Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Đánh giá tình hình quản lý chi NSNN ở TP Tam Điệp giai đoạn 2011-2014

3 Đánh giá tình hình quản lý chi NSNN ở TP Tam Điệp giai đoạn 2011-2014

Tải bản đầy đủ - 0trang

72

quỹ, đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng dịch vụ công, tăng thu nhập cho

người lao động.

- Việc cấp phát kinh phí đảm bảo tính đầy đủ, kịp thời cho các kế hoạch

chi thường xuyên. Công tác kiểm soát chi của KBNN đảm bảo thực hiện chi

theo đúng dự toán được duyệt, hồ sơ thủ tục thanh quyết tốn đầy đủ, hợp lý.

c. Về cơng tác quyết tốn chi ngân sách

- Công tác lập, thẩm định, xét duyệt báo cáo quyết tốn chi thường

xun ngày càng được hồn thiện. Chất lượng báo cáo quyết toán được

cải thiện, đảm bảo đúng quy định về thời gian, biểu mẫu, khớp với chứng

từ kế tốn.

3.3.1.3.Về bộ máy quản lý

Đã có sự phối hợp giữa phòng TC-KH và các cơ quan chuyên môn thuộc

UBND thành phố, KBNN trong việc quản lý, điều hành ngân sách.

3.3.1.4.Về phương pháp quản lý

Phương pháp quản lý chi ngân sách hiện nay của thành phố đã đáp ứng

được yêu cầu của Luật ngân sách nhà nước, đảm bảo cân đối ngân sách.

3.3.2 Hạn chế



3.3.2.1. Về nội dung quản lý

Về cơ cấu chi thường xuyên ở thành phố Tam Điệp trong thời gian qua

còn bất cập là tỉ trọng chi cho các hoạt động sự nghiệp như Khoa học cơng

nghệ, y tế, văn hóa thơng tin, phát thanh truyền hình còn thấp, chi cho cơ

quan quản lý hành chính, Đảng, đồn thể còn chiếm tỉ trọng lớn, trong đó tỉ

trọng chi cho hoạt động chun mơn, quản lý hành chính của nội dung chi này

còn chiếm tỉ trọng lớn, chưa phù hợp với mục tiêu của thành phố là tiết kiệm

trong chi ngân sách, phát triển theo hướng Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa,

tăng cường tiềm năng du lịch, văn hóa, thể thao.



73

3.3.2.2.Về quy trình quản lý

a. Về cơng tác lập dự tốn

- Phương án phân bổ ngân sách chưa hợp lý giữa các đơn vị và các lĩnh

vực (đơn vị nhiều, ít, chưa căn cứ vào nhu cầu thực tế).

- Cơng tác thảo luận dự tốn còn chưa chính xác, chưa sát với nhu cầu

thực tế dẫn đến việc bổ sung kinh phí trong năm còn diễn ra thường xun

b. Về cơng tác chấp hành dự tốn

- Việc thực hiện dự toán chi thường xuyên tại các phòng ban đơn vị tuy

đã có nhiều tiến bộ song vẫn còn tình trạng bổ sung dự tốn nhiều lần trong

năm, chưa tơn trọng kỷ luật tài chính tổng thể.

- Vẫn còn tình trạng lãng phí trong chi thường xun: Thể hiện ở lĩnh

vực chi tiêu hành chính vượt mức quy định, bổ sung nhiều lần, vẫn còn tình

trạng hợp đồng lao động ngoài định mức biên chế và thừa biên chế (như ở

ngành giáo dục).

- Trên một số lĩnh vực, công tác quản lý chi thường xuyên chưa đạt hiệu

quả. Hiệu quả KT-XH của các khoản chi thường xuyên của NSNN chưa thực

sự được quan tâm.

- Việc kiểm soát chi vẫn còn sơ hở làm cho các đơn vị chi sai so với dự toán.

- Việc thực hiện nguyên tắc chi theo dự toán ở một số đơn vị còn gặp

nhiều khó khăn, còn xuất hiện tình trạng mục thừa, mục thiếu, phải điều

chỉnh, bổ sung, chi không đúng nguồn ngân sách.

c. Về cơng tác quyết tốn

- Thực hiện kỷ luật ngân sách chưa nghiêm, đang còn tính nể nang nên

Phòng Tài chính – Kế hoạch chưa xuất tốn được một số khoản chi không

đúng nguồn ngân sách trong dự toán được giao.

- Việc quyết toán thường nghiêng về tính đúng đắn, hơn pháp của báo

cáo hơn là quan tâm đến hiệu quả chi tiêu.



74

- Chưa quan tâm đến việc phân tích, đánh giá số liệu quyết tốn để làm

cơ sở cho việc đề xuất những điều chỉnh trong xây dựng định mức phân bổ

ngân sách, định mức chi tiêu cho cơ quan tài chính cấp trên và đặc biệt là rút

ra những bài học kinh nghiệm cho các kỳ ngân sách tiếp theo.

3.3.2.3.Về bộ máy quản lý

Sự phối hợp, hướng dẫn giữa phòng TC-KH và các đơn vị dự toán chưa

hiệu quả.

Việc phê chuẩn dự toán ngân sách và giám sát chấp hành ngân sách của

HĐND đang còn mang tính hình thức

3.3.2.4.Về phương pháp quản lý

Khơng đánh giá được hiệu quả chi tiêu ngân sách cấp thành phố, đặc biệt

là các khoản chi quản lý hành chính, Đảng, Đồn thể. Chưa khuyến khích

được các đơn vị sử dụng hiệu quả ngân sách.

3.3.3 Nguyên nhân



3.3.3.1. Về nội dung quản lý

Việc phân bổ chi thường xuyên theo các nội dung vào đầu năm ngân

sách phụ thuộc vào định mức phân bổ của HĐND tỉnh. Việc bổ sung kinh phí

thường xuyên trong năm dựa vào nguồn vượt thu của ngân sách thành phố lại

chủ yếu dựa vào cơ chế xin cho

3.3.3.2.Về quy trình quản lý

a.Về lập dự tốn

- Do nhu cầu và mức chi thực tế lớn hơn nhiều so với định mức phân bổ

ngân sách của tỉnh nên gánh nặng chi của thành phố vẫn còn khá lớn, phạm vi

hệ thống định mức phân bổ chưa bao quát hết các lĩnh vực chi thường xuyên

của ngân sách như mua sắm, sửa chữa lớn tài sản,..Đồng thời các định mức

chi tiêu còn thiếu sự linh hoạt và chưa thích ứng với sự biến động của giá cả

thị trường như định mức chi tiếp khách, chi hội nghị, cơng tác phí,... Phương

án phân bổ dự tốn còn cứng nhắc, bị động, phụ thuộc vào các chỉ tiêu của



75

UBND tỉnh về tỉ lệ điều tiết, định mức phân bổ ngân sách (như định mức chi

cho các đơn vị thuộc sự nghiệp giáo dục). Việc phân bổ còn mang nặng tính

bình qn ở một số lĩnh vực (như định mức chi cho các phòng, ban đơn vị

QLHC), chưa bám sát với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ nên việc bổ sung dự

toán trong năm là điều không tránh khỏi.

- Thời gian đầu tư cho cơng tác lập dự tốn chi NSNN cấp huyện ngắn,

trong vòng 1 tháng phải thảo luận với 50 đơn vị nên độ chính xác chưa cao.

- Việc lập, quyết định, phân bổ giao dự toán chi NSNN phần lớn là do

Phòng Tài chính kế hoạch tham mưu, thiếu sự phối hợp với các đơn vị chun

mơn trong q trình lập dự tốn như phòng Nội vụ, phòng quản lý đơ thị.

Điều này dễ dẫn đến tình trạng chủ quan của cơ quan tham mưu có thể dẫn

đến các quyết định thiếu chuẩn xác.

b. Trong chấp hành dự toán chi NSNN

- Hệ thống định mức chi tiêu ngân sách đã quá lạc hậu, không phù

hợp với thực tế, chậm sửa đổi, chỉ còn mang tính hình thức trong thanh,

quyết tốn. Điều đó tạo ra một thơng lệ xấu là các cơ quan, đơn vị sử

dụng kinh phí ln phải khai gian, khơng khuyến khích sự trung thực và

tn thủ pháp luật, đồng thời tạo cơ hội cho những động cơ không tốt vì

lợi ích cá nhân.

- Việc thanh tốn dựa trên bảng kê chứng từ của đơn vị sử dụng NSNN

nhưng không sát sao trong việc kiểm tra bảng kê chứng từ tại các đơn vị, việc

xử lý sai phạm trong quản lý ngân sách chưa được chú trọng tạo kẽ hở cho

các đơn vị lập khống hồ sơ để rút tiền từ kho bạc về.

- Công tác dự báo nguồn thu chưa chính xác dẫn đến tăng thu lớn, bổ

sung dự tốn nhiều, xảy ra tình trạng chạy thủ tục, chạy khối lượng, để sử

dụng hết kinh phí, gây thất thốt ngân sách vào cuối năm.

- Bố trí việc làm chưa hợp lý, bộ máy nhà nước cồng kềnh dôi dư biên

chế vừa làm tăng kinh phí, vừa khơng đáp ứng hiệu quả hoạt động.



76

- Kinh phí được giao khốn cho các đơn vị theo các chỉ tiêu đầu vào

như số lượng biên chế, định mức chi trên người không căn cứ vào đầu ra và

khơng có tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu ra nên không đạt hiệu quả chi như

mong muốn.

- Sự giám sát của cán bộ công chức, các tầng lớp nhân dân và các đồn

thể chính trị - xã hội đối với việc quản lý và sử dụng các khoản chi thường

xuyên của NSNN của thành phố còn hạn chế và chưa thực sự hiệu quả

c. Trong quyết tốn chi NSNN, kiểm tra, thanh tra

Trình tự phê duyệt quyết toán chi thường xuyên ngân sách thành phố

chưa được xem xét, phân tích, đánh giá đặt trong việc định thực hiện các chỉ

tiêu kinh tế – xã hội của địa phương.

Cán bộ chưa nhận thức đầy đủ, chưa nắm vững được các quy định của

Luật NSNN, các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng NSNN, đặc

biệt là việc sử dụng các khoản chi thường xuyên, dẫn đến chưa thực hiện tốt

công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý những sai phạm trong sử dụng các khoản

chi thường xuyên của NSNN. Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử

dụng các khoản chi tài chính chưa được tiến hành thường xun, còn mang

nặng tính hình thức, khi phát hiện sai phạm thì việc xử lý chưa thực sự

nghiêm minh.

Các đơn vị sử dụng ngân sách chưa nhận thức đầy đủ về Luật NSNN,

chưa tiếp cận được với các văn bản pháp luật về quản lý và sử dụng ngân

sách, dẫn đến hiện tượng chi kém hiệu quả, thậm chí chi sai quy định.

3.3.3.3.Về bộ máy quản lý

Mặc dù mỗi đơn vị dự tốn có từ một đến 2 cán bộ kế tốn, tuy nhiên

cán bộ kế toán ở đơn vị dự toán đa phần có trình độ dưới đại học, nghiệp vụ

tin học đang còn nhiều hạn chế.. Trình độ chun mơn nghiệp vụ không cao,

trong tập huấn chuyên môn nghiệp vụ đang còn hời hợp, khơng chịu lắng



77

nghe nắm bắt những cái mới trong quản lý ngân sách không thường xuyên

nắm bắt được các quy định mới trong quản lý chi ngân sách.

Các thành viên HĐND thành phố đa phần là những người làm quản

lý, không thực hiện các chuyên môn về nghiệp vụ tài chính, trước khi phê

chuẩn dự tốn thì dự tốn này đã được trình qua UBND thành phố, Thành

Ủy, sở Tài chính do đó khi thơng qua HĐND thành phố là chỉ mang tính

chất hình thức.

Cán bộ tài chính còn thiếu về số lượng và chất lượng. Trình độ chun

mơn cấp đại học nhưng chưa thường xun được tập huấn nâng cao chuyên

môn nghiệp vụ và tiếp thu các phương thức quản lý mới.

3.3.3.4.Về phương pháp quản lý

Do chỉ áp dụng định mức phân bổ theo các nguồn lực đầu vào nên việc

quản lý ngân sách không gắn kết được nguồn lực tài chính với hiệu quả sử

dụng, ngân sách bị cào bằng, phân bổ dàn trải, thiếu trọng tâm dẫn đến hiệu

lực quản lý thấp, không hoàn thành các mục tiêu kinh tế- xã hội đã đề ra. Hơn

nữa chính quyền thành phố chưa xây dựng được các tiêu chí đánh giá hiệu

quả sử dụng ngân sách và trách nhiệm của người sử dụng ngân sách



78



CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HỒN THIỆN

CƠNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

3.1. Căn cứ xác định phương hướng và giải pháp hồn thiện cơng tác

quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Tam Điệp

Tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2010-2015 đảng

bộ thành phố Tam Điệp đã thông qua các chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát

triển kinh tế - xã hội năm 2015 với những nội dung cơ bản sau đây:.

Tập trung chỉ đạo phát triển tiểu công ghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tiếp tục

cải thiện đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển.

Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Quan tâm phát triển các ngành dịch vụ và du lịch.

Đẩy mạnh công tác thu ngân sách, phấn đấu hoàn thành vượt mức các

chủ tiêu ngân sách trên địa bàn

Tăng cường công tác quản lý, sử dụng đất đai.

Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa xã hội, thực hiện tốt giáo dục, y tế, dân

số, văn hóa, thể thao, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm.

Tăng cường cơng tác quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự

an tồn xã hội

Đẩy mạnh cơng tác thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền vững mạnh.

Về cơng tác tài chính ngân sách , thành phố cũng đề ra một số định

hướng cụ thể như sau:

+ Chấp hành thống nhất pháp luật về tài chính ngân sách thường xuyên

cập nhật thông tin và áp dụng vào các khâu của chu trình ngân sách để đảm

bảo tính thống nhất của hệ thống ngân sách.



79

+ Cụ thể hoá chính sách tài chính tiền tệ vào địa phương để tạo động lực

cho sự phát triển của mỗi xã

+ Chống tham ơ, tham nhũng thất thốt lãng phí tài sản, vốn của nhà

nước và địa phương

3.2. Quan điểm, mục tiêu và phương hướng hồn thiện cơng tác

quản lý chi ngân sách nhà nước thành phố Tam Điệp

3.2.1. Quan điểm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước

thành phố Tam Điệp

Để đạt được mục tiêu như trên, thành phố Tam Điệp đã xác định quan

điểm cho công tác quản lý chi NSNN của thành phố như sau:

Một là, quản lý chi NSNN phải đảm bảo kinh phí kịp thời cho thành phố

thực hiện các nhiệm vụ, sứ mệnh tương ứng của mình trong cơng cuộc phát

triển KT-XH trên địa bàn.

Để thúc đẩy kinh tế thành phố tăng trưởng và phát triển bền vững, trong khi

chưa có những thay đổi mạnh ở các thành phần kinh tế khác, tất yếu phải tăng

chi đầu tư công. Một mặt, tăng chi đầu tư công trực tiếp làm tăng tổng cầu trong

nền kinh tế. Mặt khác, tăng chi sẽ tác động, lôi kéo các thành phần kinh tế khác

mở rộng SXKD.Tuy nhiên việc tăng nguồn trong ngắn và trung hạn rất hạn chế,

nên yêu cầu đặt ra đầu tiên đối với quản lý chi NSNN của thành phố là phải kế

hoạch hóa được nhu cầu chi trên cơ sở đảm bảo các cân đối vững chắc về thu chi, về vay nợ thì mới đảm bảo thúc đẩy KT-XH phát triển được.

Hai là, do nguồn lực hạn chế trong khi nhu cầu lại tương đối lớn, nên

quản lý chi NSNN của thành phố phải bố trí phân bổ tập trung, trực tiếp cho

các nội dung và mục tiêu phát triển của địa phương. Rút kinh nghiệm giai

đoạn trước, do phân bổ ngân sách thành phố phân tán, dàn trải, nhiều cơng

trình, dự án không được phân đủ vốn theo tiến độ, hiệu quả sử dụng ngân sách

hạn chế, việc phân bổ ngân sách giai đoạn tới cần thực hiện nghiêm ngặt vấn

đề ưu tiên hóa.



80

Ba là, khi đã lựa chọn được các ưu tiên chi tiêu, vấn đề tiếp theo của

quản lý chi NSNN là phải lựa chọn các phương thức sử dụng đem lại hiệu quả

kinh tế, hiệu quả xã hội cao nhất.

Bốn là, quản lý chi NSNN cần từng bước tạo dựng cơ chế gắn kết kinh

phí với kết quả cung cấp dịch vụ cơng. Gắn kết kinh phí với kết quả càng chặt

chẽ thì áp lực sử dụng nguồn ngân sách hiệu quả càng cao. Việc đánh giá,

giám sát của người đóng thuế/người thụ hưởng cũng cụ thể hơn, rõ ràng hơn.

Năm là, quản lý chi NSNN cần phải hướng tới các mục tiêu dài hạn của

thành phố. Trong khi thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH của giai đoạn

tới, quản lý chi NSNN đồng thời phải tính đến mục đích phát triển bền vững

lâu dài trên địa bàn, ưu tiên cho chi đầu tư phát triển ở các xã kém phát triển

hơn, nâng cao mức sống của nhân dân các vùng này, thúc đẩy tăng trưởng,

giảm dần sự chênh lệch so với các vùng đô thị, tạo môi trường sống của con

người gần gũi với thiên nhiên và đảm bảo xanh, sạch, đẹp. Vấn đề không kém

phần quan trọng là phải chủ động, linh hoạt trước các biến động của nền kinh

tế, đặc biệt trong bối cảnh mở cửa và kinh tế thế giới đối mặt với nhiều bất ổn

kinh tế, chính trị, xã hội.

Sáu là hồn thiện bộ máy, tăng cường chức năng, quyền hạn của bộ máy

quản lý, nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chi

ngân sách

3.2.2. Mục tiêu và phương hướng hồn thiện cơng tác quản lý chi

Mục tiêu cơ bản của việc hoàn thiện quản lý chi NSNN trên địa bàn

thành phố Tam Điệp thời gian tới là khắc phục những nhược điểm hiện nay và

từng bước hướng tới việc quản lý nguồn lực tài chính theo các chuẩn mực

hiện đại.

Quản lý chi NSNN trước hết phải nhằm thiết lập và duy trì được kỷ luật

tài khóa chặt chẽ. Muốn vậy, cần phải cải cách cơ bản cơng tác phân tích, dự

báo tổng nguồn lực dành cho khu vực công. Trên cơ sở giới hạn tổng nguồn



81

lực, quản lý chi phải kiểm soát được tổng nhu cầu trong phạm vi nguồn lực

cho phép.

Quản lý chi NSNN phải hướng tới việc phân bổ các nguồn lực có hạn đã

được xác định cho các ưu tiên phát triển KT-XH trên địa bàn, khắc phục cơ

bản việc phân chia ngân sách dàn trải, không thống nhất giữa các năm. Phân

bổ ngân sách phải thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhất là

chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nội bộ từng ngành. Cải cách tiền lương cũng

vẫn là một trong những lĩnh vực ưu tiên cho giai đoạn tới vì đây là gốc rễ để

nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Lĩnh vực không kém phần

quan trọng là việc nâng cao chất lượng và tính cơng bằng trong việc cung cấp

các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, hướng tới sự phát triển bền vững

của địa bàn.

Quản lý chi NSNN cũng phải tập trung cải thiện cơ bản hiệu quả sử dụng

ngân sách. Thực hiện phân bổ ngân sách theo các ưu tiên chiến lược địa

phương, ở những góc độ nhất định, sẽ khắc phục được những bất cập về hiệu

quả sử dụng vốn gắn với việc phân chia nguồn ngân sách dàn trải, không kịp

thời, không gắn với các kết quả hoạt động. Tuy nhiên, để sử dụng ngân sách

thực sự có hiệu quả cần phải cải tổ cơ bản cả về cơ chế, chính sách và phương

thức lựa chọn các đề án, dự án chi ngân sách. Đối với những lĩnh vực khu vực

tư nhân có thể đảm nhiệm thì nên điều chỉnh lại phạm vi can thiệp của Nhà

nước, tăng cường áp dụng các động cơ kinh tế thị trường trong từng khâu,

từng giai đoạn của việc cung cấp dịch vụ, hàng hóa cơng cộng. Ngay cả đối

với các lĩnh vực Nhà nước phải đứng ra cung cấp, cũng cần áp dụng các cơng

cụ phân tích kinh tế (phân tích chi phí - lợi ích) để lựa chọn các cách thức có

chi phí thấp nhất. Gắn ngân sách với các kết quả đầu ra và tạo ra các hình

thức thưởng - phạt trên cơ sở kết quả đạt được cũng cần phải từng bước áp

dụng nhằm nâng cao trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách...



82

Quản lý chi NSNN phải hướng tới mục tiêu phát triển KT-XH địa

phương. Trong khi ưu tiên các lĩnh vực thiết yếu cho sự phát triển kinh tế mỗi

giai đoạn, quản lý chi NSNN cần phải đứng trên mục tiêu phát triển KT-XH.

3.3 Một số giải pháp nhằm hồn thiện cơng tác quản lý chi Ngân

sách nhà nước ở thành phố Tam Điệp

3.3.1 Về nội dung quản lý

Điều hành chi ngân sách trước hết phải ưu tiên chi các khoản trực tiếp

cho con người như lương, phụ cấp,sinh hoạt phí… Quản lý tách bạch các

khoản chi trực tiếp cho con người như các khoản lương và có tính chất lương

với các khoản chi chun mơn, các khoản chi quản lý hành chính, chi mua

sắm sửa chưa. Không cho phép điều chỉnh từ nội dung chi lương sang chi

hoạt động chun mơn, quản lý hành chính hoặc sửa chữa.

Cần quản lý tách bạch các khoản chi cho các hoạt động sự nghiệp và các

khoản chi phục vụ quản lý nhà nước trên nguyên tắc bố trí đủ kinh phí hoạt

động quản lý nhà nước, hạn chế bổ sung trong năm, tăng cường chi các hoạt

động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà HĐND đưa ra.

Điều này có thể giúp cho thành phố nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn

lực, đào tạo nhân tài phục vụ tốt cho quá trình phát triển kinh tế xã hội.

Cơ cấu chi thường xuyên ở thành phố trong thời gian tới cũng cần tăng

tỷ trọng chi cho các hoạt động sự nghiệp và giảm tỷ trọng chi cho các cơ quan

quản lý hành chính, đảng, đồn thể, phù hợp với xu thế phát triển.

Chi thường xuyên là khoản chi nhằm đảm bảo hoạt động bình thường

của cơ quan Đảng, bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội trong

thành phố, duy trì và phát triển các sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, xã

hội, xây dựng và bảo vệ an ninh, chính trị và an tồn xã hội. Do vậy chi

thường xuyên phải đảm bảo đúng theo dự toán, trình tự, chặt chẽ, tiết kiệm và

có hiệu quả.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Đánh giá tình hình quản lý chi NSNN ở TP Tam Điệp giai đoạn 2011-2014

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×