Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: Nội dung quyền của người biểu diễn.

Chương 2: Nội dung quyền của người biểu diễn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Quyền của người biểu diễn

a) Cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài;

b) Cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam;

c) Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo quy

định tại Điều 30 của Luật này;”

Quy mơ và tính chất cuộc biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền của người biểu

diễn. Cuộc biểu diễn có thể chỉ đơn giản có một người biểu diễn như nhạc công độc

tấu một bản nhạc, cũng có thể có rất nhiều người biểu diễn cùng tham gia như một bộ

phim, một vở kịch hay một buổi biểu diễn ca nhạc lớn.

Đề cập tới việc xâm hại quyền của người biểu diễn, chúng ta hiểu rằng khách thể

quyền biểu diễn bị khai thác không hợp pháp. Trường hợp cuộc biểu diễn được định

hình trên bản ghi âm, ghi hình thì nó được bảo hộ quyền của nhà sản xuất ghi âm, ghi

hình. Nếu người biểu diễn đầu tư tài chính và các điều kiện vật chất cho việc định hình

bản ghi âm, ghi hình thì họ đồng thời là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Nếu cuộc

biểu diễn khơng được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà được phát sóng thì nó

được bảo hộ quyền của tổ chức phát sóng.

2. Quyền của người biểu diễn

2.1.



Cơ sở pháp lý.



Quyền của người biểu diễn được quy định tại điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ:

“Người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có các quyền nhân thân và các quyền

tài giả đối với cuộc biểu diễn; trong trường hợp người biểu diễn khơng đồng thời là

chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài

sản đối với cuộc biểu diễn.”

2.2.



Nội dung quyền của người biểu diễn.



Khi thỏa mãn các điều kiện luật định thì người biểu diễn được hưởng các quyền đối

với cuộc biểu diễn của họ. Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, quyền của người biểu

diễn bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

2.2.1.



Nhóm 2



Quyền nhân thân



Page 11



Quyền của người biểu diễn

Tại khoản 2 điều 29, Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền nhân thân của người biểu

diễn:

“a) Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát

sóng cuộc biểu diễn;

b) Bảo vệ sự tồn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt

xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín

của người biểu diễn”.

Nội dung cụ thể của các quyền:



 Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát

sóng cuộc biểu diễn.

Danh tiếng của một diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và các nghệ sĩ khác được

công chúng biết đến khi tên của họ được giới thiệu thơng qua các cuộc biểu diễn. để cá

biệt hóa hình tượng biểu diễn mà mình dày cơng gây dựng, người nghệ sĩ cần được

nêu tên mình trong mọi cuộc biểu diễn.

Quyền nhân thân này phải được đảm bảo không chỉ cho tồn bộ, mà còn đối với

từng phần nhất định của cuộc biểu diễn hoặc bản ghi, chương trình phát sóng. Việc chỉ

một phần của sự trình diễn được đưa tới công chứng không thể là lý do cho sự bỏ qua

quyền được giới thiệu tên của người biểu diễn.

Cách thức giới thiệu như thế nào cũng cần được quan tâm. Tên người biểu diễn

phải được giới thiệu theo cách mà những người nghe, người xem cuộc biểu diễn, bản

ghi, chương trình phát sóng có thể xác định được người biểu diễn đó. Cách thức cụ thể

có thể tùy theo sự thỏa thuận của người biểu diễn với người đưa chương trình biểu

diễn đến với cơng chúng.

Đối với những người biểu diễn gồm hai hay nhiều cá nhân trong một nhóm có tên

gọi nhất định, tên gọi được giới thiệu có thể là tên nhóm. Nếu tên người biểu diễn

được thể hiện bằng biểu tượng, kí tự viết tắt hay bất kì dấu hiệu nhận biết nào khác thì

cách thể hiện đó phải được sử dụng trong giới thiệu tên người biểu diễn, trường hợp có

lý do hợp lý (như vấn đề kĩ thuật…. ) thì đó có thể thay thế bằng một dạng biểu hiện

tương tự.

Nhóm 2



Page 12



Quyền của người biểu diễn

Có một số ngoại lệ đối với quyền giới thiệu tên người biểu diễn. Ví dụ như trong

trường hợp phần biểu diễn của họ được thực hiện nhằm mục đích quảng cáo hàng hóa,

dịch vụ nào đó, hoặc một vài phần biển diễn của họ được thực hiện nhằm mục đích

đưa tin, hay những nội dung được sử dụng cho hoạt động lập pháp hay phục vụ q

trình tố tụng,…



 Bảo vệ sự tồn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa,

cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và

uy tín của người biểu diễn

Hình tượng biểu diễn là khái niệm trừu tượng và có nội hàm rộng, được tạo nên từ

nhiều yếu tố khác nhau như phong cách biểu diễn, âm giọng, thái độ, cử chỉ,.. Tố chất

và sự sáng tạo riêng của mỗi người biểu diễn tạo nên hình tượng biểu diễn gắn liền với

tên tuổi của họ. Mặt khác, hình tượng đó có ý nghĩa cả về kinh tế đối với người biểu

diễn, là yếu tố quan trọng thu hút khán giả thưởng thức chương trình biểu diễn. Do

vậy, người biểu diễn cần được bảo hộ về hình tượng biểu diễn, tránh việc người khác

lợi dụng hoặc xuyên tạc.

Quyền nhân thân này cũng phải được bảo hộ không chỉ với cuộc biểu diễn hồn

chỉnh mà còn với bất kì phần đáng kể nào của cuộc biểu diễn. Ví dụ, việc chỉ phát

sóng một phần nhất định của cuộc biểu diễn không thể là lý do hợp lý cho bất kì hành

vi cắt xén, sửa chữa nào đối với phần biểu diễn đó gây phương hại đến danh tiếng

người biểu diễn.

Tuy nhiên, quyền này không ngăn cấm những chỉnh sửa kĩ thuật thông thường hoặc

những thao tác kĩ thuật cần thiết trong quá trình thực hiện bản ghi, chương trình phát

sóng

Căn cứ theo khoản 2 điều 45 LSHTT thì

“2. Tác giả khơng được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19,

trừ quyền công bố tác phẩm; người biểu diễn không được chuyển nhượng các quyền

nhân thân quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này”.

Căn cứ theo khoản 2 điều 47 LSHTT thì :



Nhóm 2



Page 13



Quyền của người biểu diễn

“ 2. Tác giả không được chuyển quyền sử dụng các quyền nhân thân quy định tại

Điều 19, trừ quyền công bố tác phẩm; người biểu diễn không được chuyển quyền sử

dụng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này”.

Như vậy, các quyền nhân thân của người biểu diễn, tương tự như các quyền nhân

thân của tác giả (trừ quyền công bố tác phẩm), là những quyền không được chuyển

nhượng.

Quy định này về cơ bản giống như điều 6 của Công ước Berne về quyền nhân thân

của tác giả, nhưng mức độ bảo hộ thấp hơn một chút (đối với quyền được công nhận là

người biểu diễn, yếu tố khả thi được tạo ra và phạm vi của quyền tôn trọng cũng hẹp

hơn). Đây là những quyền đặc biệt riêng của người biểu diễn so với các chủ thể quyền

liên quan còn lại và thể hiện mối quan hệ mật thiết với quyền tác giả.

2.2.2.



Quyền tài sản



Bên cạnh các quyền nhân thân, các quyền tài sản của người biểu diễn có ý nghĩa

đặc biệt quan trọng. Các quyền này được quy định trong Khoản 3 Điều 29 Luật sở hữu

trí tuệ và bao gồm có 4 quyền sau:



 Định hình trực tiếp cuộc biểu diễn của mình bằng bản ghi âm, ghi hình:

Quyền này được hiểu là quyền được ghi âm, ghi hình trực tiếp các cuộc biểu diễn.

Theo đó, chủ thể quyền có thể tự mình thực hiện việc định hình trực tiếp cuộc biểu

diễn, có thể thơng qua người khác thực hiện cơng việc này theo mục đích và vì lợi ích

của mình, hoặc có quyền cho hay khơng cho phép người khác ghi âm, ghi hình cuộc

biểu diễn đó. Quyền này áp dụng cho toàn bộ cuộc biểu diễn cũng như từng phần đáng

kể của nó.

Cần lưu ý việc định hình ở đây phải là “trực tiếp”, có nghĩa phải là việc ghi thu,

lưu định lại âm thanh hoặc hình ảnh từ chính cuộc biểu diễn đang diễn ra lên một vật

mang chứa thông tin chứ không phải từ một bản ghi hay chương trình phát sóng nào

khác.

 Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của

mình chưa được định hình mà cơng chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp

cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng:

Nhóm 2



Page 14



Quyền của người biểu diễn

Căn cứ theo khoản 3 điều 31 LSHTT giải thích về quyền của người biểu diễn:

“3. Truyền theo cách khác đến cơng chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình

quy định tại điểm c khoản 3 Điều 29 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc phổ biến cuộc biểu

diễn chưa được định hình đến cơng chúng bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngồi

phát sóng”.

Quyền này cho phép chủ thể quyền kiểm soát mọi sự tiếp cận, phổ biến của cuộc

biểu diễn tới công chúng, miễn là cuộc biểu diễn thỏa mãn điều kiện: khơng phải nhằm

mục đích phát sóng và chưa được định hình.

 Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình

trên bản ghi âm, ghi hình:

Căn cứ theo quy định tại khoản 10 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ giải thích là:

“ Việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình

bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình

thức điện tử "

Như vậy, sao chép cuộc biểu diễn là việc tạo ra bản sao của bản ghi âm, ghi hình

cuộc biểu diễn.

Trong đó, theo Điều 31 Nghị định 100/2006/NĐ-CP, được coi là

“ 1. Sao chép trực tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình

theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc tạo ra các

bản sao khác từ chính bản ghi âm, ghi hình đó.

3. Sao chép gián tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình

theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc tạo ra các

bản sao khác không từ chính bản ghi âm, ghi hình đó như việc sao chép từ mạng

thơng tin điện tử, chương trình phát sóng, dịch vụ mạng bưu chính viễn thơng liên

quan và các hình thức tương tự khác”.

Như vậy, quyền này đòi hỏi cần phải có được sự cho phép của người biểu diễn đối

với việc tạo ra mọi bản sao của cuộc biểu diễn của họ, bất kể bản sao đó được tạo ra

một cách trực tiếp hay gián tiếp. Mặt khác, có thể thấy khái niệm “sao chép” cũng



Nhóm 2



Page 15



Quyền của người biểu diễn

được mở rộng hơn so với quan niệm truyền thống: khơng chỉ là sao chép dưới hình

thức vật chất hữu hình bằng kỹ thuật tương tự, mà cả “ dưới hình thức điện tử ”.

 Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình

thơng qua hình thức bán, cho th hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ

thuật nào mà cơng chúng có thể tiếp cận được:

Quyền phân phối này được coi là bị xâm phạm khi một người đưa bản ghi cuộc

biểu diễn tiếp cận tới công chúng mà không được sự cho phép của người biểu diễn

hoặc người nắm giữ hợp pháp quyền này.

Việc hưởng thù lao trong trường hợp trên của người biểu diễn được quy định tại

khoản 4 điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam:

“Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền quy định tại khoản 3 Điều này

(các quyền tài sản) phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn theo quy định của pháp

luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định ”

Trên đây là các quyền nhân thân và quyền tài sản mà pháp luật sở hữu trí tuệ Việt

Nam quy định là “ quyền của người biểu diễn ”. Song, không phải trong mọi trường

hợp, người biểu diễn đều được hưởng đầy đủ các quyền nói trên, mà việc được hưởng

quyền nào cần phải căn cứ vào tư cách chủ thể của họ đối với cuộc biểu diễn. Người

biểu diễn có thể chỉ đơn thuần mang tư cách người biểu diễn nhưng cũng có thể đồng

thời là chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn đó nếu tự mình đầu tư thực hiện cuộc biểu

diễn. Nếu người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thực hiện cuộc biểu diễn thì có

quyền nhân thân và tài sản, còn nếu chỉ đơn thuần là người biểu diễn thì người đó có

quyền nhân thân, ngồi ra họ còn được hưởng một khoản tiền thu lao khi người khác

sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố nhằm mục đích thương mai để thực

hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kì hình thức

nào, hoặc sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được cơng bố trong hoạt động kinh doanh

thương mai. Việc hưởng tiền thù lao của người biểu diễn trong các trường hợp này tùy

thuộc vào thỏa thuận giữa người biểu diễn với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình khi

thực hiện chương trình ghi âm, ghi hình.

2.3.

Nhóm 2



Hành vi xâm phạm của quyền liên quan.

Page 16



Quyền của người biểu diễn

Căn cứ theo điều 34 LSHTT quy định:

“1. Chiếm đoạt quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức

phát sóng.

2. Mạo danh người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.

3. Cơng bố, sản xuất và phân phối cuộc biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm, ghi

hình, chương trình phát sóng mà không được phép của người biểu diễn, nhà sản xuất

bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.

4. Sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào đối với cuộc biểu diễn gây

phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

5. Sao chép, trích ghép đối với cuộc biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm, ghi

hình, chương trình phát sóng mà không được phép của người biểu diễn, nhà sản xuất

bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.

6. Dỡ bỏ hoặc thay đổi thơng tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử mà không được

phép của chủ sở hữu quyền liên quan.

7. Cố ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền liên quan

thực hiện để bảo vệ quyền liên quan của mình.

8. Phát sóng, phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng cuộc biểu diễn, bản

sao cuộc biểu diễn đã được định hình hoặc bản ghi âm, ghi hình khi biết hoặc có cơ

sở để biết thơng tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử đã bị dỡ bỏ hoặc đã bị thay

đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan.

9. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê

thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó giải mã trái phép một tín hiệu vệ tinh

mang chương trình được mã hố.

10. Cố ý thu hoặc tiếp tục phân phối một tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã

hố khi tín hiệu đã được giải mã mà không được phép của người phân phối hợp

pháp”.

2.4.



Nhóm 2



Quy định về quyền của người biểu diễn trong điều ước quốc tế



Page 17



Quyền của người biểu diễn

Theo quy định tại điều 3a Công ước Rome 1961 (Công ước quốc tế bảo hộ người

biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng) định nghĩa “người biểu diễn” là

các diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ cơng và những người khác đóng vai diễn, hát, đọc

ngâm, trình bày hoặc thể hiện tác phẩm văn học và nghệ thuật. Cụ thể tại điều 7 Công

ước Rome 1961 quy định về:

“Bảo hộ tối thiểu dành cho người biểu diễn ngăn cấm những hành vi:

Phát sóng hoặc truyền phát tới công chúng buổi biểu diễn của người biểu diễn mà

khơng có thỏa thuận, trừ khi bản thân buổi biểu diễn đã là một chương trình phát sóng

hoặc đã được thực hiện từ một bản ghi âm

Định hình buổi biểu diễn chưa được định hình của người biểu diễn khơng có sự

thỏa thuận

Sao chép bản ghi buổi biểu diễn khơng có sự thoả thuận

Nếu thực hiện việc định hình chính bản ghi âm gốc khơng có sự thoả thuận;

Nếu sự sao chép này thực hiện với mục đích khác với các mục đích đã thoả thuận

với những người biểu diễn;

Nếu định hình bản gốc theo các quy định của Điều 15 (Sử dụng cá nhân; Sử dụng

các trích dẫn ngắn nhằm mục đích đưa tin thời sự; Ghi âm tạm thời do một tổ chức

phát sóng thực hiện bằng các phương tiện riêng phục vụ buổi phát sóng của chính

họ; Sử dụng chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và giảng dạy) của Công ước nhưng sự

sao chép lại thực hiện với mục đích khác với các mục đích đã ghi trong các quy định

đó”.

3. Chuyển giao quyền của người biểu diễn

Các quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn không phải luôn luôn thuộc

về người biểu diễn. Ngồi các quyền nhân thân là quyền khơng thể chuyển giao, chủ

sở hữu quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn có thể là tổ chức, cá nhân khác được

chuyển giao quyền hoặc tổ chức, cá nhân đã đầu tư tài chính, kinh phí và cơ sở vật

chất để thực hiện cuộc biểu diễn. Khi đó người biểu diễn chỉ còn lại các quyền nhân

thân, còn chủ sở hữu quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn được quyền thực hiện hoặc

cho phép người khác thực hiện các quyền tài sản theo luật định. Các quyền tài sản gắn

Nhóm 2



Page 18



Quyền của người biểu diễn

liền và là cơ sở pháp lý để khai thác các lợi ích kinh tế từ cuộc biểu diễn, do đó trong

hợp đồng chuyển giao quyền hay hợp đồng biểu diễn cần xác định rõ chủ sở hữu

quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn. Trên thực tế, tại Việt Nam trong những năm trước

đây, khi thực hiện cuộc biểu diễn, ghi âm cuộc biểu diễn các bên thường thiếu thỏa

thuận bằng văn bản đối với vấn đề này, dẫn đến phát sinh tranh chấp trong quá trình

khai thác và sử dụng cuộc biểu diễn, đặc biệt đối với việc sử dụng lại bản ghi âm cuộc

biểu diễn vào mục đích thương mại.

Trừ quyền cơng bố tác phẩm; người biểu diễn không được chuyển nhượng

các quyền nhân thân như: Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm,

ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn; Bảo vệ sự tồn vẹn hình tượng biểu diễn, không

cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây

phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

4. Giới hạn quyền của người biểu diễn

Bảo vệ quyền liên quan là bước đi cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của những người đã có cơng trong việc truyền tải các tác phẩm đến công chúng đồng

thời khuyến khích sự sáng tạo. Pháp luật đã quy định cho các chủ thể này những độc

quyền trong việc sử dụng, khai thác thành quả sáng tạo của mình. Tuy nhiên, để xã hội

có thể tiếp cận cũng như thưởng thức một cách cơng bằng thì cần có sự hài hòa giữa

các đặc quyền của chủ sở hữu quyền liên quan với quyền được thưởng thức của công

chúng.

Hầu hết pháp luật của các quốc gia đều có quy định về giới hạn quyền liên quan.

Đó là những hạn chế về quyền liên quan hay còn được hiểu như là các “ngoại lệ” của

quyền liên quan. Trong những trường hợp đặc biệt nhằm đáp ứng các nhu cầu chính

đáng phục vụ công tác thông tin, nghiên cứu khoa học, giảng dạy và chính sách xã hội;

pháp luật cho phép sử dụng quyền liên quan mà không phải xin phép và tùy thuộc mục

đích sử dụng mà phải trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc không nhưng phải ghi hoặc nhắc

tên tác giả và nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,

chương trình phát sóng. Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã dẫn

ra các trường hợp cụ thể.

4.1.

Nhóm 2



Các nguyên tắc giới hạn quyền của người biểu diễn

Page 19



Quyền của người biểu diễn

Nguyên tắc thứ nhất là việc sử dụng khơng làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình

thường cuộc biểu diễn, không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn

Nguyên tắc thứ hai là trong quá trình sử dụng, các chủ thể phải tôn trọng quyền của

người biểu diễn như thông tin về người biểu diễn, thông tin về cuộc biểu diễn…

4.2.



Các trường hợp giới hạn quyền của người biểu diễn



Cũng như quyền tác giả, quyền liên quan cũng chịu những giới hạn nhất định.

Những giới hạn này hạn chế độc quyền của chủ sở hữu quyền liên quan ở mức độ hợp

lý vì mục đích bảo vệ lợi ích chung, đáp ứng yêu cầu của xã hội sử dụng trong một số

trường hợp. Đó là các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép,

không phải trả nhuận bút, thù lao và các trường hợp sử dụng quyền liên quan không

phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao.



 Các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn không phải xin phép không phải trả

tiền thù lao

Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phải xin phép, không phải

trả tiền thù lao được quy định tại điều 32, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009):

“ Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu hoa học của cá nhân;

Tự sao chép một bản nhằm mục đích giảng dạy, trừ trường hợp cuộc biểu diễn,

bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được cơng bố để giảng dạy;

Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thơng tin;

Tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm thời để phát sóng hi được hưởng quyền phát

sóng”.

Cụ thể các hành vi này còn đươc làm rõ tại điều 32 LSHTT:

“ Các trường hợp sử dụng quyền liên quan khơng nhằm mục đích thương mại thì

khơng phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, bao gồm:

1. Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học của cá nhân quy định

tại điểm a khoản 1 Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Tự sao chép một bản nhằm mục đích giảng dạy, trừ trường hợp cuộc biểu diễn,

bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được cơng bố để giảng dạy quy định

tại điểm b khoản 1 Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ”.

Nhóm 2



Page 20



Quyền của người biểu diễn

Căn cứ theo điều 33 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009) quy định về việc trích

dẫn. Theo đó, việc trích dẫn cần phải xem xét trên các yếu tố cụ thể:

“ Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thông tin quy định tại điểm c khoản 1

Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc sử dụng các trích đoạn nhằm mục đích thuần

tuý đưa tin, phải phù hợp với các điều kiện sau:

1. Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề

trong việc cung cấp thông tin;

2. Số lượng và thực chất của phần trích dẫn từ cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi

hình, chương trình phát sóng khơng gây phương hại đến quyền của người biểu diễn,

quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, quyền của tổ chức phát sóng đối với

cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được sử dụng để trích

dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,

chương trình phát sóng được sử dụng để trích dẫn”.

Căn cứ theo điều 34, Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009) quy định về bản sao

tạm thời. Theo đó, bản sao tạm thời được hiểu như sau:

“ Bản sao tạm thời của tổ chức phát sóng được hưởng quyền phát sóng quy định

tại điểm d khoản 1 Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ là bản định hình có thời hạn, do tổ

chức phát sóng thực hiện bằng các phương tiện thiết bị của mình, nhằm phục vụ cho

buổi phát sóng ngay sau đó của chính tổ chức phát sóng. Trong trường hợp đặc biệt

thì bản sao đó được lưu trữ trong trung tâm lưu trữ chính thức”.

Như vậy, các quy định của pháp luật nhằm hạn chế việc độc quyền từ các tác giả,

người biểu diễn. bằng việc giới hạn quyền của người biểu diễn trong những trường

hơp trên nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho người biểu diễn. bằng việc chỉ sao chép

một bản,

 Các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn không phải xin phép nhưng phải trả

tiền thù lao.

Căn cứ theo điều 33, Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009) quy định:



Nhóm 2



Page 21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: Nội dung quyền của người biểu diễn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×