất rắn TS có giá trị tương đương với tổng số chất

rắn hòa tan TDS cộng với tổng chất rắn lơ lững TSS. Vì vậy khi so sánh với tổng

giá trị của TSS và TDS trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước

mặt bảo vệ đời sống thủy sinh của bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2011

(QCVN 38:2011/BTNMT) [6] là: < 1100 mg/l thì giá trị TS qua các tháng đều

phù hợp với quy chuẩn.

Khi phân tích thống kê cho thấy giá trị TS tháng 2 cao hơn tháng 3 và tháng

4 có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Giữa tháng 3 và tháng 4 không có sự sai khác

có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

4.1.9. Biến động Fecal Coliform (FC)

Để xác định sự có mặt của vi khuẩn trong nước, người ta xác định nhóm

coliform dưới dạng tổng coliform, E.Coli và coliform phân (Fecal coliform). Chỉ

số Fecal coliform càng thấp thì càng ít bị ô nhiễm và ngược lại. Đây là thông số

38



quan trọng để đánh giá chất lượng nước, vì sự xuất hiện của vi khuẩn phân trong

nước là nguồn mầm bệnh cho các loài động vật thủy sinh.

Kết quả nghiên cứu biến động chỉ số FC được thể hiện theo đồ thị 4.9 dưới.



Đồ thị 4.9. Đồ thị biến động mật độ Fecal Coliform theo thời gian

Từ đồ thị 4.9 cho thấy giá trị Fecal Coliform qua các tháng có sự biến động

trong khoảng từ 70 ÷ 1095MPN/100ml. Cụ thể giá trị trung bình của FC cao

nhất vào tháng 2 có giá trị là 667,15 ± 60,226 MPN/100ml và thấp nhất vào

tháng 4 có giá trị là 287,41 ± 41,112MPN/100ml. Nhìn chung giá trị FC có xu

hướng giảm điều này có thể giải thích như sau:

Trong khoảng điều kiện nhiệt độ thích hợp cho vi sinh vật sinh trưởng và

phát triển thì tại nơi có nguồn cơ chất dồi dào thì vi sinh vật phát triển với mật

độ nhiều hơn. Điều này tương tự đối với các tháng trong khoảng thời gian

nghiên cứu, thì càng về mùa khơ thì lưu lượng các dòng chảy đổ vào đầm giảm

nên làm cho lượng cơ chất mà vi sinh vật cần để sinh trưởng và phát triển sẽ

giảm. Vì thế càng về mùa khơ thì chỉ số FC càng giảm.

Theo phương pháp tính tốn chỉ số WQI [22] thì ở mức chỉ số phụ q i > 71

thì chất lượng nước tại thủy vực nghiên cứu sẽ phù hợp với mục đính mi trồng

thủy sản. Vì vậy đòi hỏi giá trị FC của nước cần phải nhỏ hơn 10 MPN/100ml.

Tuy nhiên qua các tháng nghiên cứu thì giá trị FC tại đầm phá xã Phú Mỹ đều

vượt q giới hạn đó. Vì vậy khi lấy nước phục vụ cho ni trồng thủy sản thì bà

con ngư dân cần có biện pháp khử trùng nước kĩ càng, tránh những ảnh hưởng

từ các mầm bệnh do vi sinh vật có trong nguồn nước.

39



Qua phân tích thống kê cho thấy giá trị FC tháng 2 cao hơn tháng 3 và

tháng 4 có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tuy nhiên giá trị FC giữa tháng 3 và

tháng 4 lại khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

4.2. Thử nghiệm đánh giá chất lượng nước thông qua chỉ số chất lượng

nước NSF - WQI

4.2.1. Chỉ số chất lượng nước NSF-WQI theo không gian

4.2.1.1. Kết quả nghiên cứu WQI theo không gian xa bờ và gần bờ

Áp dụng tính tốn chỉ số WQI theo mơ hình đánh giá chất lượng nước của

Quỹ vệ sinh Quốc gia Mỹ (NFS – WQI) với 9 thông số bao gồm: Nhiệt độ, độ

đục, pH, DO, NO3-, PO43-, TS, BOD5 và Fecal Coliform. Kết quả nghiên cứu

theo không gian tại đầm phá thuộc xã Phú Mỹ được thể hiện tại bảng 4.2 và đồ

thị 4.10.



40



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×