Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Những đặc điểm kinh tế xã hội của đô thị

b. Những đặc điểm kinh tế xã hội của đô thị

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thứ tư, đô thị như một nền kinh tế quốc dân: Vì đơ thị cũng được giới hạn về mặt

hành chính, hoạt động của nó có tính độc lập tương đối.

Thứ năm, đơ thị mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất, kinh tế

và văn hóa. Nền văn hố được kế thừa và phát triển với bản sắc dân tộc Việt Nam.

c. Cây xanh đô thị

- Khái niệm:



Cây xanh đô thị là thành phần chính cả mảng xanh đơ thị, cũng là một trong

những tiêu chí hợp thành cơ cấu quy hoạch xây dựng đô thị. Cây xanh đô thị là một đối

tượng rất phong phú, đa dạng, phức tạp và cũng có vai trò, tác dụng, ý nghĩa thực tế cũng

như mục đích sử dụng khác nhau. Vì thế, có thể hiểu cây xanh đô thị bao gồm tất cả

những cây cao, cây bụi sống lưu niêm và thảm cỏ chuyên dung hoặc kết hợp tạo nên

khơng gian xanh có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp có lợi tới mơi trường sinh thí và kiến

trúc cảnh quan đơ thị.

Nói một cách khác: Cây xanh đô thị là cây trồng trong các công viên, vườn hoa

dọc các đường phố trong các dải rừng phòng hộ quanh thành phố, trong nhà dân hay trog

các dàn cây, chậu cảnh trong đơ thị với mục đích chính là cải tạo mơi trường, cảnh quan,

-



nâng cao sức khỏe con người.

Phân loại:





Theo đặc tính sinh học:

Chúng ta có thể phân loại dựa vào dạng sống và công dụng: cây gỗ lớn có Sấu, Xà



Cừ, Chò…; thân gỗ nhỡ gồm Me, Bằng lăng, Nhãn, Cơm nguội…; cây có quả như Na,

Hồng bì… Các loại cây thân thảo, cây bụi, dây leo cũng được ưa chuộng trồng trong đô

thị do hình dáng phong phú và khơng đòi hỏi quỹ đất lớn. Tương tự, các loài cây họ Tre

Trúc hay thân Cau Dừa cũng rất được ưu chuộng. Mặt nước tĩnh trong đô thị cũng

thường được tận dụng để trồng những lồi cay thủy sinh, nhất là những lồi cây có chức

năng cải tạo mơi trường. Đặc biệt, các lồi cây ưa bóng râm (thích hợp trồng trong nhà),

cây chịu khơ hạn (ví dụ xương rồng), các lồi cây, hoa cảnh bonsai cũng là thành phần

không thể thiếu đối với cư dân đơ thị.







Theo chức năng, ta có thể chia cây xanh đơ thị thành các nhóm chính sau đây:

Cây xanh đường phố: là các dải cây trồng tạo hành lang ngăn cách cho các trục



giao thơng đồng thời có chức năng tạo bóng mát, ngăn gió bụi, cải tạo mơi trường. Đây

thường là các cây thân mộc lớn, sống lâu năm, có độ che phủ cao

Cây xanh cơng cộng: được trồng tại các công viên, vườn hoa tạo thành một quần

thể, một mảng xanh lớn. Lựa chọn cho các quần thể khá đa dạng, tùy thuộc theo ý nghĩa

hay chủ đề của cơng trình khu vực.

Cây xanh cơng trình: trồng trong các khu dân cư, khu công nghiệp hay dịch vụ

thương mại, giải trí.

Cây xanh đặc biệt: cây ven sơng hồ, cây xanh phòng hộ, cách ly, các quần thể hay

cá thể cây cổ thụ, cây mang tính văn hóa hoặc tâm linh.

Cây cảnh hộ gia đình: đây là một thị trường cực kỳ lớn mà bấy lâu nay phát triển

khá tự nhiên, chưa được nghiên cứu hay định hướng



I.2 Thực trạng cây xanh tại các đô thị hiện nay



Theo Cục Hạ tầng kỹ thuật, hiện nay tỷ lệ cây xanh trên mỗi người dân tại các đô

thị của Việt Nam ở mức từ 2 đến 3 m2/người, trong khi chỉ tiêu xanh tối thiểu của Liên

hợp quốc là 10 m2 và chỉ tiêu của các thành phố hiện đại trên thế giới từ 20 đến 25 m2,

nghĩa là cây xanh đô thị của Việt Nam chỉ bằng 1/5 đến 1/10 của thế giới.

Nhiều đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn, tỷ lệ cây xanh thấp. Nguyên nhân do thiếu

sự thống nhất trong quy hoạch và quản lý, chưa quan tâm đúng mức sự phát triển của

không gian xanh nên dẫn đến hiện tượng phải chặt bỏ hoặc di dời những dải cây lớn khi

xây dựng và cải tạo các tuyến giao thông (đường Nguyễn Trãi, đường Láng, đường Phạm

Văn Đồng tại Hà Nội hay đường Tôn Đức Thắng..), cải tạo cơng trình ngầm, cải tạo mặt

lát vỉa hè làm hư hại gốc rễ của cây.



. Đặc biệt việc trồng cây xanh chưa đúng cách, cây trồng không phù hợp với khí

hậu, thổ nhưỡng nên thiếu sức sống, cây mục dễ có nguy cơ bật gốc. Ở nước ta, có khơng

ít đơ thị, cây trồng sau vài năm rồi lại phỉ di dời, chặt đi hàng loạt để thay bằng lồi phù

hợp hơn. Ví dụ, chỉ tính cây Hoa Sữa (Alstonia scholaris), Thành phố Quy Nhơn năm

2015 đã phải chặt và di dời gần 3000 cây, thành phố Đà Nẵng chtwj và di dời hơn 1000

cây hay như tại thị xã Gia Nghĩa – Đắc Nông chặt bỏ hơn 1600 cây Sò Đo cam

(Spathodea campanulata).

Thực tế tại các khu dân cư hiện hữu trong các quận nội thành phát triển, hệ thống

mảng xanh, công viên khu ở đang bị thiếu trầm trọng. Tốc độ đơ thị hóa q nhanh trong

giai đoạn trước đây ở các khu vực chưa có quy hoạch đơ thị đã hình thành các khu dân cư

phát triển tự phát với mật độ cư trú dày đặc nhưng thiếu các khoảng không gian xanh,

không gian công cộng. Điều này dẫn đến chất lượng sống thấp, môi trường sống bị ô

nhiễm nghiêm trọng, gây ra nhiều hệ lụy cho phát triển kinh tế - xã hội và ảnh hưởng đến

đời sống, sức khỏe và tinh thần của người dân. Trong khi đó, ở các dự án khu dân cư mới,

trước đây chủ đầu tư thường chỉ tập trung xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật mà chưa

chú trọng đầu tư xây dựng các khu công viên cây xanh theo quy hoạch. Điều này làm cho

dự án kém hấp dẫn người dân và gặp khó khăn trong việc phát triển, hình thành khu dân

cư có chất lượng sống tốt.

Bên cạnh đó, hiện nay, tại một số đơ thị đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận

thức của chủ đầu tư trong việc đầu tư xây dựng các khu đơ thị mới. Như tại TPHCM đã

hình thành nhiều khu dân cư mới tại các quận nội thành phát triển và huyện ngoại thành.

Tại các khu dân cư này, ngoài hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được đầu tư đồng

bộ thì hệ thống các khu công viên cây xanh trong khu ở cũng được quan tâm xây dựng và

bố trí hợp lý, phục vụ tốt cho nhu cầu của người dân, góp phần nâng cao chất lượng sống

của cư dân tại khu vực. Những công viên cây xanh này vừa là nơi để mọi người đến tập

thể dục, tản bộ, hít thở khơng khí, vừa là nơi vui chơi, giao lưu hàng ngày của cộng đồng

người dân sinh sống trong khu dân cư. Chính yếu tố đó góp phần tạo sức lơi cuốn, hấp

dẫn người dân đến sinh sống và góp phần nâng cao giá trị của tồn khu dân cư. Khu đơ



thị mới Phú Mỹ Hưng với hệ thống công viên cây xanh được đầu tư đồng bộ là một mơ

hình tạo dựng nơi ở có chất lượng sống tốt mà chính quyền và người dân TP mong muốn

hướng đến.

II.



VAI TRÒ CỦA CÂY XANH TRONG ĐÔ THỊ



Cây xanh là một phần quan trọng của thiên nhiên, vậy nên khơng có gì bất ngờ khi

cây xanh có vai trò vơ cùng to lớn trong cuộc sống đô thị.

Khác với các hệ sinh thái tự nhiên khác, ngoài hai thành phần cơ bản là hữu sinh

và vơ sinh, hệ sinh thái đơ thị còn có thành phần thứ ba đó là thành phần cơng nghệ. Nó

bao gồm các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất… Thành phần cơng nghệ có

vai trò quyết định và chi phối dòng năng lượng qua hệ sinh thái. Về cấu trúc không gian,

hệ sinh thái đơ thị gồm có phần trung tâm (nội thành) và vùng ngoại thành. Phần trung

tâm là nơi tập trung dân cư lớn nên rất dễ dẫn đến những thay đổi về mơi trường theo

chiều hướng xấu có ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Mức độ tập trung dân cư

càng đơng thì nguy cơ thay đổi về mơi trường càng lớn. Vùng ngoại thành được coi như

là vùng đệm chuyển tiếp từ hệ sinh thái tự nhiên sang hệ sinh thái nhân tạo.

Do tập trung dân cư đông và công nghiệp phát triển dẫn đến ô nhiễm môi trường

ngày càng tăng. Nguồn gây ơ nhiễm chính là: các phương tiện giao thơng, các nhà máy,

xí nghiệp, các cơ sở sản xuất và rác thải sinh hoạt hàng ngày. Các chất gây ơ nhiễm là:

bụi, khói, khí độc, các chất thải, tiếng ồn…. Đối tượng dễ bị ô nhiễm nhất là khơng khí

và nguồn nước. Để bảo vệ mơi trường, ngồi các biện pháp giảm thiểu nguồn ơ nhiễm thì

cây xanh có vai trò vơ cùng quan trọng như sau:

2.1



Cải thiện môi trường sống của người dân

Một trong những tác dụng lớn nhất của cây xanh cho đơ thị, đó là nó cải thiện rõ



rệt mơi trường sống của người dân. Với mật độ dân cư đông, cùng với lượng khí thải từ

nhà máy, xe cộ,… tình trạng chung của các khu đơ thị chính là mơi trường khơng khí bị ô

nhiễm nghiêm trọng. Cây xanh sẽ giúp cải thiện chất lượng khơng khí bằng cách hấp thu

những khí độc như NO2, CO2, CO…Theo nhiều nghiên cứu, cây xanh có thể hấp thụ tới



6% các loại khí thải độc. Cây xanh sẽ giúp lọc bớt bụi bẩn, đồng thời thải ra nhiều O2. Vì

vậy có thể xem cây xanh là lá phổi của thành phố.

Bên cạnh đó, cây xanh còn có tác dụng hấp thu bức xạ, thải ra hơi nước làm khơng

khí bức bối của đơ thị trở nên mát mẻ, trong lành hơn. Đồng thời, khi ánh sáng mặt trời

gay gắt, tán cây sẽ che chở cho con người, tránh những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Vì

vây, những không gian công viên cây xanh thường là nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng,

giải trí của người dân để đáp ứng cho nhu cầu giao tiếp xã hội. Đây cũng là nơi để tập thể

dục thể thao và thư giãn nhằm tái tạo sức lao động của cư dân đơ thị. Cơng viên còn góp

phần tạo dựng không gian kiến trúc cảnh quan đặc trưng của đô thị cũng như cải thiện

mơi trường sống.

Ngồi ra cây xanh còn giúp chắn gió. Tùy theo cấu trúc và vị trí của từng tán cây

và từng mảng cây sẽ làm giảm tốc độ gió hoặc ngăn gió. Điều này rất có ý nghĩa trong

việc sử dụng cây xanh ngăn cản các luồng gió độc, gió lạnh, gió bão… Cây xanh tạo

thành dãy như là những bức tường cách ly vệ sinh tốt nhất, ngăn chặn các tác đơng xấu

do gió mang đến như khói, bụi độc hại ở các khu cơng nghiệp, khơng khí giá rét, bão

xốy… tuy nhiên cũng khơng nên trồng cây q dày vì sẽ khơng ngăn được gió và gây

rối luồng khơng khí.

Khi đơ thị phát triển, dân cư đông đúc, cường độ tiếng ồn trở nên mạnh, thường

xuyên và tác động nguy hại đến sức khỏe, gây thương tổn thính giác và hệ thần kinh con

người. Tán cây lá to có thể hấp thụ trên 25% âm lượng và tán xạ khoảng 75% tiếng ồn đi

qua nó. Tác dụng hút âm của cây rất có ý nghĩa trong việc bố trí cây xanh đường phố.

Cây xanh cách ly giữa nhà máy và khu dân cư, giảm thiểu tiếng ồn giúp cuộc sống của

người dân trở nên n tĩnh hơn.

2.2



Giúp ích cho việc thốt nước

Tình trạng chung của nhiều đơ thị đó là hệ thống thốt nước bị quá tải vào mùa



mưa và thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Cây xanh sẽ giúp giảm bớt áp lực cho các

cống thoát nước bằng cách giữ lại nước mưa. Trung bình, một cây xanh phổ biến có thể



giữ được từ 200 đến 290 lít nước trong 1 năm. Bên cạnh đó, tán phủ của cây xanh có thể

trở thành màng chắn lọc nước hữu hiệu, giúp lưu lại trong đất dưới dạng nước ngầm.

2.3



Cây xanh giúp cân bằng sinh thái

Thành phố với dân cư đông đúc, nhà cửa san sát làm ảnh hưởng rất nhiều đến đời



sống của các loại động vật khác. Vì vậy, cây xanh tạo nơi cư trú, nước, thức ăn cho các

loại chim, bò sát…

Hơn nữa, cây xanh còn giúp giảm bớt sự xâm nhập của các chất ô nhiễm bằng

cách ngăn nước mưa.

Cây xanh luôn được xem là một trong những yếu tố phản ánh văn minh thành phố.

Nó có vai trò to lớn trong việc hạn chế bớt những tác động tiêu cực của q trình cơng

nghiệp hóa, làm đẹp cho cảnh quan và cải thiện môi trường sống của con người.

2.4



Tạo cảnh quan đơ thị

Cây xanh có vai trò quan trọng trong kiến trúc và trang trí cảnh quan. Cây xanh đa



dạng về hình khối (tán lá, thân cây), màu sắc phong phú (lá, hoa, thân cây, trạng mùa của

lá…). Sự tương hợp về hình khối, hài hòa về màu sắc, hình dáng ngay cả hương thơm của

cây xanh đã góp phần tạo nên bố cục hợp lý của các yếu tố khác nhau làm tăng giá trị

thẩm mỹ của cơng trình kiến trúc cũng như cảnh quan chung.

2.5



Kiểm sốt giao thơng

Ngồi chức năng trang trí, tăng thêm vẻ đẹp thẩm mỹ cây xanh còn có tác dụng



kiểm sốt giao thơng. Việc kiểm sốt giao thơng bao gồm cả xe cơ giới và người đi bộ.

Các bụi thấp, bờ dậu, đường viền cây xanh trong vườn hoa công viên vừa có tác dụng

trang trí vừa có tác dụng định hướng cho người đi bộ. Hàng cây bên đường có tác dụng

định hướng, nhất là vào ban đêm sự phản chiếu của các gốc cây được sơn vơi trắng là

những tín hiệu chỉ dẫn cho người đi đường.

2.6



Cây xanh mang lại giá trị kinh tế



Số lượng cành nhánh chặt tỉa và đốn hạ những cây già cỗi khơng còn tác dụng là

nguồn cung cấp gỗ củi cho dân dụng. Ngoài ra, một số lồi cây còn có thể cho thu hoạch

quả như me, sấu…mang lại giá trị cao cho ngời dân.

III.



BIỆN PHÁP



Thứ nhất, Nhà nước cần rà soát hệ thống văn bản, quy định, cũng như hướng dẫn

về quy hoạch, quản lí phát tiển cây xanh đơ thị phù hợp với tinh đặc thù của từng địa

phương.

Thứ hai, quy hoạch cây xanh đơ thị phải phân bố đều trên tồn bộ đất đai của

thành phố.

Vấn đề phân bố cây trong mỗi khu vực cũng cần đảm bảo không những về số

lượng cây trồng mà còn tạo thuận lợi cho các hoạt động xã hội của con người như ở khu

du lịch, trường học, bệnh viện hay khu nhà ở, nhà máy… . Diện tích cây xanh từng khu

vực cần tỉ lệ với mật độ người ở và đáp ứng được nhiệm vụ ở đó. Mỗi khu vực có quy

hoạch cây xanh riêng nhưng khơng đi chệch mục đích, u cầu chung, phải đảm bảo các

điều kiện, vệ sinh, mĩ quan, chỗ nghỉ ngơi tốt cho nhân dân.

Mỗi đô thị nên bố trí các vành đai xanh để bảo vệ, cải thiện tốt hơn môi trường

cho đô thị, bảo vệ cho đô thị tránh nạn cát bay, hạn chế gío bão, kết hợp tạo nên các khu

rừng cảnh quan, du lịch sinh thái cho nhân dân tới nghỉ ngơi, thăm quan.

Trong đô thị, nghiên cứu sắp xếp nên có nhiều dải cây xanh làm nhiệm vụ phân

cách giữa các khu vực nhà máy, nhà ở, giữa các khu vực hoạt động ồn ào của bến xe, bến

cảng chợ, với các khu vực làm việc của cơ quan, trường học cần sự yên tĩnh.

Thứ ba, vấn đề chọn giống cây trồng trong đô thị cũng rất lưu ý, nó yêu cầu các

nhà chuyên mơn phải có kiến thức vững vàng về đơ thị và mĩ thuật. Đô thị không chỉ cần

những giống cây khoẻ, gỗ tốt, khơng bị gãy bất thường, khó đổ, khơng có rễ ăn nơng, vệ

sinh… mà còn cần những giống cây có hoa đẹp, hoa thơm, cây khơng rụng lá về mùa

đơng, cây có bộ lá tiết chất kháng trùng trong khơng khí (phitonxit). Chọn được càng

nhiều giống cây khác nhau, càng tạo được nhiều phong cảnh tươi đẹp cho đơ thị. Mặt

khác cây xanh kết hợp hài hòa, tôn tạo thêm vẻ đẹp, phát huy tác dụng của các cơng trình

xung quanh như nhà ở cao tầng, biệt thự, bồn hoa, tượng đài…

Việc lựa chọn loài cây trồng phải đảm bảo nguyên tắc “Đất nào cây ấy”, nghĩa là

cây được chọn phải sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, khơng



gian sinh trưởng của từng địa phương. Nên ưu tiên các loài cây bản địa vì chúng khơng

những thích nghi, sinh trưởng phát triển tốt, sức đề kháng khỏe mạnh mà còn thể hiện sự

đặc trưng cảnh quan cây xanh khu đô thị. Cũng cần kết hợp hợp lý giữa cây mọc nhanh

và cây mọc chậm nhất là tại các đô thị mới xây dựng nên ưu tiên trồng cây mọc nhanh,

đồng thời có kế hoạch phối kết thêm một lượng cây mọc chậm có giá trị.

Bên cạnh đó, khi lựa chọn loại cây cũng cần xem xét đến sự phát huy khả năng cỉa

thiện mơi trường của cây xanh. Cây có cho bóng mát tốt, khả năng chắn bụi, giảm tiếng

ồn, hấp thụ các khí độc hại tốt. Nếu là cây rung lá, thì thời gian rụng lá của cây muộn và

sớm ra lá mới.

Thứ tư, vấn đề thiết kế cây xanh trong đơ thị cần được tiến hành sớm và có kế

hoạch rõ ràng ngay từ đầu. Cần nghiên cứu, bố trí hợp lí, khoa học, tránh chắp vá, sửa đổi

quá nhiều sau này cũng như tránh gây trở ngại cho các cơng trình khác. Những phần diện

tích nếu có kế hoạch cụ thể trước sẽ rất thuận lợi, chủ động cho việc thiết kế hệ thống cây

xanh ở mỗi khu vực.



KẾT LUẬN

Cây xanh đơ thị có một vai trò quan trọng trong đời sống con người, giúp cải thiện

môi trường sống, làm đẹp thành phố, làm phong phú cuộc sống văn hóa dân cư đơ thị.

Các mảng xanh tạo nên những khu nghỉ ngơi yên tĩnh cho người lớn, nơi hoạy động thể

dục thể thao cho thanh thiếu niên, chỗ vui chơi giải trí cho trẻ em. Bên cạnh đó, cây xanh

đơ thị còn là mọt yếu tố cảnh quan vơ cùng quan trọng của đô thị về mặt chức năng, thẩm

mỹ, văn hóa, mơi trường và kinh tế. Để phát triển và gìn giữ quỹ cây xanh trong các đơ

thị Việt Nam, chúng ta cần phải hiểu được thực trạng và giá trị của cây xanh trong cảnh

quan và môi trường đơ thị, từ đó những biện pháp hiệu quả khai thác cây xanh trong quy

hoạch và thiết kế không gian đô thị.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Những đặc điểm kinh tế xã hội của đô thị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×