Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các phế phụ liệu trong quy trình công nghệ sản xuất bia

Các phế phụ liệu trong quy trình công nghệ sản xuất bia

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.1.1. Thành phần hóa học của mầm malt (%)

Bảng 2.1.1. Thành phần hóa học mầm malt

Chỉ số



Malt màu Malt



Malt



đậm



màu



nghiền sơ



Nước

Protein

Lipit

Chất hòa tan khơng



7.03

30.88

1.63

43.87



nhạt

8.80

30.06

1.95

44.53



bộ

10.07

34.18

2.23

35.18



có chứa nito

Xenluloza

Tro



9.64

6.95



8.64

6.02



11.42

7.05



2.1.2. Phân loại mầm malt

Có 2 loại mầm malt: mầm malt ướt và mầm malt khô.

Trong công nghiệp chế biến bia, phế liệu mầm khô chiếm 3-5% trọng lượng malt thu

được hoặc khoảng 90 kg trên 1 nghìn decalit bia sản xuất ra.

2.1.3. Tính chất của mầm malt [7]

Mầm malt được tạo ra trong quá trình sản xuất bia có hàm lượng chất dinh dưỡng cao.

Trong mầm malt có các enzyme khác nhau, có khả năng thúc đẩy sự lên men của dịch

đường. Mầm malt cung cấp toàn bộ lượng glucid (chủ yếu dưới dạng tinh bột) để chuyển

hóa thành đường, và từ đường chuyển hóa thành cồn và các chất khác. Mầm malt chứa

đầy đủ enzym amilaza để thủy phân tinh bột. Nếu sử dụng phế liệu nhiều thì lượng

enzyme này cung cấp khơng đầy đủ và ta buộc phải bổ sung enzym từ bên ngoài vào, chủ

yếu là enzym từ vi sinh vật.

Mầm malt cung cấp khá đủ lượng protein và có chứa hệ enzym proteaza để thủy phân

chúng. Trong giai đoạn ươm mầm, hệ enzym này được hoạt hóa mạnh mẽ. Khi chuyển



5



sang giai đoạn nấu, chúng thủy phân protein tạo thành các phức chất có khả năng giữ

CO2 tốt, tạo vị bia đặc trưng.

2.1.4. Hướng phát triển các sản phẩm mới tận dụng từ mầm malt

Do mầm malt có hàm lượng chất dinh dưỡng cao nên nó cũng là loại thức ăn gia súc cho

năng suất cao ở trong nghành chăn nuôi. Mầm malt cũng được trộn vào thức ăn gia súc

khác để ni súc vật. Nó được đưa vào khẩu phần ăn của trâu bò với một lượng 2-3 kg

trên một đầu con vật. Mầm có tính hút nước cao và tăng thể tích khá lớn khi hấp thụ nước.

Do đó cần phải bảo quản mầm ở nơi khơ ráo vì ở nơi ẩm ướt mầm bị mốc rất nhanh và trở

nên rất độc.

Trong công nghiệp thực phẩm, mầm malt dùng để sản xuất ra các chất ổn định, mầm malt

được dùng để sản xuất axit lactic và làm nguồn cung cấp nito trong sản xuất nấm men từ

rỉ đường do trong mầm có các enzyme khác nhau, có khả năng thúc đẩy sự lên men của

dịch đường. Các sản phẩm thu được khi xử lí mầm là các chất dễ hấp thụ (các axit amin,

các dịch đặc lipit-Vitamin). Viện nghiên cứu trung tâm công nghiệp bia và rượu vang đã

nghiên cứu thu các enzyme proteza từ mầm malt khi chiết bằng nước. Các chế phẩm

enzyme thu được từ dịch chiết khi thêm vào dịch đường hoặc bia (0.05-0.1%) sẽ kích

thích sự lên men, làm tăng mức độ lên men đường và phân giải các protein cao phân tử

bia. Do tác dụng của hệ enzyme của chế phẩm nên độ bến vững hóa lý của bia được tăng

lên, độ bền chung của bia như thế, sau khi thanh trùng sẽ tăng lên 2-3 lần.

2.2.



Bã malt



Bã malt là sản phẩm tách ra sau khi lên men bia. Phần nước được sử dụng làm bia. Phần

bã tươi còn chứa các chất dinh dưỡng, các chất men và xác vi sinh vật. Bã malt tươi là

loại thức ăn nhiều nước, có mùi thơm và vị ngon. Bã malt tươi thường có dạng sệt sệt của

các sản phẩm hạt nghiền thơ, có màu nâu nhạt, vị ngọt và mùi mạch nha. Tuy bã malt là

một phế liệu sau khi nấu bia nhưng do nhiều tính chất của bã bia nên nó được tận dụng để

sản xuất ra nhiều sản phẩm khác. [8]

2.2.1. Thành phần hóa học của bã malt [9]



6



Bảng 2.2.1. Thành phần hóa học bã malt

Chỉ số



Bã thơ

Tổng Đồng



Bã sấy

Tổng Đồng



số



số



hóa



hóa



76.3

6.63

1.7

tan 9.72



được

76.3

4.74

1.5

5.83



9.0

25.5

7.5

37.3



được

9.0

18.2

6.6

22.39



9.0

28.0

8.2

41.0



được

9.0

20.0

7.1

24.6



khơng có nito

Xeluloza

5.1

Tro

1.2

Nhiệt lượng bã 115



2.0

1.2

75.8



16.0

4.6

440



7.7

7.7

296.3



17.5

5.2

480



8.5

8.5

320



Độ ẩm

Protein

Lipit

Chất hòa



hóa



Theo chất khơ

Tổng số Đồng



tính bằng cal



2.2.2. Phân loại bã malt

Có 2 loại bã malt bia: bã malt ướt và bã malt khô.

Bã malt tươi thường có dạng sệt sệt của các sản phẩm hạt nghiền thơ, có màu nâu nhạt, vị

ngọt và mùi mạch nha. Hiệu suất bã malt ướt trung bình chiếm 115-130% trọng lượng của

hạt đưa dịch hóa, hoặc 2,3 tấn/1000 dcl (decalit) bia thành phẩm.

Trong quá trình sản xuất, người ta đã loại bỏ nước để biến bã malt ướt thành bã malt khơ.

Trong bã khơ có các thành phần với giá trị trung bình như sau: protein (28%), chất béo

(8.2%), chất chiết không chứa nito (41%), xenluloza (17.5%), chất vô cơ (5.3%).

2.2.3. Tính chất bã malt

Bã malt là sản phẩm tách ra sau khi lên men bia. Phần nước được sử dụng làm bia. Phần

bã tươi còn chứa các chất dinh dưỡng, các chất men và xác vi sinh vật. Bã bia tươi là loại

thức ăn nhiều nước, có mùi thơm và vị ngon. Hàm lượng khoáng, vitamin (chủ yếu là

vitamin nhóm B) và đặc biệt là hàm lượng đạm trong bã bia cao. Do đó bã bia có thể được

coi là loại thức ăn bổ sung đạm. Hơn nữa, thành phần xơ trong bã bia rất dễ tiêu nên có



7



tác dụng kích thích VSV phân giải xơ trong dạ cỏ phát triển. Vì thể nó có thể dùng để bổ

sung cho khẩu phần cơ sở là rơm rạ cho kết quả rất tốt. Ngồi ra bã bia còn chứa các sản

phẩm lên men có tác dụng kích thích tính ngon miệng và kích thích tiết sữa rất tốt. Chính

vì thể bã bia được sử dụng rất rộng rãi trong chăn ni bò sữa.

Thành phần và giá trị dinh dưỡng của bã bia phụ thuộc vào tỷ lệ nước, nguồn gốc sản xuất

và thời gian bảo quản. Bã bia ướt dễ bị phân giải làm mất dinh dưỡng và tăng độ chua,

cho nên người ta thường chỉ có thể cho gia súc ăn trong vòng 48 giờ. Để kéo dài thời gian

bảo quản người ta thường cho thêm muối ăn với tỷ lệ 1%. Mặt khác, người ta có thể làm

thành bã bia khô (chứa khoảng 10% nước) để thuận tiện cho bảo quản và sử dụng. Thành

phần hoá học của bã bia khô như sau: vật chất khô (92,5-93%), protein thơ (23,5-27%),

lipit (6,2-6,5%), xơ thơ (14,0-15,5%), khống (3,7-4%).

Mặc dù bã bia là một loại phụ phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, lượng bã bia trong khẩu

phần bò cần tính tốn làm sao có thể thay thế khơng q 1/2 lượng thức ăn tinh (cứ 4,5kg

bã bia có giá trị tương đương với 1kg thức ăn tinh) và không nên cho ăn trên

15kg/con/ngày). Cho ăn quá nhiều bã bia (ví dụ trên 25kg/con/ngày) sẽ làm giảm tỷ lệ

tiêu hoá chất xơ, các chất chứa nitơ và kéo theo sự giảm chất lượng sữa. Tốt nhất là trộn

bã bia và cho ăn cùng với thức ăn tinh, chia làm nhiều bữa trong một ngày.



2.2.4. Hướng phát triển các sản phẩm mới tận dụng từ bã malt [10]

 Ứng dụng làm thực phẩm chức năng

Ngành công nghiệp sản xuất bia tại Việt Nam càng phát triển, bã bia sau sản xuất càng

nhiều, thì việc chiết xuất những chất hữu ích trong sản xuất thực phẩm chức năng cho

người và động vật, càng có nguồn nguyên liệu phong phú.



8



“Nước ta có nguồn bã men bia khá dồi dào, trước kia sản xuất bia xong thì đổ đi, thành

những bãi thải có khả năng gây ô nhiễm môi trường. Sau này, bã men bia được dùng làm

thức ăn thô cho lợn, tuy nhiên động vật không hấp thụ được nhiều chất dinh dưỡng từ

nguồn thức ăn này”, PGS.TS Phạm Việt Cường, Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học

miền Trung (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), cho biết về một trong những khởi đầu

của việc “biến” bã men bia thành thực phẩm chức năng.

Gợi ý cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi

Từ thành tế bào của nấm men bia, qua quá trình tách chiết, thủy phân, các nhà khoa học

đã thu hồi Beta - glucan có tác dụng tăng cường miễn dịch, kháng khối u, kháng tế bào

ung thư. Quá trình thủy phân dịch tế bào khiến protein trở thành axit amin, giúp cơ thể

tăng cường sinh lực, tăng cường quá trình trao đổi chất, tạo tế bào mới.

Sử dụng thực phẩm chức năng trong thức ăn chăn nuôi sẽ giúp chăn nuôi gia súc, gia cầm

có năng suất cao và hiệu quả kháng bệnh tốt.

Với tôm nuôi, các kết quả so sánh cho thấy, khi được ăn thực phẩm chứa Beta - glucan,

vật nuôi sẽ lớn nhanh hơn. Với các loại gia cầm như gà, ngan, vịt, các loại vật nuôi được

ăn thêm Beta - glucan đều lớn nhanh và chất lượng tốt hơn nuôi thông thường.

Thực phẩm chức năng cho người

Sản phẩm ImunoFood - thực phẩm chức năng có chứa Beta - glucan, axit amin tự do chiết

xuất từ nấm men do TS Cường cùng đồng nghiệp nghiên cứu và sản xuất, giúp tăng

cường hệ miễn dịch cho con người. Sản phẩm này đã được Cục vệ sinh an toàn thực phẩm

(Bộ Y tế) cho phép sản xuất, lưu hành tại Việt Nam.

Hiện tại, NeoPolynut chưa có điều kiện để sản xuất đại trà. Một trong những lý do là đơn

vị nghiên cứu của TS Phạm Việt Cường trước đây chủ yếu làm công tác nghiên cứu và

chuyển giao công nghệ. Nay theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định cơ

chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, đơn vị đã

chuyển đổi trở thành công ty cổ phần, dự kiến sẽ mở rộng quy mơ sản xuất chính các sản



9



phẩm sau nghiên cứu. Việc chuyển giao công nghệ tạm dừng lại, để chuẩn bị đầu tư cho

sản xuất.

 Ứng dụng trong công nghệ sản xuất nước chấm [11]

Trong bã malt còn chứa lại khá nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là còn sót lại một lượng

đường rất có ý nghĩa trong việc cung cấp một phần thức ăn dinh dưỡng cho nấm mốc.

Bên cạnh đó việc phối trộn các tỉ lệ bã malt khác nhau sẽ tạo ra độ xốp, độ thoáng khí

khác nhau cho mơi trường ảnh hưởng đến hơ hấp và phát triển của nấm mốc. Vì thế mà

nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát để tìm ra tỷ lệ phối trộn bã malt bia tốt nhất

cho quy trình sản xuất nước chấm lên men.

2.3. Nấm men bia

2.3.1. Giới thiệu [12]

Men là các lồi nấm đơn bào, kích thước đường kính mỗi tế bào men chỉ vào khoảng

1/100 mm. Chúng phân bố rộng rãi trong thiên nhiên, đặc biệt chúng có nhiều ở vùng đất

trồng nho và các nơi trồng hoa quả. Nhiều lồi nấm men có khả năng lên men rượu bia.

Từ lâu người ta đã biết sử dụng nấm men để sản xuất rượu bia. Nấm men sinh sôi nhanh,

tế bào lại chứa nhiều vitamin, acid amin không thay thế, hàm lượng protein chiếm tới

50% trọng lượng khô của tế bào, nên nhiều loại nấm men còn được sử dụng để sản xuất

protein. Ngồi ra nấm men còn được sử dụng trong cơng nghệ sản xuất bánh mì. Tuy

nhiên, cũng có nhiều loại nấm men có hại gây bệnh cho người và gia súc, làm hư hại

lương thực, thực phẩm.

Nấm men dùng trong sản xuất bia thường là các chủng thuộc giống Saccharomyces,

chúng có khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng trong môi trường nước mạch nha như các

loại đường hoà tan, các hợp chất nitơ (các acid amin, peptit), vitamin và các nguyên tố vi

lượng…qua màng tế bào. Sau đó, hàng loạt các phản ứng sinh hóa mà đặc trưng là q

trình trao đổi chất để chuyển hoá các chất này thành những dạng cần thiết cho quá trình

phát triển và lên men của nấm men được tiến hành.



10



Men bia là các vi sinh vật có tác dụng lên men đường. Các giống men bia cụ thể được lựa

chọn để sản xuất các loại bia khác nhau, nhưng có hai giống chính là

men ale (Saccharomyces cerevisiae) và men lager (Saccharomyces carlsbergensis), với

nhiều giống khác nữa tùy theo loại bia nào được sản xuất. Men bia sẽ chuyển hóa đường

thu được từ hạt ngũ cốc và tạo ra cồn, cacbon đioxit (CO 2). Trước khi các chức năng của

men bia được hiểu rõ thì mọi quá trình lên men đều sử dụng các loại men bia hoang dã.

Mặc dù còn rất ít loại bia, chẳng hạn như bia lambic vẫn dựa trên phương pháp cổ này

nhưng phần lớn các quá trình lên men ngày nay đều sử dụng các loại men bia được nuôi

cấy và có độ tinh khiết cao. Trung bình, hàm lượng cồn trong bia là khoảng 4 – 6% rượu

theo thể tích, mặc dù nó có thể thấp tới 2% và cao tới 14% trong một số trường hợp nào

đó. Một số nhà sản xuất bia còn đưa ra loại bia chứa tới 20% cồn.





Men bia là các vi sinh vật có tác dụng lên men đường







Có hai giống chính là men ale (Saccharomyces cerevisiae) và men lager

(Saccharomyces uvarum), với nhiều giống khác nữa tùy theo loại bia nào được sản

xuất.



 Nấm men sinh sôi nhanh, tế bào lại chứa nhiều vitamin, axit amin không thay thếm

hàm lượng protein chiếm tới 50% trọng lượng khô của tế bào, nên nhiều loại nấm

men còn được sử dụng để sản xuất protein.

2.3.2. Thành phần hóa học [13]

Men bia là một phế phẩm của sản xuất, được nằm lại trong thùng lên men, các hầm chứa

sau khi lên men chính và lên men phụ. Men bia có giá trị dinh dưỡng cao và chữa bệnh

tốt.

Tổng hiệu suất của men bia ép chiếm từ 0.05 đến 0.1kg/1 decalit bia.

Bảng 2.3.2.1. Thành phần men bia ép

Nước

Chất chứa nito

Lipit

Chất hòa tan khơng chứa nito

Tro



75.0

14.0

0.75

8.25

2.0



11



Chất khơ của men bia theo Uxtra, có thành phần như sau (%)

Bảng 2.3.2.2. Thành phần chất khô của men bia

Protein (N x 6.25 )

Lipit

Gluxit

Tro

Chất hòa tan khơng chứa nito

Nhiệt lượng tính bằng cal/g



51 – 58

2.0 – 3.0

9.0 – 11.5

8.1 – 9.1

25 – 30

4570 – 4840



2.3.3. Phân loại

Nấm men trong công nghệ sản xuất bia thường là chủng giống Sacchromyces, gồm có

nấm men chìm và nấm men nổi. Có hai dạng là nấm men có dạng hình oval hoặc hình

tròn.

 Nấm men lên men nổi là Sacchromyces cerevisiae dùng trong sản xuất bia ale. Tế

bào nấm men mẹ và con sau khi nảy chồi thường dính lại với nhau tạo thành chuỗi

các tế bào nấm men hình dạng chủ yếu là hình cầu hoặc hình oval với kích thước

từ 7 – 10μm.

Đặc điềm hình thái: Sacchromyces cerevisiae sinh trưởng và phát triển ở nhiệt độ cao, lơ

lửng trên bề mặt là chủ yếu, nhiệt độ lên men từ 10 – 25 oC. Khi quá trình lên men kết

thúc, tế bào kết chùm, thành chuỗi tạo lớp dày nổi lên bề mặt cùng với bọt bia làm cho

khả năng tự trong của bia rất chậm, khả năng lắng yếu nên phải lọc cẩn thận.

 Nấm men lên men chìm tên là Sacchromyces carlsbergensis, lên men ở nhiệt độ

thấp dùng trong sản xuất bia lager. Hầu hết các tế bào sau khi nảy chồi thường

đứng riêng lẻ hoặc cặp đơi, hình dạng chủ yếu là hình cầu. Thành phần hoá học

của tế bào chứa khoảng 75% nước, 15 – 45% protein của chất khô, 25 – 35%

cacbonhydrat, 4 – 7% chất béo, 8 – 9% chất vô cơ



12



Đặc điểm hình thái: Sacchromyces carlsbergensis sinh trưởng và phát triển ở nhiệt độ

thấp, nhiệt độ lên men từ 0 – 10 oC. Phân bố ở tầng sâu trong thiết bị. Dễ kết lắng và dễ

tách lớp. Do đó quá trình lọc dễ hơn đồng thời tạo điều kiện sử dụng lại nấm men. Nấm

men được sử dụng từ nấm men thuần chủng, men được giữ dưới dạng men khô, sau đó

nhân giống trung gian rồi đưa vào sử dụng trung sản xuất bia.

2.3.4. Sản phẩm chế biến từ phế liệu nấm men bia

Sản xuất nấm men bia tinh khiết làm thuốc bổ dưỡng.

Nấm men bia được dùng làm thuốc chữa bệnh và thuốc bố dưỡng. Để dùng làm thuốc

chữa bệnh, nấm men có thể dùng ở dạng lỏng, dạng ép hay dạng sấy khô. Nấm men bia từ

lâu đã được sử dụng rộng rãi trong quần chúng như là một sản phẩm để tăng cường sự

trao đổi chất và chữa bệnh u nhọt.

Nhược điểm của men bia khi làm chất dinh dưỡng và chất chữa bệnh là vị đắng do Hoa

Hup – Blong gây ra.

Viện nghiên cứu công nghiệp bia Liên Xô đã đưa ra phương pháp và quy trình kĩ thuật thu

nấm men bia khơng có vị đắng. Nấm men bia tinh khiết thu được theo phương pháp này

là sản phẩm có mùi dễ chịu đối với trẻ em. Trong đó vẫn giữ ngun được tồn bộ

vitamin nhóm B (trừ B12). [14]

Nấm men bia khô đã khử vị đắng có chứa (%)

Bảng 2.3.4. Thành phần nấm men bia khơ khi đã khử vị đắng

Nước

Protein

Chất khống



<8

< 48

< 10



Ngồi ra trong chế phẩm này có chứa các chất ăn kiêng quan trọng về phương diện chữa

bệnh là cholin vad inozit.



13



Nấm men bia khô tinh khiết là sản phẩm dinh dưỡng của trẻ em và là phương pháp chữa

bệnh cho người trưởng thành, đã được giới thiệu bởi viện dinh dưỡng thuộc viện hàn lâm

y học Liên Xơ.

2.4.



CO2



Trong thời kì lên men chính của sản xuất bia sẽ tạo ra khí CO2.

Ứng dụng

Quá trình sản xuất bia sẽ tạo ra một lượng CO 2 phế liệu đáng kể, do đó trong các nhà máy

bia người ta thường sử dụng lại lượng CO 2 này để làm tăng chất lượng bia nhờ tăng độ

bão hòa CO2 trong giai đoạn đóng chai hay dùng trong sản xuất các loại nước giải khát

không cồn. Tuy nhiên cần lưu ý, sản xuất công nghiệp CO 2 thốt ra khi lên men chỉ thích

hợp ở những nhà máy bia lớn có cơng suất trên 50 triệu lit /năm, trong điều kiện các

thùng lên men hoàn toàn kín và sản xuất bia theo quy trình kĩ thuật thông thường. [15]

Ở Mỹ, việc thu hồi CO2 của lên men đã được thực hiện ở hầu khắp các nhà máy bia. Để

làm điều đó, tất cả các thùng lên men đều phải được làm rất kín và được trang bị các van

an toàn và bộ phận thu hồi bọt. CO 2 được làm sạch bằng cách rửa với nước hoặc KMnO 4.

Sau khi nén trong máy nén khí được đưa đi làm khô bằng silicagen hoặc được làm lạnh

hoặc làm sạch lại lần nữa. Đơi khi người ta còn cho thêm một ít chất thơm. Khí CO 2 thành

phẩm sẽ được bảo quản ở 5at, còn CO2 lỏng thì ở 20at.

2.5.



Cặn protein



Khi làm lạnh dịch bia, cặn protein sẽ được tạo ra ở các đáy đĩa làm lạnh hoặc ở đáy thùng

lắng. Trong thời gian làm lạnh dịch bia, các protein cao phân tử đã đông tụ sẽ được kết

lắng xuống. [16]

Thành phần hóa học và tỷ lượng của cặn phụ thuộc vào thành phần nguyên liệu và điều

kiện kĩ thuật pha chế dịch bia.

Bảng 2.5. Thành phần hóa học trung bình của cặn protein ( % )



14



Nước

Protein

Chất hòa tan khơng có nito

Cellulose

Tro

Nhựa hoa hublon



79.6

7

7.7

1.2

1.2

3.3



Ngồi ra, trong cặn còn chứa muối khống

Ứng dụng

Do có chứa các chất đắng của hoa hublon nên cặn thường có vị đắng, vì vậy cặn không

được sử dụng làm thức ăn gia súc ở dạng nguyên chất mà chỉ được dùng ở dạng trộn lẫn

với các thức ăn gia súc khác.

Ngoài ra ở một số nước người ta còn sử dụng cặn protein làm thức ăn cho cá và phân bón

cho cây trồng.



2.6.



Các phế liệu hạt [17]



Các loại phế liệu hạt được tạo ra trong quá trình làm sạch,phân loại,ngâm hạt đại mạch và

nghiền malt. Các phế liệu hạt thường rất phức tạp về thành phần vật lý và thành phần hóa

học. Số lượng của các phế liệu thu nhận được từ các công đoạn cũng rất khác nhau. Khi

làm sạch và phân loại hạt, các phế liệu được thu lại ở máy ly tâm (vỏ trấu, rơm rạ, hạt

ngô, thân cây lúa), ở các máy phân loại (lúa mạch, vỏ, hạt đại mạch vỡ, các hạt có đường

kính 1 – 2 mm và đại mạch loại III). Khi ngâm hạt đại mạch thu được phế liệu gồm các

hạt đại mạch lép và vụn rơm. Phế liệu khi nghiền thóc malt là vỏ trấu và các đoạn mầm.

Tỷ lệ phế liệu hạt ở các giai đoạn: khi làm sạch và khi chọn trên máy phân loại 1,5 (%)

khi phân loại (đại mạch loại III) 10 – 20 (%), khi ngâm hạt 0,2–0,3(%).

Ứng dụng

Phần phế liệu hạt sẽ được phân loại lại, phần đủ tiêu chuẩn được sử dụng làm thức ăn gia

súc khô. Các phế liệu hạt khác thường được các nhà máy bia bán đi.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các phế phụ liệu trong quy trình công nghệ sản xuất bia

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×