Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Quy trình sản xuất thức ăn gia súc dạng viên từ bã rượu

2 Quy trình sản xuất thức ăn gia súc dạng viên từ bã rượu

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



Quy trình sản xuất thức ăn gia súc dạng viên từ bã rượu

5.2.2 Thuyết minh quy trình

Thức ăn chăn ni đối với ngành công nghiệp nước ta hiện nay là một vấn đề cần thiết

để đáp ứng nhu cầu về năng suất chất lượng vật ni. Để vật ni có thể sinh trưởng,

phát triển tốt thì Những nguồn nguyên liệu thức ăn cung cấp này phải bảo đảm đầy đủ

các thành phần dinh dưỡng cho nhu cầu sinh lý, sinh trưởng, sinh sản của vật ni bên

cạnh đó còn phải mang tính chất kích thích tăng trưởng, tăng sức khỏe chống lại bệnh

và vừa dễ hấp thu.



27



Ngô là loại thức ăn dễ tiêu hóa, tống số vật chất tiêu hóa 85-90%. Vì vậy ngơ trở thành

thức ăn cơ sở của ngành chăn nuôi với tỷ lệ thường chiếm 45-70%. Ngô là thức ăn

được gia cầm thích ăn, có vị thơm ngon, chứa năng lượng cao nhất so với thức ăn ngũ

cốc khác, là nguyên liệu dùng để điều chỉnh mức năng lượng trong khi xây dựng thực

đơn thức ăn hỗn hợp. Vì vậy, chúng tơi đã tận dụng nguồn phế liệu bã ngơ được loại bỏ

từ quy trình sản xuất rượu từ tinh bột ngơ phía trên để sản xuất thức ăn gia súc dạng

viên cho vật nuôi.

Tiếp nhận nguyên liệu : bã ngơ được thải ra từ quy trình sản xuất rượu sẽ được thu

mua, vận chuyển đến nhà máy sản xuất thức ăn gia súc. Ở đây, công nhân nhà máy sẽ

thực hiện quá trình tiếp nhận, phân loại nguyên liệu cũng như xử lý các tạp chất lẫn vào

nguyên liệu trong quá trình vận chuyển trước khi bắt đầu đưa vào dây chuyền sản xuất.

Nghiền : mục đích của cơng đoạn nghiền nhằm làm nhỏ ngun liệu đến kích thước

yêu cầu, đồng thời việc nghiền nhỏ nguyên liệu cũng có giúp cho việc nén ép thuận lợi

hơn. Công đoạn nghiền được thực hiện bằng máy nghiền kiểu búa va đập tự do có sàng

lắp trong buồng nghiền. Khi nguyên liệu rơi vào buồng nghiền sẽ gặp búa quay với vận

tốc lớn đập ngay khi tiếp xúc thành các phần tử nhỏ hơn. Trong quá trình chuyển động,

các phần tử nghiền liên tục được phân ly bởi lưới sàng, khi đó các phần tử đủ nhỏ chui

qua lỗ sàng sẽ được vận chuyển ra ngoài để chuyển đến các cơng đoạn sau. Còn các

phần tử chưa chui qua lỗ sàng được là do có kích thước lớn hay bị cản trở bởi nguyên

nhân nào đó sẽ tiếp tục được nghiền nhỏ để đạt yêu cầu.

Các biến đổi trong q trình nghiền gồm nhiều tính chất nhưng sự thay đổi rõ rệt nhất

chính là sự giảm kích thước của nguyên liệu và sự tăng diện tích tiếp xúc bề mặt của

ngun liệu.

Phối trộn : mục đích của cơng đoạn này là trộn đều các thành phần nguyên liệu chính

với các nguyên liệu phụ đã được định lượng. Trong quá trình phối trộn sẽ góp phần

tăng cường các phản ứng hố học, q trình trao đổi nhiệt và giúp các chất hoà tan vào



28



nhau dễ dàng hơn. Ngoài ra, việc thực hiện phối trộn sẽ tránh được hiện tượng tạo nhiệt

cục bộ bởi cách tạo xáo động, đối lưu cưỡng bức để đồng nhất nhiệt độ.

Các thành phần nguyên liệu được đưa vào trong công đoạn này bao gồm : Cám gạo,

muối, urê, premix khoáng và vitamin, phụ gia,... Việc bổ sung cám gạo vào trong cơng

thức vì cám gạo có chứa lượng vật chất khơ tiêu hóa, protein tiêu hóa khá cao. Muối

được sử dụng với mục đích điều vị, cũng như bảo quản sản phẩm tránh ảnh hưởng của

nấm mốc, vi sinh vật có hại. Ngày nay, người ta cũng rất quan tâm đến đến các loại

vitamin bổ sung vào thức ăn vì nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và sinh sản,

thừa hoặc thiếu điều bị ảnh hưởng, chậm lớn còi xương giảm đẻ… Premix vitamin (hổn

hợp nhiều loại vitamin) cho các loại, tuổi và tính năng sản xuất của gia cầm là một lựa

chọn được ưu tiên trong ngành sản xuất. Dạng Premix này bao gồm các loại vitamin A,

D, E, B1, B2, B12 … có vai trò kháng sinh, phòng bệnh, chống oxy hóa cho vật ni.

Cơng đoạn trộn này được thực hiện bằng máy trộn hỗn hợp bột khơ kiểu trục vít thẳng

đứng và quy trình trộn được thực hiện gián đoạn theo từng mẻ . Đầu tiên, các thành

phần nguyên liệu được nạp vào máy theo các công thức và khối lượng đã quy định. Sau

đó dưới lực chuyển động của vít quay, lực ma sát của nguyên liệu với máy cũng như

giữa các thành phần nguyên liệu với nhau mà các cấu tử được trộn đều. Sau khi quá

trình trộn đều, tạo được hỗn hợp đồng nhất thì sản phẩm sẽ được tháo ra ngoài qua cửa

tháo liệu.

Yêu cầu kỹ thuật ở giai đoạn này là cần sự nạp nguyên liệu đồng đều, cũng như việc

thực hiện phối trộn được giám sát chặt chẽ từ đó đáp ứng tồn bộ nguyên liệu đều và có

màu đồng nhất với nhau. Tiếp đó, dựa vào khẩu phần dinh dưỡng của từng loại vật ni

mà ta có các cơng thức tính tốn lượng thức ăn phù hợp. Việc tính tốn hợp lý các

thành phần sẽ giúp bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết từ đó giúp vật ni có thể

sinh trưởng, phát triển tốt, kèm theo đó giúp tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận

cho doanh nghiệp.



29



Bổ sung vơi bột : Canxi là nguyên tố khoáng đa lượng cần thiết cho cơ thể sống vì nó

tham gia vào thành phần chính cấu tạo nên xương, duy trì các chức năng hoạt động của

mô thần kinh, tăng khả năng đàn hồi của cơ bắp,... Vì vậy nhu cầu Canxi của gia súc,

gia cầm là một trong những vấn đề cần được quan tâm. Có thể bổ sung Canxi vào thức

ăn gia súc ở nhiều dạng như : bột vỏ trứng, bột đầu tơm, bột xương,... Ở quy tình sản

xuất này, ta lựa chọn bổ sung bột vỏ sò. Vì trong bột vỏ sò có chứa khoảng 33% Canxi,

hơn 6% Photpho. Đặc biệt khi được nung ở nhiệt độ cao, chúng có khả năng kháng

khuẩn và tiêu diệt các vi khuẩn gây hại như nấm, Salmonella,...

Bổ sung vôi bột được thực hiện sau khi đã phối trộn các thành phần như cám gạo,

muối, urê, premix khoáng và vitamin, phụ gia vào trong nguyên liệu. Đầu tiên, ta sấy

nhằm mục đích tách ẩm làm khơ vỏ sò, sau đó làm mềm rồi nghiền mịn thành bột. Sau

đó, bổ sung vào trong thức ăn gia súc với tỉ lệ 0.5kg trên 100kg thức ăn. Ở giai đoạn

này đòi hỏi cần xử lý nhiệt ở nhiệt độ thích hợp. Tức là cần sấy bột vỏ sò ở nhiệt độ cao

để làm khơ ngun liệu rồi sau đó ở giai đoạn nghiền thì đỏi hỏi thành phẩm tạo thành

phải ở dạng bột nhỏ, mịn. Từ đó đáp ứng được u cầu lượng vơi trong bột sò sẽ khơng

bị lắng cặn xuống đáy máng ăn của gia súc.

Ép viên : ép viên nhằm định hình hỗn hợp thức ăn thành các hình dạng xác định đáp

ứng u cầu cơng nghệ theo chỉ tiêu về hình dáng, độ cứng, độ bền của nguyên liệu. Từ

đó cũng làm tăng độ bền, độ chặt của hỗn hợp, tăng khối lượng riêng của sản phẩm,

tránh các hư hại do va đập trong quá trình vận chuyển, bảo quản. Bên cạnh những mục

đích cơng nghệ nêu trên, thì việc ép viên còn giúp cho việc phân phát thực ăn cho vật

ni dễ dàng, đồng bộ hơn.

Bảng 5.1. Số liệu về đường kính của viên đối với một số vật ni

( theo cơng ty Stolz - Pháp )

Loại vật ni

Trâu, bò

Heo



Đường kính viên (mm)

8

6



30



Gà, vịt

4

Tôm, cá

2,5

Sau khi được trộn bột và được sấy nhằm làm nóng, nguyên liệu sẽ được đẩy xuống bộ

phận tạo hạt. Sau khi ép, tạo viên xong thì những ngun liệu thức ăn gia súc dạng viên

có kích thước phù hợp sẽ được đưa đến các máy sàng viên nhằm phân loại những hạt

có đường kính đạt u cầu. Các thơng số cần lưu ý trong q trình này chính là độ cứng

của viên nguyên liệu sau ép bởi độ cứng quá cao sẽ gây khó khăn cho vật nuôi khi nhai

và đôi khi không tận dụng được nguồn dinh dưỡng mà chúng ta cung cấp cho chúng.

Ngược lại, độ cứng quá thấp sẽ dễ bị bể vỡ trong quá trình vận chuyển. Nhìn chung,

viên thức ăn phải đáp ứng được các yêu cầu như phải có độ bền, độ đồng đều cao, chịu

được sự rung động, viên đưa vào đóng bao phải có độ ẩm ở chế độ bảo quản (dưới

14%), và nhiệt độ bền bằng nhiệt độ mơi trường.

Q trình ép là một q trình cơ học chủ yếu là biến đổi về vật lý như biến đổi về cấu

trúc, trạng thái liên kết, tỉ lệ hai pha rắn - lỏng, tăng độ kết dính giữa các phân tử.... Ở

đây khơng có sự thay đổi đáng kể về mặt sinh hố, tuy nhiên có thể có sự thất thốt

vitamin, các hoạt chất dinh dưỡng vì chúng sẽ có khả năng bị giải phóng khỏi tế bào.

Đóng gói, bảo quản : Sau khi qua q trình tạo viên ta sẽ thu được các sản phẩm dạng

viên. Sản phẩm được đóng gói thường theo bao, với khối lượng từ 30- 50kg / bao. Việc

đóng gói được thực hiện nhờ hệ thống cân và đóng gói tự động. Nhờ có q trình sấy

kết hợp cùng với giai đoạn ép viên cho nên sản phẩm sẽ đáp ứng được các yêu cầu

công nghệ của công đoạn làm khô sản phẩm chính là nhằm mục đích kéo dài thời gian

bảo quản. Cuối cùng, sản phẩm được tạo thành hoàn chỉnh sẽ được lưu kho và phân

phối đến các nhà sản xuất phân phối cũng như đến các trang trại.

6. Nhận xét riêng của nhóm

Từ mục đích ban đầu của bài tiểu luận "Tận dụng nguồn phế phụ liệu thu được từ quy

trình sản xuất rượu từ tinh bột" chính là tìm ra các hướng giải quyết được lượng lớn các



31



phế phụ liệu được thải bỏ từ quy trình sản xuất rượu thì trong q trình tìm hiểu nhóm

đã tự cung cấp được cho mình thêm một số kiến thức nhất định.

Đầu tiên, đó là về việc định nghĩa một cách chính xác khái niệm phế phụ liệu cũng như

nhận ra được việc xử lý nguồn phụ phẩm này là một vấn đề vô cùng cần thiết trong

điều kiện hiện nay. Thứ hai, thơng qua việc tìm hiểu về quy trình sản xuất rượu từ tinh

bột ngơ đã giúp nhóm em hiểu rõ hơn các thông số kĩ thuật, công đoạn cần thiết của

quy trình nấu rượu. Tiếp đó, việc xác định được các thành phần hoá học, giá trị dinh

dưỡng của các nguồn phế phụ phẩm được thải ra từ quy trình chính để từ đó tìm ra các

hướng giải quyết chính cho vấn đề trên. Và quan trọng nhất, từ các tài liệu thu thấp

được ở trên cũng như vận dụng những suy luận, kiến thức của nhóm mà chúng em đã

tìm ra được một số hướng giải quyết cho các nguồn phế phụ liệu trên. Ví dụ như đối

với lõi ngơ, ta có thể dùng làm chất hấp phụ để lọc amoni ra khỏi nước từ đó hạn chế

sự ô nhiễm nguồn nước. Hay đối với bã rượu, ta có thể dùng để sản xuất biomixin và

vitamin B12 làm thức ăn gia súc hay dùng làm men bánh mì.... Để từ đó, đưa ra hai quy

trình tận dụng nguồn phế phụ liệu trên một cách hiệu quả nhất, đem lại các giá trị kinh

tế cao đó là "Quy trình sản xuất giá thể trồng nấm sò trắng từ lõi ngơ" và "Quy trình

sản xuất thức ăn gia súc dạng viên từ bã rượu".

Nhưng bên cạnh hai quy trình trên, nhóm còn đề xuất ra được một số ý tưởng khác

xoay quanh ba nguồn phế liệu gồm lõi ngô, bã rượu, khí CO2 thu được từ quy trình sản

xuất trên. Đầu tiên, ta có thể tận dụng được nhiệt sinh ra từ bã rượu để sưởi ấm. Để làm

được điều trên, người ta đốt nóng chất tải nhiệt bằng bã rượu. Chất tải nhiệt thường

được sử dụng là nước. Việc sử dụng bã rượu nóng để sưởi ấm đã được áp dụng cho

công nhân vào những ngày mùa đông giá lạnh tại các tỉnh miền Bắc của nước ta . Nhìn

chung, đây là một phương pháp góp phần làm giảm đi lượng phế phụ liệu có trong q

trình lên men rượu từ ngơ và thêm vào đó còn giúp tiết kiệm được một lượng chi phí

đáng kể cho việc mua các thiết bị sưởi ấm khác.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Quy trình sản xuất thức ăn gia súc dạng viên từ bã rượu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×