Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các phế phụ liệu trong quy trình sản xuất

Các phế phụ liệu trong quy trình sản xuất

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



4.2. Tính chất, đặc điểm phế phụ liệu

4.2.1. Bã rượu

Khi sản xuất rượu từ ngơ thì chỉ có 1/3 lượng chất khô nguyên liệu được chuyển thành

rượu, phần chất khô còn lại khơng được lên men, trong đó có khoảng 1/3 chuyển vào

bã rượu, phần còn lại là protein, chất tro, chất béo…

Số lượng protein được tăng lên nhờ hợp chất nito của nấm men, còn hàm lượng chung

của protein tính theo chất khơ của bã rượu bằng khoảng 2 lần so với hàm lượng protein

của nguyên liệu đưa vào, trong bã rượu chế biến từ ngô , lượng nito ở dạng hòa tan chỉ

bằng 15-25% lượng nito chung. Lượng chất khô trong bã dao động trong khoảng 48%[6].

Theo hàm lượng các hợp chất chứa nito và chất béo thì bã rượu chế biến từ ngơ có giá

trị lớn nhất.

Bảng 3.1 Bảng thành phần của bã rượu từ ngô[6]

Thành phần của bã rượu



Bã rượu từ ngơ (%)



Nước



93,15



Chất khơ



6,85



Chất khơ hòa tan



2,49



Chất khử tính theo matose



0,53



Chất khử sau khi thủy phân với HCl 0,55

Tinh bột



0,47



Pentose



0,41



Hemicelulose



1,78



Nito



0,40



Tro



0,40



Trong bã rượu từ ngơ, thì với 0.4% lượng nito thu được thì lượng nito có trong protein

chiếm tỉ lệ cao nhất ( 90% so với tổng số các hợp chất nito). Trong nước lọc của bã



15



rượu bằng phương pháp sắc kí trên giấy người ta xác định có trên 12 acid amin cụ thể

như sau (tính bằng % so với hàm lượng protein )

Bảng 3.2 : Hàm lượng acid amin có trong protein[6]

Acid Amin

Hàm lượng (%)

Acid Amin

Alanin

9,8

Acginin

Acid aspatic

3,2

Acid glutamic

Isoloxin

6,2

Loxin

Lizin

7,6

Metionin

Phenylalanin

5,6

Treonin

Tirosin

4,8

Valin

Ngồi các thành phần chính kể trên thì trong bã ngơ còn có một



Hàm lượng (%)

6,8

1,1

6

33,4

7,8

1,7

số thành phần khác .



Cụ thể, lượng các acid có trong bã ngơ thu được có hàm lượng tương đối cao. Theo số

liệu phân tích của Viện nghiên cứu thức ăn gia súc, trong bã rượu có 0,4 - 1,26% acid

lactic, 0,72% acid acetic tự do và 0,04-0,24% acid acetic liên kết. Trong bã rượu từ ngơ

cũng có các vitamin, các chất hòa tan khơng chứa nito dễ dàng được đồng hóa bởi súc

vật.

4.2.2. Lõi ngô

Thành phần chủ yếu của lõi ngô là xenluloza, hemixenluloza và lignin, nên rất khó bị vi

sinh vật phân hủy. Lõi ngơ được nghiên cứu cho thấy có khả năng tách các amoni hòa

tan trong nước nhờ vào cấu trúc nhiều lỗ xốp và thành phần gồm các polyme nhờ

xenluloza, hemixenluloza, pectin, lignin và protein.



Bảng 3.3 Thành phần các chất có trong lõi ngơ[6]

Thành phần



Phần trăm (%)



16



Xenlulozo

Lignin

Độ ẩm

Hemixenlulozo

3.2.2.3. Khí CO2



32,3 – 45,6

6,7 – 13,9

12,6

39,8



Khí cacbonic (CO2) trong điều kiện bình thường là khí khơng màu, có mùi và có vị

chua nhẹ. Nó hòa tan tốt trong nước, nặng gấp 1,524 lần khơng khí. Khí CO 2 khơng

tham gia các phản ứng cháy và hóa lỏng tại nhiệt độ -78 độ C. Tại nhiệt độ 2000 oC, khí

CO2 có thể bị phân hủy tạo thành CO và O2.

4.3. Hướng phát triển cho các loại phế phụ liệu

4.3.1. Bã rượu

Bã rượu của các nhà máy sản xuất rượu từ ngô hầu như hoàn toàn được tiêu thụ làm

thức ăn cho gia súc, một phần nhỏ ở dạng tự nhiên. Giá trị thức ăn của bã rượu từ ngô

được xác định bằng 0,5 – 0,8 đơn vị thức ăn gia súc trong 10 lít hay 50 – 80 kg đơn vị

thức ăn trong 1m3, phụ thuộc vào thành phần của nguyên liệu đem chế biến. Hàm

lượng protein tiêu hóa được trong những bã rượu đó lớn hơn 180g trong 1 đơn vị thức

ăn gia súc, trong khi tiêu chuẩn trung bình là 80 – 100g/ một đơn vị thức ăn gia súc [6].

Cùng với điều đó, bã rượu là một mơi trường tốt để sản xuất protein đậm đặc, giàu

vitamin và các chất kháng sinh. Việc chế biến bã rượu để nhận được những sản phẩm

đó và tăng thêm một cách đáng kể nguồn thức ăn gia súc để phát triển ngành chăn nuôi.



4.3.1.1. Sản xuất men thức ăn gia súc khô bằng bã rượu



17



Những nghiên cứu của Viện trung tâm nghiên cứu công nghiệp rượu V.B. Fremen, A.P.

Sarvina nhận thấy rằng khi nuôi cấy trên nước bã rượu ( lọc thơ ) nấm men gia súc thu

được có thể tới 22kg ( theo nấm men khô tuyệt đối ) trên 1m3 bã rượu tự nhiên.

Khi tính thành sản phẩm hàng hóa,nếu thủy phân 10% tổng sản phẩm thì hiệu suất nấm

men khô đạt được khoảng 24kg trên 1 tấn bã rượu tươi đưa vào. Trong nấm men khô,

hàm lượng protein khoảng 50 – 52% còn vitamin B2 48 -50 mg/kg[6].

Trong sơ đồ kỹ thuật được thiết lập bởi trung tâm nghiên cứu khoa học về rượu, ngồi

việc ni cấy nấm men, bã thải lần thứ 2 ( 680kg trên 1 tấn bã rượu đưa vào ) được làm

giàu nito ( bằng amon cacbonat ) để tăng giá tị làm thức ăn của chúng. Khi đó trong bã

thải lần thứ 2 do pha thêm chất chưa nito nên nhận được thêm 30 đơn vị thức ăn gia

súc.

4.3.1.2. Sản xuất men bánh mì

Khi chế biến bã rượu từ ngơ bằng nấm mốc Aspergillus Oryzae với tác dụng của phức

hệ của các enzyme chứa trong đó, xảy ra sự phân hủy các chất glucid phức tạp mà malt

không sử dụng được như dextrin, hemixeluloza, pentozan,…để tạo thành các đường

khử. Khi đó các enzyme cũng thủy phân pectin và protein. Khi đường hóa bằng nấm

mốc, số lượng đường trong bã rượu được tăng lên 4 lần và đạt tới 2% hay hơn nữa.

Từ bã rượu trong máy sàng lọc, người ta tách được bã và đem ép chúng trong máy ép

trục cán đến hàm lượng ẩm 56-58%, đem thanh trùng và bằng phương pháp bề mặt,

người ta nuôi cấy nấm mốc chủng Aspergillus Oryzae trên đó. Tại nhiệt độ 32-34 0C,

người ta sẽ cấy vào bã ép những bào tử nấm đã được chế biến sẵn bằng mốc giống. Sau

khi cấy, khối bã đó được đảo trộn đều, sau đó người ta để yên trong 2 ngày, trong thời

gian đó tại nhiệt độ 30 – 35 0C, xảy ra sự phát triển của mốc. Sau 24h, nấm mốc sẽ phát

triển.Từ 1m3 bã rượu, có thể thu được 17 kg men bánh mì ép.. Hiệu suất nấm men từ 1

tấn chất khô của bã rượu là gần 26%.

4.3.1.3. Sản xuất biomixin và vitamin B12 làm thức ăn gia súc



18



Việc sử dụng các chất kháng sinh trong khẩu phần thức ăn gia súc đạt một hiệu quả rất

lớn. Chất kháng sinh duy trì hoạt động của hệ vi sinh vật nhất định nào đó trong hệ

thống tiêu hóa của súc vật, đồng thời ức chế sự phát triển của vi sinh vật có hại có trong

chúng. Nhờ đó trạng thái chung của gia súc được tốt hơn, lông phủ tốt hơn, ăn ngon

miệng hơn, độ tăng trọng tăng lên, sử dụng thức ăn được tốt hơn, khi đó bệnh tật, tỷ lệ

dịch bệnh của gia súc và gia cầm được giảm rất nhiều.

Người ta thu được biomixin khi nuôi cấy Actinomyces Streptomyces Aureofaciens trên

môi trường dinh dưỡng đặc biệt. Trong quá trình phát triển Actinomyces sẽ tạo thành

Biomixin đồng thời tổng hợp vitamin B12. Vitamin B12 làm tăng nhanh sự phát triển của

gia cầm, đặc biệt đối với gà con và tăng khả năng đẻ trứng của gà đẻ. Sử dụng

Biomixin phối hợp với vitamin B12 làm tăng khả năng đồng hóa protein của thức ăn và

tăng hiệu quả sử dụng của protein thực vật, tăng tốc độ phát triển của lợn, trung bình là

10 -20%, tiết kiệm được thức ăn trên 1 kg tăng trọng trung bình là 5 -10%.

4.3.2. Lõi ngơ

Lõi ngơ có khá nhiều cơng dụng: có thể chế tạo làm thức ăn cho gia súc, có thể lên men

acid lactic bằng vi khuẩn Lactobacillus plantarum từ dịch thủy phân lõi ngơ. Còn có

một vài nghiên cứu sử dụng lõi ngơ làm chất hấp phụ để lọc amoni ra khỏi nước tại các

bệnh viện hay cơ sở nhà máy, công ty,… Đặc biệt, còn có thể sản xuất than bánh và

thanh nhiên liệu làm chất đốt cho các hộ gia đình.

Dưới đây nhóm em xin trình bày hai hướng phát triển mà nhóm em cho là có tiềm

năng, tiết kiệm chi phí và hữu ích nhất.

4.3.2.1. Sử dụng lõi ngơ làm chất hấp phụ để lọc amoni ra khỏi nước

Theo đánh giá của nhiều báo cáo và hội thảo khoa học thì tình trạng ô nhiễm amoni

trong nước ngầm đã được phát hiện tại nhiều vùng trong cá nước, như ở phần lớn nước

ngầm khu vực đồng bằng Bắc Bộ đều bị nhiễm amoni rất nặng. Xác suất các nguồn

nước ngầm ở các tỉnh này nhiễm amoni có nồng độ cao hơn tiêu chuẩn nước sinh hoạt

(3mg/l) khoảng 70 – 90%, còn ở nước ngầm TP. Hồ Chí Minh cũng vậy (68,73 mg/l



19



cao gấp 1,9 lần so với năm 2005 ) [7]. Nước nhiễm amoni gây nguy hiểm nghiêm trọng

đến sức khỏe của con người làm trẻ nhỏ bị thiếu máu, khó thở liên quan đến bệnh về hơ

hấp.

Bên cạnh đó, phụ phẩm lõi ngơ có thành phần chủ yếu là xenluloze (32,3 – 45,6), có

những đặc tính tốt để sản xuất ra vật liệu hấp phụ giúp lọc nước.

Từ lõi ngô ban đầu được cắt nhỏ sau đó ngâm với nước cất trong 24h rồi đem đi sấy ở

nhiệt độ 900C trong 6h để được lõi ngơ ngun liệu. Sau đó, đem chúng ngâm trong

H2SO4 trong một khoảng thời gian, sau khi ngâm đem đi rửa nhiều lần với nước cất rồi

ngâm với NaHCO3, rồi lọc lấy vật liệu và rửa, cuối cùng đem đi xử lý nhiệt.[8]

4.3.2.2. Sử dụng lõi ngô làm bê tơng

Bê tơng từ lõi ngơ có cường độ nén là 130 kg/cm2; bền hơn so với gạch nung trong mơi

trường khơng khí bình thường. Để có độ bền như vậy, quy trình sản xuất bê tơng siêu

nhẹ từ lõi ngô này phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về thành phần nguyên

liệu, phụ gia và quy trình chế tạo lõi ngô như tách hạt, phơi, tạo chất liệu. Tỉ lệ hàm

lượng lõi ngơ thay thế có thể đến 60%, vì thế có thể nhẹ hơn bê tơng thông thường đến

70%, giá thành rẻ hơn bê tông thông thường đến 30%. Loại bê tơng này rất thích hợp

với nền đất yếu, vùng trũng và rất hữu dụng cho những địa phương có nhiều phế liệu

nơng nghiệp.

4.3.3. Khí CO2

4.3.3.1. Sử dụng CO2 để ni vi tảo Spirulina Platensis

Khí CO2 sinh ra trong quá trình lên men rượu khá nhiều. Việc sử dụng CO 2 cho việc

nuôi thử nghiệm vi tảo Spirulina platensis SP4 thì đạt hiệu quả. Hiệu quả hấp thụ CO 2

(78,7% - 94,35% trong dải pH tương ứng từ 9,00 đến 9,29 ) của dịch huyền phù ảo, khả

năng tăng sinh khối cũng như chất lượng sinh khối thu được. Hướng phát triển này sẽ

giúp giảm thiểu khí CO2 sinh ra và giảm hiệu ứng nhà kính và còn tạo nguồn carbon để

ni đại trà vi tảo giàu dinh dưỡng[9].



20



Bảng 3.4 Thành phần có trong sinh khối vi tảo Spirulina[9]

STT

1

2

3

4

5



Thành phần (% TLK)

Protein tổng số

Chất béo

Hydratcacbon

Tro

Carotenoids tổng số



Spirulina sử dụng CO2

56,11

11,03

4,84

9,12

0,48



Lõi ngô



Tiếp nhận nguyên

liệu



Nghiền



Nước vôi







Cám gạo



Phối trộn



Thời gian 3-4 ngày

pH 11-13

Độ ẩm 62-67%



Đóng bịch

Thời gian 180 phút

Nhiệt độ 1210C

Thanh trùng



5. Giải quyết vấn đề xử lý phế phụ liệu

5.1 Quy trình sản xuất giá thể trồng

5.1.1 Quy trình cơng nghệ



Làm nguội



nấm sò trắng từ lõi ngơ



Cấy giống



Ươm sợi



Chăm sóc thu hái



Thời gian 10 - 15 ngày



21



Quy trình sản xuất giá thể trồng nấm sò trắng từ lõi ngơ

5.1.2 Thuyết minh quy trình

Từ xưa, ơng bà ta đã biết đến nấm như là một loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng cần

thiết cho con người. Ngày nay, khi khoa học tiến bộ, các nhà khoa học còn phát hiện

được nhiều điều kỳ diệu từ nấm ăn. Ngoài đặc điểm là thức ăn ngon miệng ra, nấm còn

chứa nhiều hoạt chất quan trọng trong việc phòng ngừa các bệnh như : Acid Folic giúp

phòng ngừa và điều trị bệnh thiếu máu, Retine làm chậm sự phát triển các tế bào ung



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các phế phụ liệu trong quy trình sản xuất

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×