Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét riêng của nhóm

Nhận xét riêng của nhóm

Tải bản đầy đủ - 0trang

31



phế phụ liệu được thải bỏ từ quy trình sản xuất rượu thì trong q trình tìm hiểu nhóm

đã tự cung cấp được cho mình thêm một số kiến thức nhất định.

Đầu tiên, đó là về việc định nghĩa một cách chính xác khái niệm phế phụ liệu cũng như

nhận ra được việc xử lý nguồn phụ phẩm này là một vấn đề vô cùng cần thiết trong

điều kiện hiện nay. Thứ hai, thơng qua việc tìm hiểu về quy trình sản xuất rượu từ tinh

bột ngơ đã giúp nhóm em hiểu rõ hơn các thông số kĩ thuật, công đoạn cần thiết của

quy trình nấu rượu. Tiếp đó, việc xác định được các thành phần hoá học, giá trị dinh

dưỡng của các nguồn phế phụ phẩm được thải ra từ quy trình chính để từ đó tìm ra các

hướng giải quyết chính cho vấn đề trên. Và quan trọng nhất, từ các tài liệu thu thấp

được ở trên cũng như vận dụng những suy luận, kiến thức của nhóm mà chúng em đã

tìm ra được một số hướng giải quyết cho các nguồn phế phụ liệu trên. Ví dụ như đối

với lõi ngơ, ta có thể dùng làm chất hấp phụ để lọc amoni ra khỏi nước từ đó hạn chế

sự ô nhiễm nguồn nước. Hay đối với bã rượu, ta có thể dùng để sản xuất biomixin và

vitamin B12 làm thức ăn gia súc hay dùng làm men bánh mì.... Để từ đó, đưa ra hai quy

trình tận dụng nguồn phế phụ liệu trên một cách hiệu quả nhất, đem lại các giá trị kinh

tế cao đó là "Quy trình sản xuất giá thể trồng nấm sò trắng từ lõi ngơ" và "Quy trình

sản xuất thức ăn gia súc dạng viên từ bã rượu".

Nhưng bên cạnh hai quy trình trên, nhóm còn đề xuất ra được một số ý tưởng khác

xoay quanh ba nguồn phế liệu gồm lõi ngơ, bã rượu, khí CO2 thu được từ quy trình sản

xuất trên. Đầu tiên, ta có thể tận dụng được nhiệt sinh ra từ bã rượu để sưởi ấm. Để làm

được điều trên, người ta đốt nóng chất tải nhiệt bằng bã rượu. Chất tải nhiệt thường

được sử dụng là nước. Việc sử dụng bã rượu nóng để sưởi ấm đã được áp dụng cho

công nhân vào những ngày mùa đông giá lạnh tại các tỉnh miền Bắc của nước ta . Nhìn

chung, đây là một phương pháp góp phần làm giảm đi lượng phế phụ liệu có trong q

trình lên men rượu từ ngơ và thêm vào đó còn giúp tiết kiệm được một lượng chi phí

đáng kể cho việc mua các thiết bị sưởi ấm khác.



32



Hình 6.1 Thiết bị sử dụng nhiệt của bã rượu để sưởi ấm

Lõi ngơ có khá nhiều cơng dụng hữu ích đối với đời sống, nó có thể chế tạo làm thức

ăn cho gia súc, có thể lên men acid lactic bằng vi khuẩn Lactobacillus Plantarum từ

dịch thủy phân lõi ngô. Ngày nay, người ta biết đến thuật ngữ Tetrahydrofurfuryl

như là một loại nhựa được chiết xuất từ lõi ngô. Loại nhựa này được sử dụng khá nhiều

trong ngành sản xuất sơn công nghiệp, dung mơi cho thuốc nhuộm và véc-ni. Ngồi ra,

người ta còn có thể dùng lõi ngơ sản xuất than bánh và thanh nhiên liệu làm chất đốt

cho các hộ gia đình để giảm chi phí nhiên liệu

Cuối cùng đối với lượng khí CO2 thốt ra từ quy trình sản xuất thì ngồi mục đích dùng

để ni vi tảo Spirulina Platensis như đã trình bày ở phần nội dung thì bên cạnh đó vẫn

còn khá nhiều cơng dụng hữu ích mà ta có thể tận dụng được từ khí CO2. Chúng ta sẽ

đem thu hồi lại hết tất cả các lượng khí CO2 và sau đó dùng khí này cho công nghệ hàn.

CO2 được sử dụng chủ yếu là do nó rẻ tiền hơn nhiều so với các khí trơ như

Argon hay Heli. Mặc khác, ta còn có thể tái sử dụng khí CO2 để phục vụ cho cơng nghệ

Laser như một chất làm môi trường và sử dụng trong công nghệ khai thác dầu: CO2

được bơm vào các giếng dầu. Nó có tác dụng như là tác nhân nén và khi hòa tan trong



33



dầu thơ dưới lòng đất thì nó làm giảm đáng kể độ nhớt của dầu thơ, tạo điều kiện để

dầu chảy nhanh hơn trong lòng đất vào giếng hút.



PHẦN KẾT LUẬN

Trong nhiều thập kỷ trước, có thể nhìn nhận rằng nước ta là một trong những quốc gia

nhập siêu so với các nước trong khu vực và phải xuất các nguồn ngun liệu thơ ra

nước ngồi. Điều này diễn ra trong hoàn cảnh đất nước vẫn còn đang khó khăn và còn



34



nhiều mặt yếu kém trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ buộc đất nước cần phải nhập

khẩu một lượng hàng hoá lớn từ các nước khác trên thế giới để đáp ứng được nhu cầu

của xã hội. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, khi mà đất nước đã dần đi lên, tham

gia vào nhiều hiệp định kinh tế, các chính sách khu vực nhằm thúc đẩy kinh tế quốc gia

thì việc tăng cường hội nhập quốc tế dần trở nên một xu thế tất yếu. Với xu thế này,

nước ta đang đứng trước rất nhiều cơ hội về phát triển kinh tế lẫn phát triển khoa học

kỹ thuật, đơn cử như cơ hội việc làm sẽ nhiều hơn, thị trường tiêu thụ to lớn hơn, cùng

với việc nhiều sự đầu tư nước ngoài có thể giúp chúng ta trao đổi học hỏi về kỹ thuật

công nghệ. Tuy nhiên song hành với những cơ hội đó là những thách thức cũng to lớn

khơng kém. Sự cạnh tranh của các sản phẩm trong nước và sản phẩm ngoại nhập sẽ trở

nên khóc liệt hơn. Đòi hỏi chất lượng sản phẩm phải ngày càng được nâng cao và chiến

lược phát triển bền vững của doanh nghiệp. Với tầm nhìn đấy, trong những năm trở lại

đây, nước ta đã có nhiều sự thay đổi đáng kể hay nói cách khác Việt Nam đang có một

sự chuyển mình rõ rệt ở nhiều mặt. Sự chuyển mình này tập trung vào việc thúc đẩy

hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm- một trong những yếu tố mấu chốt tạo nên sự phát

triển nhanh chóng và bền vững của một quốc gia. Điển hình là năm 2016 đã trở thành

năm quốc gia khởi nghiệp. Hàng loạt các dự án start-up ở mọi lĩnh vực đồng loạt được

hiện thực hoá. Trong đó cũng có nhiều dự án về ngành thực phẩm đặc biệt là các dự án

cung cấp thực phẩm sạch, ngoài ra nhiều sản phẩm nước uống đa dạng, thức ăn phong

phú đủ chủng loại cũng xuất hiện trên thị trường. Tuy nhiên không may mắn một điều,

đi cùng với sự gia tăng sản xuất cũng đồng nghĩa với việc kéo theo lượng chất thải, phế

phụ liệu từ các quy trình sản xuất cũng được thải ra nhiều hơn. Thơng qua bài tiểu luận

này có thể thấy trong q trình sản xuất rượu từ ngô đã cho hai sản phẩm thải bỏ chính,

là lõi ngơ và bã rượu.

Nhìn chung, hai nguồn phế phụ liệu này có khá nhiều hướng phát triển như đã đề cập

trong bài. Trong đó, hai hướng phát triển chính được lựa chọn là áp dụng để sản xuất

thức ăn cho gia súc và giá thể để trồng nấm sò trắng. Dễ dàng nhận thấy rằng, hai

nguồn phế phụ liệu được lựa chọn là lõi ngô và bã rượu vẫn còn chứa khá nhiều giá trị



35



sinh học cũng như các thành phần dinh dưỡng còn tồn đọng. Từ đó, việc tìm hiểu về

các giá trị dinh dưỡng để xác định rõ hướng phát triển sản phẩm cũng như đề xuất ra

được quy trình sản xuất sản phẩm từ nguồn phế phụ liệu là một trong những yêu cầu

trọng tâm của nhóm. Khơng những xác định được quy trình sản xuất tổng qt mà bên

cạnh đó, việc đưa ra được các mục đích, thu thập thơng số, phương thức thực hiện, các

biển đổi vật lý, hoá học của từng giai đoạn cũng phải được giới thiệu rõ ràng, cụ thể.

Nhìn chung, từ những giá trị thu được của nguồn phế phụ liệu trên thì ta có thể nhận

định đây là hai hướng phát triển sản phẩm sẽ đem lại giá trị kinh tế khá lớn. Bên cạnh

việc mang lại giá trị kinh tế, tận dụng được sản phẩm thải bỏ, giải quyết được vấn đề

mơi trường thì còn góp phần làm đa dạng hố các loại thực phẩm, đáp ứng được nhu

cầu của con người.

Tóm lại, với xu thế không ngừng phát triển của xã hội, ngày càng nhiều ngành sản xuất

được đẩy mạnh thì lượng phế phụ liệu vẫn sẽ tăng trong thập kỉ tới là điều không thể

tránh khỏi. Môi trường sống vẫn sẽ bị đe doạ bởi những nguồn phế liệu này nếu chúng

không được xử lý và tận dụng hợp lý. Do đó, vấn đề xử lý phế liệu sẽ luôn luôn cần sự

quan tâm đúng mực để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. M.T. Densikov (1977). Người dịch: Nguyễn Văn Đạt, Bùi Huy Thanh. Tận dụng phế

liệu của công nghiệp thực phẩm. NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội.



36



2. Giáo trình tận dụng phế liệu của công nghệ chế biến rượu, bia. Trường Cao đẳng Kỹ

thuật Công nghệ Đồng Nai.

3. Nguyễn Thị Thanh Hà (2012). Nghiên cứu quá trình lên men acid lactic từ lõi ngô.

Đại học Đà Nẵng.

4. Bùi Thị Thùy Dung (2016). Nghiên cứu sử dụng lõi ngô làm chất hấp phụ để lọc

amoni ra khỏi nước. Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu.

5. Trần Đình Kim, Trần Văn Tựa, Nguyễn Tiến Cư, Đỗ Tuấn Anh, Đặng Thị Thơm,

Hoàng Trung Kiên, Lê Thu Thuỷ, Vũ Thị Nguyệt, Mai Trọng Chính, Nguyễn Văn

Vượng. Nghiên cứu sử dụng CO2 từ khí thải đốt than để ni vi tảo Spirulina Platensis .

Tạp chí Khoa học và Công nghệ 49 (4) (2011) 65-72.

6. N. Nguyễn (2007). Bê tông... lõi ngô. nld.com.vn.

7. Phạm Xuân Quý (2008). Nguồn gốc và sự phân bố amoni và asenic trong các tầng

nước chứa nước đồng bằng sông Hồng. Đại học Mỏ - Địa chất. Hà Nội.

8. Giáo trình thực hành cơng nghệ sản xuất đồ uống. Trường Đại học công nghiệp

Thành phố Hồ Chí Minh. 2009.

9. Lê Ngọc Tú (2002). Hóa Sinh Công Nghiệp. NXB Khoa Học Kỹ Thuật.

10. Bùi Ái (2013). Giáo trình Cơng nghệ lên men ứng dụng trong công nghệ thực

phẩm. Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh.

11. Lê Thanh Mai (2009). Các phương pháp phân tích ngành cơng nghệ lên men. NXB

Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội.

12. Nguyễn Thị Hồng Nhân (2008). Một số phương pháp chế biến phụ phẩm nông

nghiệp cho chăn ni trâu bò ở đồng bằng sơng Cửu Long. Tạp chí Chăn ni số 12.

13. Ngơ Hữu Tình (2003). Cây ngơ. NXB Nghệ An.



37



14. Nguyễn Đức Lương (2000). Giáo trình cây ngô. NXB Nông nghiệp.

15. Từ Việt Phú, Phạm Kim Đăng, Nguyễn Công Oánh, Chu Kỳ Sơn. Đánh giá tiềm

năng sử dụng phụ phẩm ngành rượu cồn để sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

tạp chí Khoa học và Phát triển 2016, tập 14, số 1:36-45.

16. Jenny Gustavsson, Christel Cederberg, Ulf Sonesson, Global Food Losses and Food

Waste (2011). Swedish Institute for Food and Biotechnology (SIK) Gothenburg.

Sweden.

17. Hoàng Nguyễn Thu Hà (2008). Nghiên cứu sản xuất viên nhiên liệu từ Biomass.

Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng.

18. Viện Ngôn ngữ (2004). Từ điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. tr. 776.

19. Lê Duy Thắng, Trần Văn Minh (2005). Sổ tay hướng dẫn trồng nấm. NXB Nông

nghiệp.

20. Nguyễn Lân Dũng (2004). Công nghệ nuôi trồng nấm(tập I,II) .NXB Nơng nghiệp.

21. Lương Đức Phẩm (2010). Giáo trình Công nghệ lên men. NXB Giáo dục Việt Nam.

22. Đinh Xuân Linh, Thân Đức Nhã, Nguyễn Hữu Đống, Nguyễn Thị Sơn, Nguyễn

Duy Trình, Ngơ Xn Nghiễn (2012). Kỹ thuật trồng, chế biến nấm ăn và nấm dược

liệu. NXB Nông nghiệp.

23. Hồ Cao Việt, Lê Văn Gia Nhỏ, Lê Quý Kha (2015). Thị trường và lợi thế so sánh

của sản xuất ngô lai ở đồng bằng Sông Cửu Long. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông

nghiệp Việt Nam.

24. Lê Bạch Tuyết (1996). Các q trình cơng nghệ cơ bản trong sản xuất thực phẩm.

NXB Giáo dục.



38



25. Minh Trí (2015). Thu lợi từ tái chế phế, phụ phẩm nơng nghiệp.

mtnt.hoinongdan.ord.



TRÍCH DẪN TÀI LIỆU

[1] Viện Ngôn ngữ (2004). Từ điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. tr. 776.

[2] Hoàng Nguyễn Thu Hà (2008). Nghiên cứu sản xuất viên nhiên liệu từ Biomass.

Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng.



39



[3] Jenny Gustavsson, Christel Cederberg, Ulf Sonesson, Global Food Losses and Food

Waste (2011). Swedish Institute for Food and Biotechnology (SIK) Gothenburg.

Sweden.

[4] Minh Trí (2015). Thu lợi từ tái chế phế, phụ phẩm nông nghiệp.

mtnt.hoinongdan.org.

(http://mtnt.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1107/40560/thu-loi-tu-tai-che-phe-phupham-nong-nghiep )

[5] Từ Việt Phú, Phạm Kim Đăng, Nguyễn Công Oánh, Chu Kỳ Sơn. Đánh giá tiềm

năng sử dụng phụ phẩm ngành rượu cồn để sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội khoa Chăn nuôi, Học viện Nơng nghiệp Việt Nam.

tạp chí Khoa học và Phát triển 2016, tập 14, số 1:36-45.

[6] M.T. Densikov (1977). Người dịch: Nguyễn Văn Đạt, Bùi Huy Thanh. Tận dụng

phế liệu của công nghiệp thực phẩm. NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội.

[7] Phạm Xuân Quý (2008). Nguồn gốc và sự phân bố amoni và asenic trong các tầng

nước chứa nước đồng bằng sông Hồng. Đại học Mỏ - Địa chất. Hà Nội.

[8] Bùi Thị Thùy Dung (2016). Nghiên cứu sử dụng lõi ngô làm chất hấp phụ để lọc

amoni ra khỏi nước. Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu.

[9] Trần Đình Kim, Trần Văn Tựa, Nguyễn Tiến Cư, Đỗ Tuấn Anh, Đặng Thị Thơm,

Hoàng Trung Kiên, Lê Thu Thuỷ, Vũ Thị Nguyệt, Mai Trọng Chính, Nguyễn Văn

Vượng. Nghiên cứu sử dụng CO2 từ khí thải đốt than để ni vi tảo Spirulina Platensis .

Tạp chí Khoa học và Cơng nghệ 49 (4) (2011) 65-72.

[10] Nguyễn Lân Dũng (2004). Công nghệ nuôi trồng nấm(tập I,II). NXB Nông

nghiệp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét riêng của nhóm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×