Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

79

+ Cụ thể hố chính sách tài chính tiền tệ vào địa phương để tạo động lực

cho sự phát triển của mỗi xã

+ Chống tham ơ, tham nhũng thất thốt lãng phí tài sản, vốn của nhà

nước và địa phương

3.2. Quan điểm, mục tiêu và phương hướng hồn thiện cơng tác

quản lý chi ngân sách nhà nước thành phố Tam Điệp

3.2.1. Quan điểm hồn thiện cơng tác quản lý chi ngân sách nhà nước

thành phố Tam Điệp

Để đạt được mục tiêu như trên, thành phố Tam Điệp đã xác định quan

điểm cho công tác quản lý chi NSNN của thành phố như sau:

Một là, quản lý chi NSNN phải đảm bảo kinh phí kịp thời cho thành phố

thực hiện các nhiệm vụ, sứ mệnh tương ứng của mình trong cơng cuộc phát

triển KT-XH trên địa bàn.

Để thúc đẩy kinh tế thành phố tăng trưởng và phát triển bền vững, trong khi

chưa có những thay đổi mạnh ở các thành phần kinh tế khác, tất yếu phải tăng

chi đầu tư công. Một mặt, tăng chi đầu tư công trực tiếp làm tăng tổng cầu trong

nền kinh tế. Mặt khác, tăng chi sẽ tác động, lôi kéo các thành phần kinh tế khác

mở rộng SXKD.Tuy nhiên việc tăng nguồn trong ngắn và trung hạn rất hạn chế,

nên yêu cầu đặt ra đầu tiên đối với quản lý chi NSNN của thành phố là phải kế

hoạch hóa được nhu cầu chi trên cơ sở đảm bảo các cân đối vững chắc về thu chi, về vay nợ thì mới đảm bảo thúc đẩy KT-XH phát triển được.

Hai là, do nguồn lực hạn chế trong khi nhu cầu lại tương đối lớn, nên

quản lý chi NSNN của thành phố phải bố trí phân bổ tập trung, trực tiếp cho

các nội dung và mục tiêu phát triển của địa phương. Rút kinh nghiệm giai

đoạn trước, do phân bổ ngân sách thành phố phân tán, dàn trải, nhiều cơng

trình, dự án khơng được phân đủ vốn theo tiến độ, hiệu quả sử dụng ngân sách

hạn chế, việc phân bổ ngân sách giai đoạn tới cần thực hiện nghiêm ngặt vấn

đề ưu tiên hóa.



80

Ba là, khi đã lựa chọn được các ưu tiên chi tiêu, vấn đề tiếp theo của

quản lý chi NSNN là phải lựa chọn các phương thức sử dụng đem lại hiệu quả

kinh tế, hiệu quả xã hội cao nhất.

Bốn là, quản lý chi NSNN cần từng bước tạo dựng cơ chế gắn kết kinh

phí với kết quả cung cấp dịch vụ cơng. Gắn kết kinh phí với kết quả càng chặt

chẽ thì áp lực sử dụng nguồn ngân sách hiệu quả càng cao. Việc đánh giá,

giám sát của người đóng thuế/người thụ hưởng cũng cụ thể hơn, rõ ràng hơn.

Năm là, quản lý chi NSNN cần phải hướng tới các mục tiêu dài hạn của

thành phố. Trong khi thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH của giai đoạn

tới, quản lý chi NSNN đồng thời phải tính đến mục đích phát triển bền vững

lâu dài trên địa bàn, ưu tiên cho chi đầu tư phát triển ở các xã kém phát triển

hơn, nâng cao mức sống của nhân dân các vùng này, thúc đẩy tăng trưởng,

giảm dần sự chênh lệch so với các vùng đô thị, tạo môi trường sống của con

người gần gũi với thiên nhiên và đảm bảo xanh, sạch, đẹp. Vấn đề không kém

phần quan trọng là phải chủ động, linh hoạt trước các biến động của nền kinh

tế, đặc biệt trong bối cảnh mở cửa và kinh tế thế giới đối mặt với nhiều bất ổn

kinh tế, chính trị, xã hội.

Sáu là hoàn thiện bộ máy, tăng cường chức năng, quyền hạn của bộ máy

quản lý, nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chi

ngân sách

3.2.2. Mục tiêu và phương hướng hồn thiện cơng tác quản lý chi

Mục tiêu cơ bản của việc hoàn thiện quản lý chi NSNN trên địa bàn

thành phố Tam Điệp thời gian tới là khắc phục những nhược điểm hiện nay và

từng bước hướng tới việc quản lý nguồn lực tài chính theo các chuẩn mực

hiện đại.

Quản lý chi NSNN trước hết phải nhằm thiết lập và duy trì được kỷ luật

tài khóa chặt chẽ. Muốn vậy, cần phải cải cách cơ bản công tác phân tích, dự

báo tổng nguồn lực dành cho khu vực cơng. Trên cơ sở giới hạn tổng nguồn



81

lực, quản lý chi phải kiểm soát được tổng nhu cầu trong phạm vi nguồn lực

cho phép.

Quản lý chi NSNN phải hướng tới việc phân bổ các nguồn lực có hạn đã

được xác định cho các ưu tiên phát triển KT-XH trên địa bàn, khắc phục cơ

bản việc phân chia ngân sách dàn trải, không thống nhất giữa các năm. Phân

bổ ngân sách phải thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhất là

chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nội bộ từng ngành. Cải cách tiền lương cũng

vẫn là một trong những lĩnh vực ưu tiên cho giai đoạn tới vì đây là gốc rễ để

nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Lĩnh vực không kém phần

quan trọng là việc nâng cao chất lượng và tính công bằng trong việc cung cấp

các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, hướng tới sự phát triển bền vững

của địa bàn.

Quản lý chi NSNN cũng phải tập trung cải thiện cơ bản hiệu quả sử dụng

ngân sách. Thực hiện phân bổ ngân sách theo các ưu tiên chiến lược địa

phương, ở những góc độ nhất định, sẽ khắc phục được những bất cập về hiệu

quả sử dụng vốn gắn với việc phân chia nguồn ngân sách dàn trải, không kịp

thời, không gắn với các kết quả hoạt động. Tuy nhiên, để sử dụng ngân sách

thực sự có hiệu quả cần phải cải tổ cơ bản cả về cơ chế, chính sách và phương

thức lựa chọn các đề án, dự án chi ngân sách. Đối với những lĩnh vực khu vực

tư nhân có thể đảm nhiệm thì nên điều chỉnh lại phạm vi can thiệp của Nhà

nước, tăng cường áp dụng các động cơ kinh tế thị trường trong từng khâu,

từng giai đoạn của việc cung cấp dịch vụ, hàng hóa cơng cộng. Ngay cả đối

với các lĩnh vực Nhà nước phải đứng ra cung cấp, cũng cần áp dụng các cơng

cụ phân tích kinh tế (phân tích chi phí - lợi ích) để lựa chọn các cách thức có

chi phí thấp nhất. Gắn ngân sách với các kết quả đầu ra và tạo ra các hình

thức thưởng - phạt trên cơ sở kết quả đạt được cũng cần phải từng bước áp

dụng nhằm nâng cao trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách...



82

Quản lý chi NSNN phải hướng tới mục tiêu phát triển KT-XH địa

phương. Trong khi ưu tiên các lĩnh vực thiết yếu cho sự phát triển kinh tế mỗi

giai đoạn, quản lý chi NSNN cần phải đứng trên mục tiêu phát triển KT-XH.

3.3 Một số giải pháp nhằm hồn thiện cơng tác quản lý chi Ngân

sách nhà nước ở thành phố Tam Điệp

3.3.1 Về nội dung quản lý

Điều hành chi ngân sách trước hết phải ưu tiên chi các khoản trực tiếp

cho con người như lương, phụ cấp,sinh hoạt phí… Quản lý tách bạch các

khoản chi trực tiếp cho con người như các khoản lương và có tính chất lương

với các khoản chi chun mơn, các khoản chi quản lý hành chính, chi mua

sắm sửa chưa. Không cho phép điều chỉnh từ nội dung chi lương sang chi

hoạt động chuyên môn, quản lý hành chính hoặc sửa chữa.

Cần quản lý tách bạch các khoản chi cho các hoạt động sự nghiệp và các

khoản chi phục vụ quản lý nhà nước trên nguyên tắc bố trí đủ kinh phí hoạt

động quản lý nhà nước, hạn chế bổ sung trong năm, tăng cường chi các hoạt

động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà HĐND đưa ra.

Điều này có thể giúp cho thành phố nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn

lực, đào tạo nhân tài phục vụ tốt cho quá trình phát triển kinh tế xã hội.

Cơ cấu chi thường xuyên ở thành phố trong thời gian tới cũng cần tăng

tỷ trọng chi cho các hoạt động sự nghiệp và giảm tỷ trọng chi cho các cơ quan

quản lý hành chính, đảng, đồn thể, phù hợp với xu thế phát triển.

Chi thường xuyên là khoản chi nhằm đảm bảo hoạt động bình thường

của cơ quan Đảng, bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội trong

thành phố, duy trì và phát triển các sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, xã

hội, xây dựng và bảo vệ an ninh, chính trị và an toàn xã hội. Do vậy chi

thường xuyên phải đảm bảo đúng theo dự tốn, trình tự, chặt chẽ, tiết kiệm và

có hiệu quả.



83

3.3.2. Về quy trình quản lý

3.3.2.1. Về lập dự toán chi ngân sách

a. Đầu tư thời gian cho cơng tác lập dự tốn chi NSNN cấp huyện

Vì số lượng các đơn vị dự toán của thành phố là khá lớn ( 50 đơn vị) nên

nếu chỉ thảo luận trong vòng 1 tháng sẽ dễ dẫn đến tình trạng dự tốn được

xây dựng chưa chính xác. UBND thành phố cần tổ chức xây dựng dự tốn cấp

mình chủ động hơn, sớm hơn, tập trung phối hợp, lấy ý kiến tham mưu của

các cơ quan chun mơn có liên quan trong q trình lập dự tốn để dự tốn

được lập chính xác nhất. Ví dụ như xây dựng dự tốn kinh phí tiền lương cần

có số liệu xác nhận từ phòng Nội vụ để tránh tình trạng khai gian hệ số lương

ở các đơn vị, xây dựng dự toán chi đảm bảo xã hội cần có số liệu xác nhận từ

xã, phường, Sở Lao động Thương binh và xã hội về số người được hưởng trợ

cấp, xây dựng dự toán về việc sửa chữa, mua sắm cần có sự tham mưu của

phòng Quản lý đơ thị, phòng kinh tế để đánh giá về hiện trạng và lên được dự

toán kỹ thuật chi tiết. Sự phối hợp giữa các đơn vị, phòng ban này cần có thời

gian để rà sốt, đối chiếu mới có thể chính xác được.

b. Áp dụng cơ chế phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán linh hoạt hơn

Việc áp dụng cứng nhắc định mức phân bổ ngân sách của tỉnh cho thành

phố vào việc phân bổ ngân sách cấp thành phố cho các đơn vị thụ hưởng ngân

sách làm cho ngân sách phân bổ chưa được cơng bằng, nơi thừa, nơi thiếu.

Lập dự tốn ngân sách cấp thành phố phải đặc biệt quan tâm tới việc xây

dựng các chuẩn mực khoa học làm cơ sở, căn cứ lập và xét duyệt dự toán của

các đơn vị qua 3 nhóm kinh phí: kinh phí lương, phụ cấp, kinh phí quản lý và

kinh phí sự nghiệp, đặc thù của từng đơn vị trên cơ sở cân đối tổng nguồn chi

được phân bổ về thành phố. Trong đó kinh phí tiền lương, phụ cấp cần đảm

bảo chính xác nhu cầu của đơn vị. Kinh phí quản lý và kinh phí sự nghiệp cần



84

được phân bổ cơng bằng với các đơn vị. Trên cở sở kinh phí còn lại thì phân

bổ phần đặc thù của từng đơn vị

Cụ thể:

Dự tốn chi nghiệp vụ và hoạt động chun mơn cho các đơn vị trường

học cần phân bổ dựa vào tiêu chí số lượng học sinh hoặc số lượng giáo viên

trên tổng số kinh phí được phân bổ cho sự nghiệp giáo dục.

Dự toán chi các đơn vị sự nghiệp khác như đài truyền thanh, trung tâm

văn hóa thơng tin thể thao, sự nghiệp y tế cần căn cứ vào các nhiệm vụ chi

phát sinh trong năm chứ không, số người thụ hưởng chứ khơng khốn theo

đầu dân số.

Phân bổ kinh phí chi Quản lý hành chính, Đảng, Đồn thể theo định mức

chi trên số lượng biên chế, và cần bổ sung thêm những khoản chi đặc thù cho

các cơ quan đơn vị có hoạt động quản lý nhà nước nhiều hơn các đơn vị khác.

c. Có chế tài xử lý phù hợp với việc bổ sung ngân sách trong năm

Trong năm nếu đơn vị nào phải bổ sung ngân sách nếu do nguyên nhân

chủ quan của đơn vị thì đề nghị kiểm điểm cụ thể, năm đó khơng được xếp

hoàn thành nhiệm vụ, tạo nề nếp trong lập dự toán.

d. Lựa chọn, quyết định danh mục và thứ tự ưu tiên các mục tiêu phát

triển KT-XH và các hoạt động cần triển khai để phân bổ dự toán hợp lý:

Những năm tới, muốn chi NSNN đóng vai trò tốt nhất cho việc thực hiện

phát triển KT-XH trên địa bàn, thành phố Tam Điệp cần phải tiến hành lựa

chọn, quyết định và sắp xếp thứ tự ưu tiên giữa các sản phẩm đầu ra, mục tiêu

kế hoạch và các hoạt động tương ứng để các nhiệm vụ chi không bị dàn trải

gây ra tính khơng hiệu quả. Xác định những hoạt động có mức độ ưu tiên thấp

để có thể giảm bớt hoặc ngừng thực hiện cho phù hợp với mức trần ngân sách

quy định.



85

Tiến hành sắp xếp thứ tự ưu tiên các đầu ra và hoạt động để giảm bớt dự

toán cho phù hợp với mức trần ngân sách. Bắt đầu với những đầu ra và hoạt

động có mức độ ưu tiên thấp. Cần có đánh giá khả năng:

- Giảm số lượng các hoạt động sẽ được thực thi

- Giảm số lượng các đầu vào cho các hoạt động, nghĩa là tìm những khả

năng thay thế tốn ít chi phí hơn.

- Hủy bỏ các hoạt động có mức độ ưu tiên thấp.

- Tìm kiếm các phương pháp thay thế để thực hiện các hoạt động. Ví dụ,

mở rộng cho khu vực tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ công không nhất

thiết phải sử dụng nguồn NSNN.

- Chuyển giao các hoạt động cho khu vực tư nhân, cộng đồng hoặc tổ

chức phi chính phủ.

- Áp dụng các loại phí để bù đắp các chi phí cung cấp dịch vụ.

Sau đó, sử dụng các biện pháp tương tự để đánh giá từng hoạt động và

đầu ra, bắt đầu từ các hoạt động ưu tiên thấp nhất đến ưu tiên cao nhất. Cần

tính đến việc loại trừ hoặc giảm quy mơ các đầu ra và các hoạt động được ưu

tiên ít nhất.

3.3.1.2. Về chấp hành ngân sách:

a. Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị dự toán

- Thành phố cần đẩy mạnh phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách

nhiệm về tổ chức bộ máy và biên chế cho các đơn vị, đặc biệt các đơn vị sự

nghiệp. Thực hiện chế độ khoán chi nhằm xác lập quy chế trao quyền tự chủ

rộng rãi cho người quản lý trong việc tái phân bổ nguồn lực và tính tự chủ tự

chịu trách nhiệm của họ về hoạt động của đơn vị nếu xảy ra sai phạm, thất

thoát, lãng phí trong việc sử dụng ngân sách và tài sản công

+ Đối với đơn vị tự đảm bảo cân đối từ nguồn thu của mình, đơn vị có

thể chủ động trả lương lớn hơn quy định theo chất lượng, hiệu quả cơng việc

để khuyến khích người lao động.



86

+ Đối với khu vực khơng có thu như cơ quan Đảng, đồn thể, các cơ

quan hành chính UBND các cấp… sẽ được Nhà nước đảm bảo toàn bộ nhu

cầu chi, song cần tiếp tục nghiên cứu để tinh giảm biên chế phù hợp với chức

năng, nhiệm vụ.

b. Cải tiến kiểm tra, kiểm sốt q trình chấp hành chi NSNN

- Phòng TC-KH cần phối hợp với KBNN cùng cấp rà soát, đối chiếu tất cả

các khoản chi NSNN theo từng quý để đảm bảo các khoản chi NSNN được

hạch tốn đầy đủ, chính xác, đúng mục lục NSNN. Đồng thời tổ chức kiểm tra,

giám sát chặt chẽ các khoản chi tiêu của đơn vị dự tốn về chi chế độ hội nghị,

cơng tác phí, mua sắm về đối tượng, tiêu chuẩn, định mức, nguồn kinh phí.

- Cần kiểm sốt nguồn chi lương và chi hoạt động thường xuyên,

nghiệp vụ chuyên môn tách bạch, không cho phép điều chỉnh từ chi lương

sang chi các hoạt động khác, tránh tình trạng các đơn vị gian lận trong q

trình lập dự tốn.

c. Thực hiện tốt cơng tác công khai:

- Đầy mạnh việc triển khai thực hiện quy chế cơng khai tài chính, quy

chế dân chủ, quy chế tự kiểm tra nhằm đảm bảo mở rộng đối tượng tham gia,

thanh tra, kiểm tra toàn diện các lĩnh vực đối với các đơn vị thụ hưởng

NSNN. Do phần lớn các sai phạm về tài chính là do quần chúng phát hiẹn

hoặc từ nội bộ đơn vị mà có nên cần thu thập nguồn thông tin từ quần chúng

để phát hiện và tiến hành kiểm tra, thanh tra.

- Thực hiện công khai, niêm yết các thủ tục về kiểm soát chi tại kho bạc

để các đơn vị năm rõ được quy trình, rút ngắn thời gian chi trả các khoản chi

thuộc về chế độ con người.

3.3.1.2. Về quyết toán chi ngân sách

+ Kiên quyết xuất toán các khoản chi khơng đúng nguồn ngân sách

trong dự tốn được giao. Trong q trình quyết tốn ngân sách ngồi việc



87

thực hiện dựa trên hồ sơ đơn vị lập thì cán bộ trực tiếp thẩm tra quyết toán

phải xuống đơn vị để đối chiếu hồ sơ với thực tế nhằm tránh trường hợp các

đơn vị có lập hồ sơ khống.

+ Khơng ngừng bồi dưỡng, nâng cao khả năng chuyên môn của người

làm công tác quyết toán NSNN ở các cấp và các đơn vị thụ hưởng ngân sách.

+ Trong cơng tác quyết tốn phải có thuyết minh chi tiết phân tích

ngun nhân tăng, giảm các khoản chi ngân sách so với dự toán đầu năm đã

được phân bổ, đi sâu phân tích tình hình tăng trưởng kinh tế, giá cả, hiệu quả

sản xuất kinh doanh, chính sách, chế độ.... làm cơ sở cho việc hoạch định kế

hoạch phát triển kinh tế-xã hội và xây dựng dự toán những năm tiếp theo.

+ Các đơn vị dự toán cần áp dụng đồng bộ cùng một bộ phần mềm kế

toán để việc báo cáo đồng nhất, dễ theo dõi. Tăng cường trao đổi, làm việc

trực tuyến để rút ngắn thời gian làm việc giữa các bên. Triển khai thực hiện

tốt hệ thống quản lý thông tin ngân sách và kho bạc (TABMIS) để có số liệu

đối chiếu chi ngân sách chuẩn xác nhất.

3.3.3. Về phương pháp quản lý

a. Hoàn thiện phương thức quản lý chi theo yếu tố đầu vào

Trong hàng loạt nội dung chi ngân sách có một số nội dung khơng lượng

hố được theo đầu ra nhưng vẫn cần thiết phải chi. Vì vậy, vấn đề đặt ra là

phải hoàn thiện phương thức quản lý để nâng cao hơn nữa hiệu quả chi phù

hợp các nội dung cụ thể.

Những nội dung chi tiếp tục thực hiện theo phương thức quản lý đầu vào gồm:

Chi thường xun Quốc phòng, an ninh.

Chi thường xun hành chính và quản lý Nhà nước.

Chi cho hoạt động của Đảng và các tổ chức chính trị xã hội.

Một số khoản chi khác.

Trong đó chi phí đầu vào bao gồm chi phí cho nhân sự, chi phí khấu hao



88

tài sản, chi phí gián tiếp như tiền thuê nhà, chi phí hành chính v.v.. cần được

xây dựng dựa trên hệ thống tiêu chuẩn định mức hợp lý. Cũng có thể chọn ra

một số khâu để xác định mức khoán hay mức trần chi tiêu cho một khối lượng

công việc nhất định như: khốn biên chế, quỹ- lương, dịch vụ cơng cộng như

điện, điện thoại...

b. Đẩy mạnh triển khai phương thức quản lý chi NSNN theo kết quả

đầu ra

Các nội dung chi có thể áp dụng theo kết quả đầu ra gồm

Hệ thống duy tu bảo dưỡng sửa chữa đường bộ giao thông, cống rãnh

thốt nước, vệ sinh mơi trường (rác thải sinh hoạt, dịch vụ khuyến nông, áp

dụng giống mới, dịch vụ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Chi ngân sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề

Các dịch vụ kiểm dịch, chăm sóc sức khoẻ, quản lý và chữa bệnh ngoại trú.

Bốn là, Các dịch vụ về thư viện

Năm là, Các sản phẩm văn hoá văn nghệ, tác phẩm.

Sáu là, Các dịch vụ thông tin cổ động.

Bảy là, Dịch vụ phát thanh truyền hình.

Tám là. nghiên cứu khoa học vào thực tế.

Chín là, Dịch vụ xét xử.

Mười là, Tư vấn các Bộ ngành.

Mười một là, Dịch vụ đảm bảo an ninh trật tự.

Mười hai là, Dịch vụ bảo đảm an tồn giao thơng.

Ngồi ra, một số lĩnh vực khác tuy chưa gắn với phân bổ, kiểm soát chi

ngân sách theo kết quả đầu ra, thì có thể áp dụng cơ chế khốn và trong

trường hợp nhất định có thể xác định từng công đoạn, từng phần việc để áp

dụng những phương pháp nhất định, hướng tới kết quả đầu ra.



89

Quy trình thực hiện chi ngân sách hướng theo kết quả đầu ra:

- Xây dựng kế hoạch, dự toán

Bao gồm: kế hoạch công việc của một đơn vị sử dụng ngân sách; Kế

hoạch kết quả của đơn vị đó; và kế hoạch tài chính

Để thực hiện phương thức chi ngân sách theo kết quả đầu ra, trước hết, điều

kiện cần là phải nằm trong chương trình kế hoạch, nên phải xây dựng chương

trình kế hoạch, đưa ra những nội dung yêu cầu đối với đầu ra và các thuyết minh

đi kèm, xác định giá trị bằng tiền của đầu ra tổng chi phí, nguồn thu, nguồn ngân

sách đảm bảo...).

- Xây dựng mức chi cho các đầu ra

Trên cơ sở các đầu ra đã được xác định, hệ thống định mức kinh tế kỹ

thuật, định mức công việc, mức chi hợp lý thống kê một số năm để xây dựng

mức chi cho một đầu ra. Ví dụ đối với đầu ra quản lý chữa trị các bệnh điều

trị nội trú, thì cần xác định định mức một ngày bình quân bao nhiêu bệnh

nhân khám chữa bệnh, số dịch vụ cấp cứu một ngày, số lượng bệnh nhân được

ra viện, thời gian giải quyết một ca bệnh, từ đó xây dựng mức chi để trang trải

cho một ngày điều trị, xác định số tiền thu được và xác định mức chi ngân

sách hợp lý. Trong trường hợp định mức kinh tế kỹ thuật thay đổi, cường độ

điều trị, chất lượng dịch vụ hay đổi theo hợp đồng cam kết thì có thể điều

chỉnh đỉnh mức công việc và mức chi.

- Thẩm định, xác định đối tượng, mức chi và tổ chức giải ngân

Khi đã đưa các kết quả đầu ra vào dự tốn ngân sách thì trong q trình

thực hiện, thẩm định lại để xác định đầu ra có trong dự tốn hay chưa, có đáp

ứng đầy đủ như hợp đồng thoả thuận, từ đó xác định mức chi ngân sách để

thực hiện giải ngân. Việc tổ chức giải ngân căn cứ vào dự toán năm, quý và

các chứng từ cần thiết khác cùng với lệnh chuẩn chi của thủ trưởng đơn vị,

kho bạc chuyển đến nơi thủ tưởng đơn vị yêu cầu. Quy trình này được tiến



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×