Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: Những lý luận chung về người biểu diễn

Chương 1: Những lý luận chung về người biểu diễn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Quyền của người biểu diễn

1.2.



Đặc điểm



Tên gọi quyền liên quan đến quyền tác giả đã phần nào cho thấy rằng, quyền liên

quan và quyền tác giả có sự gần gũi nhất định, thể hiện ở một số đặc điểm chung phân

biệt chúng với nhóm quyền sở hữu cơng nghiệp. Đó là tính chất sáng tạo, tính nguyên

gốc của đối tượng được bảo hộ, tính tự động của cơ chế xác lập sự bảo hộ… Tuy

nhiên, là một lĩnh vực cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ, quyền liên quan có các đặc

trưng riêng của nó như sau:



 Hoạt động của các chủ thể quyền liên quan chính là hành vi sử dụng tác

phẩm đã có:

Đúng như tên gọi của nó, quyền liên quan có mối liên hệ mật thiết với quyền tác

giả mà biểu hiện dễ thấy nhất là việc tác phẩm đã được tác giả sáng tạo chính là cơ sở

để các chủ thể quyền liên quan tiến hành các hoạt động nghề nghiệp của mình mà từ

đó phát sinh các quyền này. Hành vi sáng tạo nghệ thuật làm phát sinh các quyền mà

pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ cho người ca sĩ chính là việc trình bày các ca khúc đã

được sáng tác, với người nhạc cơng đó là sự thể hiện những bản nhạc đã được viết bởi

các nhà soạn nhạc. Với diễn viên cũng vậy, dù là trong một vở kịch, một bài múa hay

trước máy quay, diễn xuất của họ không thể khơng dựa trên một kịch bản có sẵn từ

trước, mặc dù kịch bản ấy có thể chi tiết đến từng lời thoại, động tác hay dành rất

nhiều “ đất trống ” cho người diễn viên tự do ứng biến bằng khả năng diễn xuất của

mình. Các nhà sản xuất băng đĩa càng khơng có gì để ghi thu lại một khi khơng có tác

phẩm nào để người biểu diễn có thể trình bày…

 Đối tượng quyền liên quan được bảo hộ khi có tính ngun gốc:

Tính chất này của đối tượng quyền liên quan được xem xét trên hai phương diện

chủ yếu sau:

Thứ nhất, tính nguyên gốc được xác định trên cơ sở lao động sáng tạo mang dấu ấn

cá nhân của chủ thể.

Thứ hai, tính nguyên gốc của quyền liên quan còn được thể hiện ở việc quyền liên

quan chỉ được xác định theo các đối tượng của quyền liên quan được tạo ra lần đầu

tiên.

 Quyền liên quan chỉ được bảo hộ trong thời hạn nhất định, kể cả các quyền

nhân thân:



Nhóm 2



Page 5



Quyền của người biểu diễn

Đây là một đặc điểm riêng biệt của quyền liên quan trong sự so sánh với quyền tác

giả và cả quyền sở hữu công nghiệp. Đối với quyền tác giả, các quyền tài sản và các

quyền nhân thân có thể chuyển dịch (quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ với thời

hạn thông thường là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết; các quyền

nhân thân gắn liền với tác giả không thể chuyển dịch được bảo hộ vô thời hạn. Đối với

quyền sở hữu công nghiệp, thời hạn bảo hộ phần lớn là xác định (có thể gia hạn hoặc

khơng), tuy nhiên, đối với tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, thời hạn

bảo hộ là không xác định và sẽ kéo dài đến khi nào các đối tượng này còn đáp ứng

được điều kiện bảo hộ.

Như vậy, thơng thường thì ln có một số đối tượng của quyền tác giả và quyền sở

hữu công nghiệp được bảo hộ với thời hạn không xác định. Tuy nhiên, đối với quyền

liên quan, sự bảo hộ trên phạm vi quốc tế cũng như pháp luật sở hữu trí tuệ hầu hết các

quốc gia đều giới hạn thời hạn bảo hộ ở mức độ nhất định, thường là 50 năm kể từ khi

các đối tượng (cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng) được định hình

hoặc cơng bố.

 Quyền liên quan được bảo hộ trên nguyên tắc không làm phương hại đến

quyền tác giả:

Hình thành sau khi quyền tác giả đã được bảo hộ một cách phổ biến và rộng rãi, lại

mang bản chất gắn bó mật thiết với quyền tác giả, do vậy việc bảo hộ quyền liên quan

bao giờ cũng được xem xét trong mối quan hệ với quyền tác giả và thể hiện nguyên tắc

không gây bất kỳ sự phương hại nào có thể đối với quyền này.

2. Chủ thể biểu diễn được pháp luật bảo hộ

Căn cứ theo khoản 1 điều 16 Luật sở hữu trí tuệ quy đinh:

“ Người biểu diễn là người sử dụng tác phẩm một cách sáng tạo trong việc thể hiện

các tác phẩm văn học nghệ thuật, bao gồm diễn viên, ca sĩ, nhạc cơng, vũ cơng và

những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật”.

Một tác phẩm có thể đến với công chúng bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng

thông qua người biểu diễn với sự cảm thụ và thể hiện sáng tạo của mình thì tác phẩm

trở nên sinh động và có sức truyền thụ tới cơng chúng nhanh nhất. Chính vì vậy, dù

các hình thức giải trí ngày càng đa dạng nhưng số lượng người biểu diễn không

ngừng gia tăng và nền công nghiệp biểu diễn vẫn không ngừng phát triển. Người biểu

Nhóm 2



Page 6



Quyền của người biểu diễn

diễn là cầu nối giữa tác giả và công chúng, góp phần truyền bá, lưu giữ và phát triển

các tác phẩm có giá trị, do đó pháp luật đã cơng nhận và bảo hộ các quyền của người

biểu diễn đối với cuộc biểu diễn của mình.

Căn cứ theo khoản 2 điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy đinh:

“2. Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu cuộc biểu diễn quy định tại khoản 1 Điều 44

của Luật này”

Căn cứ theo điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy đinh:

“ 1. Tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ

thuật của mình để thực hiện cuộc biểu diễn là chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn đó,

trừ trường hợp có thoả thuận khác với bên liên quan”.

Trong đó, nếu người biểu diễn tự mình đầu tư tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật

để thực hiện cuộc biểu diễn thì họ là người biểu diễn đồng thời là chủ sở hữu đối với

cuộc biểu diễn đó. Nếu do người khác đầu tư tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật để thực

hiện cuộc biểu diễn đó thì chủ sở hữu quyền liên quan là tổ chức, cá nhân đầu tư.

Quy mơ và tính chất cuộc biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền của người biểu

diễn. Cuộc biểu diễn có thể chỉ đơn giản có một người biểu diễn như nhạc công độc

tấu một bản nhạc, cũng có thể có rất nhiều người biểu diễn cùng tham gia như một bộ

phim, một vở kịch hay một buổi biểu diễn ca nhạc lớn. Để thực hiện một cuộc biểu

diễn lớn như vậy thường cần có sự hợp tác của rất nhiều người nhưng chỉ những

người trực tiếp trình diễn, thể hiện tác phẩm mới được coi là người biểu diễn và về

nguyên tắc họ là chủ sở hữu quyền đầu tiên đối với cuộc biểu diễn.

Những ai được coi là người biểu diễn được quy định rõ tại điều 3 Công ước quốc

tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng (Cơng ước

Rome):

“Người biểu diễn là các diễn viên, ca sỹ, nhạc công, vũ công và các người khác

nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày, hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học, nghệ

thuật”.

Trong khái niệm người biểu diễn được mở rộng, ngoài những chủ thể tương tự

được liệt kê trong Cơng ước Rome, người biểu diễn còn bao gồm người trình bày các

Nhóm 2



Page 7



Quyền của người biểu diễn

hình thức thể hiện dân gian Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (Hiệp

ước WPPT năm 1996).

Giống như mọi khái niệm pháp lý, khái niệm người biểu diễn khơng chỉ biến đổi

theo thời gian mà còn có những khác biệt theo phạm vi lãnh thổ. Pháp luật các nước

tùy thuộc điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và kỹ năng lập pháp đã có những điều

chỉnh trong việc đưa ra khái niệm người biểu diễn và cuộc biểu diễn, cũng như điều

kiện để được bảo hộ quyền của người biểu diễn. Trên cơ sở khái niệm người biểu

diễn của Công ước Rome, Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam liệt kê các tổ chức,

cá nhân được bảo hộ quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam.

3. Lý do bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Khơng khó để nhận ra người biểu diễn đã đóng góp khơng nhỏ sức sáng tạo trong

q trình biểu diễn các tác phẩm, vì vậy các cơng ước quốc tế, cũng như luật pháp các

quốc gia đã thừa nhận và bảo hộ quyền của người biểu diễn. Tuy nhiên, mức độ bảo

hộ của các nước không đồng nhất. Một số nước đã coi cuộc biểu diễn là một sản

phẩm sáng tạo độc lập và người biểu diễn hưởng các quyền riêng biệt.

Ví dụ: Luật Bản quyền, Thiết kế và sáng chế năm 1988 của Anh quy định Quyền

của người biểu diễn:

“Độc lập với bất cứ quyền tác giả, quyền nhân thân đối với tác phẩm được biểu

diễn hay bất kỳ bộ phim, bản ghi âm, chương trình phát sóng hoặc chương trình cáp

nào có trong buổi biểu diễn và bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào khác...”.

Điều 7.1 Luật Bản quyền Đài Loan cũng khẳng định:

“Người biểu diễn trình diễn tác phẩm hoặc các thể hiện dân gian được bảo hộ

độc lập. Việc bảo hộ quyền của người biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền tác giả

của tác phẩm gốc”.

Trong khi nhiều nước khác nhận định người biểu diễn chỉ đơn thuần trình diễn lại

tác phẩm, mức độ sáng tạo thấp hơn so với các tác phẩm thông thường, do đó cho

người biểu diễn được hưởng quyền đối với buổi biểu diễn của mình ở cấp độ thấp

hơn dưới dạng quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi tắt là quyền liên quan).



Nhóm 2



Page 8



Quyền của người biểu diễn

Ví dụ: tại Mục II Chương II Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam về nội dung, giới hạn

quyền và thời hạn bảo hộ quyền liên quan đã liệt kê các đối tượng được bảo hộ quyền

liên quan, trong đó Quyền của người biểu diễn được quy định tại Điều 29.

Dù cuộc biểu diễn được bảo hộ như một sản phẩm sáng tạo độc lập hay như một

đối tượng của quyền liên quan, việc bảo hộ quyền của người biểu diễn là rất cần thiết.

Bởi sự phát triển của công nghiệp ghi âm, công nghiệp điện ảnh và đặc biệt gần đây

là Internet đã giúp người biểu diễn định hình, sao chép và truyền phát cuộc biểu diễn

của mình tới đơng đảo cơng chúng một cách nhanh chóng, nhưng cũng chính những

bản sao cuộc biểu diễn đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng kiểm sốt cơng

chúng tiếp cận với cuộc biểu diễn. Nếu như đối với buổi biểu diễn trực tiếp chỉ cần

thơng qua kiểm sốt vé vào cửa là có thể khống chế được cơng chúng tiếp cận buổi

biểu diễn, thì nay với vơ số bản sao băng từ hay bản lưu dưới dạng điện tử, khả năng

kiểm soát và khống chế các cá nhân, tổ chức tiếp cận, sử dụng và khai thác cuộc biểu

diễn của người biểu diễn bị thu nhỏ, khả năng thụ hưởng thù lao, thu hồi chi phí và

đầu tư cho cuộc biểu diễn bị đe doạ. Vì vậy yêu cầu bảo hộ quyền của người biểu

diễn càng trở nên bức thiết.

Mặt khác, việc bảo hộ quyền liên quan, trong đó có quyền của người biểu diễn,

góp phần củng cố và hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tác giả. Khi quyền của người

biểu diễn được bảo hộ, người biểu diễn nhận được thù lao tương xứng với công sức

đã bỏ ra trong quá trình thể hiện, truyền bá tác phẩm sẽ càng nỗ lực truyền tải các sản

phẩm sáng tạo của các tác giả, nâng cao giá trị của các tác phẩm. Đồng thời khi biểu

diễn các tác phẩm, người biểu diễn trước tiên phải tuân thủ các nghĩa vụ xin phép và

trả tiền bản quyền cho tác giả theo quy định của pháp luật, khi đó tác giả được thụ

hưởng các quyền mà pháp luật cho phép.



Nhóm 2



Page 9



Quyền của người biểu diễn



Chương 2: Nội dung quyền của người biểu diễn.

1. Khách thể quyền của người biểu diễn

Khách thể quyền của người biểu diễn: là các cuộc biểu diễn tác phẩm của tác giả

do người biểu diễn thực hiện tại lãnh thổ quốc gia và nước ngoài.

Chỉ những cuộc biểu diễn các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học mới là

khách thể của quyền biểu diễn. Để xác định thế nào là một tác phẩm văn học, nghệ

thuật và khoa học lại cần đối chiếu với khái niệm tác phẩm theo quy định của pháp

luật từng nước. Theo luật Việt Nam, khoản 7 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định :

“Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học

thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào".

Do đó, mọi thành quả của q trình sáng tạo trong văn học, nghệ thuật hay khoa

học đã được định hình đều có thể trở thành đối tượng để biểu diễn và người biểu diễn

các thành quả đó sẽ được hưởng các quyền của người biểu diễn theo quy định pháp

luật.

Theo nguyên tắc hiệu lực lãnh thổ của luật bản quyền, nơi thực hiện cuộc biểu diễn

cũng là một trong những điều kiện bảo hộ cuộc biểu diễn. Pháp luật các nước thường

chỉ bảo hộ cuộc biểu diễn của cơng dân nước mình, cuộc biểu diễn được thực hiện trên

phạm vi lãnh thổ quốc gia mình và các trường hợp khác tùy thuộc vào các Hiệp định

song phương hoặc đa phương về các vấn đề có liên quan mà quốc gia tham gia hoặc

ký kết.

Khoản 1 điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định với các cuộc biểu diễn mà

người biểu diễn là công dân Việt Nam dù được thực hiện tại Việt Nam hoặc nước

ngoài đều được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Ngoài ra, cuộc biểu diễn do người nước

ngoài thực hiện tại Việt Nam cũng được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam và một số

trường cụ thể khác theo quy định của pháp luật, cụ thể:

“ Cuộc biểu diễn được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Nhóm 2



Page 10



Quyền của người biểu diễn

a) Cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài;

b) Cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam;

c) Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo quy

định tại Điều 30 của Luật này;”

Quy mơ và tính chất cuộc biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền của người biểu

diễn. Cuộc biểu diễn có thể chỉ đơn giản có một người biểu diễn như nhạc công độc

tấu một bản nhạc, cũng có thể có rất nhiều người biểu diễn cùng tham gia như một bộ

phim, một vở kịch hay một buổi biểu diễn ca nhạc lớn.

Đề cập tới việc xâm hại quyền của người biểu diễn, chúng ta hiểu rằng khách thể

quyền biểu diễn bị khai thác không hợp pháp. Trường hợp cuộc biểu diễn được định

hình trên bản ghi âm, ghi hình thì nó được bảo hộ quyền của nhà sản xuất ghi âm, ghi

hình. Nếu người biểu diễn đầu tư tài chính và các điều kiện vật chất cho việc định hình

bản ghi âm, ghi hình thì họ đồng thời là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Nếu cuộc

biểu diễn khơng được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà được phát sóng thì nó

được bảo hộ quyền của tổ chức phát sóng.

2. Quyền của người biểu diễn

2.1.



Cơ sở pháp lý.



Quyền của người biểu diễn được quy định tại điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ:

“Người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có các quyền nhân thân và các quyền

tài giả đối với cuộc biểu diễn; trong trường hợp người biểu diễn khơng đồng thời là

chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài

sản đối với cuộc biểu diễn.”

2.2.



Nội dung quyền của người biểu diễn.



Khi thỏa mãn các điều kiện luật định thì người biểu diễn được hưởng các quyền đối

với cuộc biểu diễn của họ. Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, quyền của người biểu

diễn bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

2.2.1.



Nhóm 2



Quyền nhân thân



Page 11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: Những lý luận chung về người biểu diễn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×