Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các hãng băng đĩa liên quan trong vụ việc này và RIAV lại cho rằng căn cứ theo khoản 1 điều 29 luật sở hữu trí tuệ, toàn bộ các bản ghi âm, ghi hình này thuộc quyền sở hữu của các nhà sản xuất còn phía Mỹ Tâm chỉ có các quyền nhân thân vì các bản ghi âm,

Các hãng băng đĩa liên quan trong vụ việc này và RIAV lại cho rằng căn cứ theo khoản 1 điều 29 luật sở hữu trí tuệ, toàn bộ các bản ghi âm, ghi hình này thuộc quyền sở hữu của các nhà sản xuất còn phía Mỹ Tâm chỉ có các quyền nhân thân vì các bản ghi âm,

Tải bản đầy đủ - 0trang

Quyền của người biểu diễn

luôn mong muốn mang lại quyền lợi và sự công bằng cho các nhà sản xuất bản ghi âm

và anh chị em ca sĩ, nghệ sĩ.

Căn cứ các điều khoản của Luật SHTT ban hành như đã nêu trên, việc Công ty

TNHH Thương mại Mỹ Tâm gửi thơng báo cho các đối tác của RIAV đòi phải thanh

toán tiền cho ca sĩ Mỹ Tâm mà họ đã ký hợp đồng với RIAV khai thác kinh doanh các

bản ghi do ca sĩ Mỹ Tâm thực hiện biểu diễn là khơng có đủ cơ sở pháp lý.

Để đảm bảo quyền lợi chung cho các nhà sản xuất bản ghi (hội viên của RIAV)

trong việc khai thác quyền liên quan, để giữ uy tín của RIAV đối với các đối tác, để

giữ mối quan hệ lâu dài giữa ca sĩ và các nhà sản xuất bản ghi, RIAV yêu cầu Công ty

TNHH DV Thuơng mại Mỹ Tâm nghiên cứu và áp dụng thực hiện đúng theo các điều

khoản quy định về quyền liên quan của Luật SHTT ban hành, đồng thời dừng và thu

hồi ngay các văn bản thông báo đã gửi đến các đối tác khách hàng của RIAV. Việc làm

của Công ty TNHH DV Thương mại Mỹ Tâm vừa qua đã làm trở ngại, gây thất thu và

làm ảnh huởng đến quyền lợi trong việc kinh doanh khai thác bản quyền của các nhà

sản xuất bản ghi và ảnh huởng đến uy tín của RIAV".

Yêu cầu này từ phía RIAV là khơng hợp lý. Bởi lẽ, buổi biểu diễn này do phía cơng

ty đầu tư tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật từ hình ảnh đến âm thanh. Ca sĩ Mỹ Tâm

được phía cơng ty mời đến buổi diễn và đã được nhận thù lao cho buổi biễn diễn. như

vậy, căn cứ theo khoản 1 điều 29 LSHTT thì nếu người biểu diễn khơng đồng thời là

chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài

sản đối với cuộc buổi diễn.

Xét thấy, tại khoản 3 điều 29 LSHTT có quy định về quyền tài sản thì phía cơng ty

có thể định hình cuộc biểu diễn trên bản ghi âm, ghi hình và thực hiện các quyền về

sao chép, phát sóng hay phân phối cuộc biểu diễn. Như vậy, phía cơng ty hồn tồn có

thể bán bản ghi âm, ghi hình của mình cho các nhà mạng và nhận thù lao. Hành vi này

của phía cơng ty không bị xem là hành vi xâm phạm bản quyền mà đang thực hiện

quyền của mình.

Nhưng đại diện phía công ty cho rằng căn cứ theo khoản 1 điều 29 thì ca sĩ Mỹ

tâm chỉ có các quyền nhân thân được quy định tại điểm 2 của điều này mà tước quyền

nhận thù lao từ việc phát sóng các bài hát do cô biểu diễn là không đúng. Bởi lẽ,mặc

Nhóm 2



Page 37



Quyền của người biểu diễn

dù ngay tại khoản 3 điều 29 LSHTT chỉ quy định về việc trả thù lao cho việc khai thác

quyền tài sản của người biểu diễn theo quy định của pháp luật. Nhưng ca sĩ Mỹ Tâm

khơng có quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn này thì đồng nghĩa với việc khơng được

hưởng thù lao. Xét quy định tại khoản 1 điều 33 LSHTT thì nếu bất cứ cá nhân, tổ

chức nào sử dụng trực tiếp hay gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã cơng bố nhằm mục

đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức

nào thì khơng phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho

người biểu diễn. Như vậy, mặc dù phía cơng ty là chủ sở hữu của cuộc biểu diễn theo

khoản 1 điều 44 LSHTT nhưng căn cứ theo điều 33 LSHTT thì ca sĩ Mỹ Tâm vẫn

được hưởng thù lao từ quyền liên quan của mình và cụ thể hơn là quyền của người

biểu diễn.

2.1.2.



Về phía ca sĩ Mỹ Tâm



Đại diện phía ca sĩ Mỹ Tâm cho rằng:

“Pháp luật thừa nhận các hãng băng đĩa là chủ sở hữu đối với bản ghi âm ghi

hình do chính mình sản xuất. Do đó các hãng băng đĩa được tự do kinh doanh và thu

lợi nhuận từ chính mình làm ra. Do vậy các hãng băng đĩa yêu cầu các tổ chức cá

nhân sử dụng quyền liên quan phải thanh toán thù lao cho mình là phù hợp với pháp

luật. Tuy nhiên, đó chỉ là quyền liên quan của các nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình.

Riêng quyền ghi âm của người biểu diễn vẫn thuộc về quyền tài sản của ca sĩ thể

hiện".

Xét thấy, yêu cầu của ca sĩ Mỹ Tâm là có căn cứ và cơ sở hơp lý. Bởi những căn cứ

sau:

Ca sĩ Mỹ Tâm tham gia vào buổi biểu diễn do Hiệp hội công nghiêp ghi âm Việt

Nam và đã trình bày những ca khúc thuộc quyền tác giả của mình và quyền tác gia của

người khác một cách hợp pháp. Như vậy, ca sĩ Mỹ tâm hoàn toàn được được xem là

người biểu diễn và được hưởng quyền của người biểu diễn theo quy định của pháp luật

Việt Nam

Mặc dù, ca sĩ Mỹ Tâm đã được nhận thù lao từ việc tham gia buổi biểu diễn nhưng

điều đó khơng có nghĩa là cơ sẽ khơng được hưởng thù lao từ việc các nhà mạng viễn

Nhóm 2



Page 38



Quyền của người biểu diễn

thông sử dụng những ca khúc do cơ trình bày nhằm mục đích thương mại. Vì căn cứ

theo điều khoản 1 điều 33 LSHTT thì người biểu diễn được nhận thù lao từ việc tổ

chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hay gián tiếp bản ghi âm, ghi hình. Bên cạnh đó, cơ

chưa hề chuyển giao quyền biểu diễn cho Hiêp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam bằng

bất cứ hợp đồng nào. Nên có hồn tồn có quyền hưởng thù lao theo đúng quy định

của pháp luật về quyền của người biểu diễn.

Trong những ca khúc cơ trình bày có một số ca khúc thuộc quyền tác giả của cô.

Nên bên cạnh việc hưởng thù lao từ quyền của người biểu diễn thì cơ còn được hưởng

nhuận bút của tác giả đối với những bài hát thuộc quyền tác giả của cơ.

2.1.3.

Về phía nhà mạng viễn thơng

Về phía nhà mạng viễn thơng cho rằng đã mua bản quyền bản ghi âm, ghi hình từ

phía RIAV nên không cần phải trả nhuận bút, thù lao cho ca sĩ nữa là khơng phù hợp.

Phía nhà mạng phải thanh tốn thù lao hợp lý cho phía ca sĩ Mỹ Tâm.

2.2.

Đánh giá.

Tại điều 29 LSHTT có quy định vè quyền của người biểu diễn là quyền nhân thân

và quyền tài sản. nhưng lại có sự mẫu thuẩn giữa các điều luật khiến khi áp dụng thưc

tế gây khó khăn cho các nhà lập pháp cũng như người dân. bởi lẽ, căn cứ theo khoản 1

điều 29 thì nếu ngươi biểu diễn khơng đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có

các quyền nhân thân và chủ đầu tư cuộc biểu diễn có quyền tài sản. bất cứ cá nhân, tổ

chức nào khai thác quyền tài sản đươc quy định tại khoản 3 điều này thì cần phải trả

thù lao cho người biểu diễn. Điều này được hiểu là nếu người biểu diễn không đồng

thời là chủ đầu tư thì khi cá nhân, tổ chức nào khai thác, sử dụng các quyền tài sản

được quy đinh tại điều 3 chỉ phải trả thù lao cho chủ sở hữu cuộc biểu diễn hay cụ thể

hơn là nhà đầu tư, người sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của mình.

Ngươi biểu diễn sẽ khơng được hưởng thù lao từ việc khai thác, sử dụng này.

Nhưng quy định tại khoản 1 điều 33 LSHTT cũng có quy định về việc cá nhân, tổ

chức nào sử dụng trực tiếp bản ghi âm, ghi hình lại phải thanh tốn thù lao cho người

biểu diễn. như vậy, khi người biểu diễn không đồng thời là chủ sở hữu cuộc biểu diễn,

ngoài các quyền nhân thân, họ được hưởng một khoản tiền thù lao khi người khác sử

dụng bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố nhằm mục đích thương mại để thực hiện

chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất cứ hình thức nào

hoặc sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố trong hoạt động kinh doanh

Nhóm 2



Page 39



Quyền của người biểu diễn

thương mại tai các nhà hàng, khách sạn, cửa hàng, siêu thị ...( căn cứ theo khoản 2

điều 35 NĐ 100/2006 ).

Theo đó, căn cứ theo khoản 3 điều 35 NĐ 100/2006 thì việc hưởng thù lao của

người biểu diễn trong trường hợp bản ghi âm, ghi hình được sử dụng tại để phát sóng

nhằm mục đích thương mại thì tùy thuộc vào thỏa thuận của người biểu diễn với nhà

sản xuất bản ghi âm, ghi hình khi thực hiện chương trình ghi âm, ghi hình. Do sơ suất

trong quá trình ký kết hợp đồng biểu diễn âm nhạc nên đã không phân định cụ thể

được quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình cũng như người biểu diễn như thế

nào, thêm vào đó là sự không rõ ràng trong các quy định của pháp luật khiến xảy ra

mâu thuẫn xung đột giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và người biểu diễn.

Việc hưởng thù lao trong trường hợp trên của người biểu diễn tuy được quy định

trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, nhưng không được quy định với tư cách là

một quyền của người biểu diễn. Trong khi đó, một số hệ thống pháp luật trên thế giới

xác định rõ đây là một quyền tài sản của người biểu diễn. ví dụ, pháp luật quyền liên

quan ở Anh quy định cụ thể người biểu diễn có quyền được đền bù thỏa đáng trong hai

trường hợp:

Thứ nhất: họ có quyền được trả thù lao xứng đáng bởi chủ sở hữu bản ghi âm cuộc

biểu diễn của họ khi bản ghi được phát hàng, phân phối tờ công chúng

Thứ hai: người biểu diễn cũng có quyền nhận thù lao thỏa đáng khi họ chuyển giao

quyền cho thuê đối với bản ghi âm hoặc phím cho nhà sản xuất của bản ghi âm hoặc

phim đó.



Chương 4: giải pháp – kiến nghị

Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã quy định cụ thể các quyền của người biểu diễn.

Nhưng để các quy định pháp luật thực sự đi vào đời sống, người biểu diễn thực sự

được thụ hưởng các quyền mà pháp luật cho phép, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ

biến pháp luật cho công chúng và trước hết là người biểu diễn để từ đó hình thành ý

thức tơn trọng, khai thác và sử dụng hợp pháp quyền của người biểu diễn. Chỉ khi các

chủ sở hữu quyền hiểu rõ các quy định pháp luật và biết cách tự bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của mình thì cơng tác bảo hộ quyền của người biểu diễn mới đạt hiệu

quả cao.

1. Giải pháp:

Nhóm 2



Page 40



Quyền của người biểu diễn

Thứ nhất, đối với quy định về thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn trong

Luật Sở hữu trí tuệ. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung

năm 2009, thời hạn bảo hộ quyền liên quan của người biểu diễn là năm mươi năm

tính từ năm tiếp theo cuộc biểu diễn được định hình. Việc quy định như vậy đã làm

hạn chế bớt quyền của người biểu diễn, dễ dẫn tới các hành vi làm ảnh hưởng tới

quyền cũng như uy tín, danh dự của người biểu diễn sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ

đối với cuộc biểu diễn. Để khắc phục được những hạn chế bất cập như trên, chúng ta

cần sửa đổi các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ theo hướng bảo hộ quyền nhân thân

của người biểu diễn giống với bảo hộ quyền nhân thân trong quyền tác giả về mặt

thời hạn. Cụ thể, sửa đổi khoản 1 Điều 34 Luật sở hữu trí tuệ theo hướng bảo hộ

quyền nhân thân và quyền tài sản có sự tách biệt về thời gian. Quyền tài sản vẫn được

bảo hộ có thời hạn là năm mươi năm, còn quyền nhân thân có thời hạn bảo hộ là vơ

thời hạn. Có như vậy mới đảm bảo được tốt nhất quyền của người biểu diễn, cũng

phù hợp với bản chất của quyền nhân thân trong quyền sở hữu trí tuệ, góp phần hạn

chế các hành vi xâm phạm quyền làm ảnh hưởng tới uy tín, danh dự của người biểu

diễn, thúc đẩy hơn nữa hoạt động sáng tạo nghệ thuật của người biểu diễn để tạo ra

nhiều cuộc biểu diễn chất lượng nghệ thuật cao phục vụ công chúng.

Thứ hai, về việc thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền của người biểu diễn.

Quyền của người biểu diễn có thể được thực hiện trực tiếp bởi từng nghệ sỹ nhưng

một cá nhân riêng lẻ, đặc biệt trong điều kiện môi trường kỹ thuật số khó có thể kiểm

sốt và quản lý tồn bộ việc khai thác, sử dụng cuộc biểu diễn và bản ghi âm cuộc

biểu diễn của mình. Vì vậy, việc thành lập một tổ chức nghề nghiệp hay hiệp hội chịu

trách nhiệm quản lý tập thể quyền của người biểu diễn góp phần tăng cường hiệu quả

cơng tác bảo hộ loại hình quyền này. Với thực trạng người biểu diễn ở Việt Nam có

thể là một lao động trong biên chế nhà nước, là lao động của một doanh nghiệp ngoài

quốc doanh hay một lao động tự do, cần thiết thành lập một tổ chức quản lý tập thể

quyền của người biểu diễn, tổ chức này có thể đại diện và quản lý quyền cho người

biểu diễn thuộc mọi thành phần kinh tế và hoạt động biểu diễn trong mọi lĩnh vực.

2. Một số kiến nghị khác



Nhóm 2



Page 41



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các hãng băng đĩa liên quan trong vụ việc này và RIAV lại cho rằng căn cứ theo khoản 1 điều 29 luật sở hữu trí tuệ, toàn bộ các bản ghi âm, ghi hình này thuộc quyền sở hữu của các nhà sản xuất còn phía Mỹ Tâm chỉ có các quyền nhân thân vì các bản ghi âm,

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×