Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giới hạn quyền của người biểu diễn

Giới hạn quyền của người biểu diễn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Quyền của người biểu diễn

Nguyên tắc thứ nhất là việc sử dụng không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình

thường cuộc biểu diễn, khơng gây phương hại đến quyền của người biểu diễn

Nguyên tắc thứ hai là trong quá trình sử dụng, các chủ thể phải tơn trọng quyền của

người biểu diễn như thông tin về người biểu diễn, thông tin về cuộc biểu diễn…

4.2.



Các trường hợp giới hạn quyền của người biểu diễn



Cũng như quyền tác giả, quyền liên quan cũng chịu những giới hạn nhất định.

Những giới hạn này hạn chế độc quyền của chủ sở hữu quyền liên quan ở mức độ hợp

lý vì mục đích bảo vệ lợi ích chung, đáp ứng yêu cầu của xã hội sử dụng trong một số

trường hợp. Đó là các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép,

không phải trả nhuận bút, thù lao và các trường hợp sử dụng quyền liên quan không

phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao.



 Các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn không phải xin phép không phải trả

tiền thù lao

Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phải xin phép, không phải

trả tiền thù lao được quy định tại điều 32, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009):

“ Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu hoa học của cá nhân;

Tự sao chép một bản nhằm mục đích giảng dạy, trừ trường hợp cuộc biểu diễn,

bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được cơng bố để giảng dạy;

Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thơng tin;

Tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm thời để phát sóng hi được hưởng quyền phát

sóng”.

Cụ thể các hành vi này còn đươc làm rõ tại điều 32 LSHTT:

“ Các trường hợp sử dụng quyền liên quan khơng nhằm mục đích thương mại thì

khơng phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, bao gồm:

1. Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học của cá nhân quy định

tại điểm a khoản 1 Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Tự sao chép một bản nhằm mục đích giảng dạy, trừ trường hợp cuộc biểu diễn,

bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được cơng bố để giảng dạy quy định

tại điểm b khoản 1 Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ”.

Nhóm 2



Page 20



Quyền của người biểu diễn

Căn cứ theo điều 33 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009) quy định về việc trích

dẫn. Theo đó, việc trích dẫn cần phải xem xét trên các yếu tố cụ thể:

“ Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thơng tin quy định tại điểm c khoản 1

Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc sử dụng các trích đoạn nhằm mục đích thuần

tuý đưa tin, phải phù hợp với các điều kiện sau:

1. Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề

trong việc cung cấp thơng tin;

2. Số lượng và thực chất của phần trích dẫn từ cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi

hình, chương trình phát sóng khơng gây phương hại đến quyền của người biểu diễn,

quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, quyền của tổ chức phát sóng đối với

cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được sử dụng để trích

dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,

chương trình phát sóng được sử dụng để trích dẫn”.

Căn cứ theo điều 34, Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009) quy định về bản sao

tạm thời. Theo đó, bản sao tạm thời được hiểu như sau:

“ Bản sao tạm thời của tổ chức phát sóng được hưởng quyền phát sóng quy định

tại điểm d khoản 1 Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ là bản định hình có thời hạn, do tổ

chức phát sóng thực hiện bằng các phương tiện thiết bị của mình, nhằm phục vụ cho

buổi phát sóng ngay sau đó của chính tổ chức phát sóng. Trong trường hợp đặc biệt

thì bản sao đó được lưu trữ trong trung tâm lưu trữ chính thức”.

Như vậy, các quy định của pháp luật nhằm hạn chế việc độc quyền từ các tác giả,

người biểu diễn. bằng việc giới hạn quyền của người biểu diễn trong những trường

hơp trên nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho người biểu diễn. bằng việc chỉ sao chép

một bản,

 Các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn không phải xin phép nhưng phải trả

tiền thù lao.

Căn cứ theo điều 33, Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009) quy định:



Nhóm 2



Page 21



Quyền của người biểu diễn

“ a) Sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố nhằm

mục đích thương mại để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc

thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố trong hoạt động kinh doanh,

thương mại”.

Các trường hợp ngoại lệ này bao gồm các tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc

gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã cơng bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng

(hay chỉ đơn thuần là sử dụng các bản ghi này trong hoạt động kinh doanh, thương

mại) có hoặc khơng có tài trợ, quảng cáo, thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không

phải xin phép nhưng phải trả tiền thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền

tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi

sử dụng.

Căn cứ theo khoản 1 điều 35 NĐ 100/2006 quy định cụ thể về việc sử dụng trực

tiếp hay gián tiếp bản ghi âm, ghi hình cũng phải thanh tốn thù lao cho người biểu

diễn.

“ 1. Sử dụng trực tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố nhằm mục đích

thương mại để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền

dưới bất kỳ hình thức nào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 của Luật Sở hữu trí tuệ

là việc tổ chức phát sóng dùng chính bản ghi âm, ghi hình đó để phát sóng bằng

phương tiện vơ tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh, môi trường

kỹ thuật số.

Sử dụng gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố nhằm mục đích thương

mại để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất

kỳ hình thức nào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc

tiếp sóng, phát lại chương trình đã phát sóng; chuyển chương trình trong mơi trường

kỹ thuật số lên sóng”.

Căn cứ theo khoản 2 điều 35 NĐ 100/2006 quy định cụ thể về những trường hợp

được xem là sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố nhằm mục đích thương

mại để phát sóng khơng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất cứ hình thức nào:



Nhóm 2



Page 22



Quyền của người biểu diễn

“Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố trong hoạt động kinh doanh,

thương mại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc tổ

chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được công bố

để sử dụng tại nhà hàng, khách sạn, cửa hàng, siêu thị; cơ sở kinh doanh dịch vụ

karaoke, dịch vụ bưu chính, viễn thơng, mơi trường kỹ thuật số; trong các hoạt động

du lịch, hàng không, giao thông công cộng và các hoạt động kinh doanh, thương mại

khác”.

Bên cạnh đó, người biểu diễn còn được hưởng thù lao từ những bản ghi âm, ghi

hình trên sự thỏa thuận giữa người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình:

“ Việc hưởng tiền thù lao của người biểu diễn trong trường hợp bản ghi âm, ghi

hình được sử dụng quy định tại Điều 33 của Luật Sở hữu trí tuệ tuỳ thuộc vào thoả

thuận của người biểu diễn với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình khi thực hiện chương

trình ghi âm, ghi hình.

Tỉ lệ phân chia tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác do các chủ

thể quyền hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thoả thuận.

Các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có thể ủy thác cho một

tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện việc thu và phân

phối tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác. Tổ chức đại diện tập thể

quyền tác giả, quyền liên quan được ủy thác được hưởng một khoản phí nhất định

theo thoả thuận”.

Trong thực tế, nhiều chủ sở hữu quyền liên quan đã được hưởng nhuận bút và thù

lao từ việc sử dụng trên. Cụ thể Đài truyền hình Việt Nam và Đài phát thanh và truyền

hình của 15 tỉnh, thành phố đã thanh toán tiền cho chủ sở hữu khi sử dụng các tác

phẩm và bản ghi âm, ghi hình vì mục đích thực hiện các quảng cáo. Hãng hàng không

Việt Nam đã mua bản quyền các bản ghi âm, ghi hình để phát trên các tuyến hàng

khơng.

Tổ chức, cá nhân sử dụng những quyền trong các trường hợp nêu trên khơng được

làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,

chương trình phát sóng và khơng gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà

sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tồ chức phát sóng.

Nhóm 2



Page 23



Quyền của người biểu diễn

5. Thời hạn bảo hộ

5.1.

Cơ sở pháp lý.

Quyền của người biểu diễn không được bảo hộ vô thời hạn. Pháp luật quy định một

thời hạn nhất định. Thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn được trong quy định ở

pháp luật trong nước và ngay cả trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Đối với pháp luật trong nước thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn được quy

định tại Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ.

Đối với pháp luật quốc tế thời thạn bảo hộ quyền của người biểu diễn được quy

định tại Điều 14 Công ước Rome 1961, trong Hiệp định TRIPS và trong Hiệp ước của

WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) (1996) cụ thể tại Điều 17.

5.2.

Nội dung quy định pháp lý tại Việt Nam.

Nội dung của quy định thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn được quy định

tai Điều 34 LSHTT cụ thể như sau:

“Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo

năm cuộc biểu diễn được định hình.

Thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày

31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ các quyền liên quan”.

Đặc điểm chung của các quyền sở hữu trí tuệ là việc bảo hộ giới hạn về mặt thời

gian, tức là khi hết thời hạn bảo hộ thì quyền này cũng chấm dứt. Đối với quyền liên

quan, thời hạn này là 50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình;

bản ghi âm, ghi hình được cơng bố hoặc định hình (nếu chưa được cơng bố); chương

trình phát sóng được thực hiện. Quy định giới hạn quyền như trên vừa vẫn đảm bảo lợi

ích chính đáng của chủ sở hữu quyền liên quan vừa tính đến lợi ích của người sử dụng,

công chúng hưởng thụ.

Xét thấy, quyền liên quan trong sự so sánh vớ quyền tác giả. Đối với quyền tác giả

các quyền tài sản và quyền nhân thân có thể chuyển giao được quy định tại khoản 3

điều 19 LSHTT ( quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ với thời hạn thông thường là

suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết, đối với các quyền nhân

thân gắn liên với tác giả tại khoản 1,2 và 4 điều 19 LSHTT được bảo hộ vô thời hạn.

Khoản thời gian bảo hộ quyền của tác giả là khá dài và đối với quyền nhân thân thì

thời hạn là khơng xác định. Nhưng đối với quyền liên quan thì sự bảo hộ trên phạm vi

Nhóm 2



Page 24



Quyền của người biểu diễn

quốc tế cũng như pháp luật sở hữu trí tuệ hầu hết các quốc gia đề giới hạn thời gian

bảo hộ ở mức nhất định, thường là 50 năm kể từ khi các đối tượng (cuộc biểu diễn)

được định hình. Khoảng thời gian này là ngắn hơn nhiều so với thời gian bảo hộ của

quyền tác giả.

Thời gian bảo hộ như trên xác định ngay cả đối với các quyền nhân thân của người

biểu diễn, thời hạn này khác với thời hạn bảo hộ của quyền tác giả. Nếu như quyền

nhân thân được quy định tại khoản 1, 2 và 4 điều 19 LSHTT là vơ thời hạn thì quyền

nhân thân của người biểu diễn chỉ là 50 năm tính từ năm tiếp theo năm của cuộc biểu

diễn được định hình. Điều này khơng có nghĩa là tồn tại một sự bất bình dẳng nào đó

giữa quyền liên quan với quyền tác giả mà được giải thích bằng việc , quyền nhân thân

của người biểu diễn chỉ có thể được thực hiện và bảo đảm khi bản định hình cuộc biểu

diễn còn tốn tại, trong khi đó, do đặc tính kỹ thuật, các bản định hình cuộc biểu diễn

chỉ có thể được bảo quan trong thời hạn nhất định, điều đó khiến việc quy định bảo hộ

các quyền nhân thân trong quyền liên quan một các vô thời hạn được xem như trở nên

không cần thiết và không khả thi.

5.3.

Nội dung quy định pháp lý trong điều ước quốc tế.

Thời hạn quyền của người biểu diễn được quy định khá nhiều trong các điều ước

quốc tế. Tuy nhiên các điều ước quốc tế này khơng có sự giống nhau trong quy định

thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn. Đồng thời các điều ước quốc tế này không

quy định thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn cụ thể mà chỉ quy định thời hạn

bảo hộ tối thiểu, việc thời hạn bảo hộ kéo dài bao lâu sẽ là do các quốc gia thành viên

quy định so với mức bảo hộ tối thiểu đã được thỏa thuận.

Theo Công ước Rome 1961quy định thời han bảo hộ được hưởng theo Công ước

này phải kéo dài ít nhất cho đến khi hết thời hạn là 20 năm kể từ cuối năm:

“ Thực hiện định hình bản ghi âm đối với các bản ghi âm và đối với các tiết mục

biểu diễn trong bản ghi âm đó.

Tổ chức biểu diễn đối với các buổi biểu diễn khơng định hình trong các bản ghi

âm”.

Theo Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) 1996quy định

tạiĐiều 17về thời hạn bảo hộ như sau:

Nhóm 2



Page 25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giới hạn quyền của người biểu diễn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×