Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Tình hình phế phụ liệu hiện nay ở Việt Nam và thế giới

2 Tình hình phế phụ liệu hiện nay ở Việt Nam và thế giới

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



lớn, đầy tiềm năng. Nhưng bên cạnh những hoạt động tích cực ấy vẫn còn đọng lại một

số mặt tiêu cực nhất định mà trong đó vấn đề lượng phế thải cơng nghiệp thải ra hằng

năm từ các quy trình sản xuất của doanh nghiệp là một trong những ưu tiên cần được

quan tâm đặc biệt. Vì nước ta là nước chủ lực về nơng nghiệp do đó hằng năm lượng

phế phụ liệu thải ra từ các nguồn: thóc, gỗ, ngô... là một lượng lớn đến hàng triệu tấn.

Một trong những lý do của việc tăng nhanh con số phế phụ liệu nơng nghiệp chính là vì

ngày nay con người khơng còn chú trọng đến việc tái sử dụng những phế phẩm nông

nghiệp. Cho nên những phế phẩm nông nghiệp này thường bị bỏ lại ngay tại đồng

ruộng sau khi thu hoạch. Điển hình là trong mùa vụ thu hoạch lúa trên đồng, sau khi gặt

lúa thì người nơng dân mang lúa về còn lại các phế phẩm từ lúa như rơm và rạ sẽ bị bỏ

lại hoặc đem đi đốt. Điều này ảnh hưởng lớn đến môi trường, vừa ảnh hưởng tới sức

khỏe con người.

Do đó, lượng phế thải sẽ tập trung thành quy mơ lớn và đòi hỏi cần có hướng giải quyết

sao cho hợp lý nhất đáp ứng các yêu cầu môi trường cũng như phát triển các tiềm năng

từ những nguồn bỏ đi. Theo thống kê và khảo sát thì các phế phụ liệu trấu khoảng 100

triệu tấn, mùn cưa 250 triệu tấn, vỏ lạc 4,5 triệu tấn, vỏ hạt điều, bã mía, gỗ vụn khoảng

400 triệu tấn [2].

Bảng 1.1: Lượng phế phụ phẩm ở Việt Nam

Phụ phẩm

Trấu



Tổng cả nước

> 11 triệu tấn

Tổng

6.8 triệu tấn

ĐB Sông Cửu Long

3.7 triệu tấn

ĐB Bắc Trung Bộ

0.76 triệu tấn

DH Nam Trung Bộ

0.68 triệu tấn

Mùn cưa

Tổng

5.8 triệu tấn

Miền Trung

1.15 triệu tấn

Tây Nguyên

2.5 triệu tấn

Tây Bắc

0.055-0.06 triệu tấn

Cà phê

Tây Nguyên

0.3-0.5 triệu tấn

Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, quy mô sản xuất ngày càng lớn và tập trung,

các phế phụ liệu nông nghiệp ngày càng tăng, việc nghiên cứu sử dụng chúng phục vụ

cho đời sống và công nghiệp càng trở nên cần thiết. Vấn đề đặt ra hiện nay làm thế nào



5



giải quyết triệt để việc tái sử dụng phế phẩm nông nghiệp tạo sinh kế cho người nông

dân đồng thời hạn chế mức độ ảnh hưởng tới môi trường. Đã có nhiều hướng ứng dụng

để xử lý nguồn phế phụ liệu kể trên như có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc, làm

phân bón, làm hương liệu, và nhiều ứng dụng khác.

1.2.2. Tình hình phế phụ liệu trên thế giới

Nghiên cứu được công bố vào năm 2016 cho thấy có khoảng 10 triệu tấn lương thực và

nước uống là lãng phí trong các chuỗi hậu trại ở các cửa hàng tại Anh mỗi năm, 60%

trong số đó có thể tránh được. Tỷ lệ cao nhất của chất thải thực phẩm này (khoảng 7

triệu tấn) là từ các hộ gia đình. Sau khi các hộ gia đình, các lĩnh vực sản xuất sản xuất

được khoảng 1,7 triệu tấn chất thải thực phẩm; theo sau bởi sự hiếu khách (khoảng 0,9

triệu tấn)[3]. Từ đó các nước phát triển bắt đầu phân tích lượng phế phụ liệu, chất thải

thực phẩm để tận dụng và sử dụng hết các phế phụ liệu thải bỏ. Tránh thiệt hại về mặt

kinh tế, tăng năng suất chế biến các ngành cơng nghiệp, lãng phí nguồn nguyên liệu…

Các ngành công nghiệp thực phẩm tạo ra số lượng lớn các chất thải. Xử lý phế phụ liệu

trong ngành công nghiệp thực phẩm là xu hướng tất cả các quốc gia, các công ty công

nghiệp chế biến đang hướng tới. Các phế phụ liệu là khối lượng lớn có giá trị thấp

nhưng nếu xử lý đúng cách thì sẽ mang lại các sản phẩm có lợi ích kinh tế và lợi ích

mơi trường to lớn. Cụ thể ở một số nước như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung

Quốc đã phát triển rất mạnh về ngành công nghệ chế biến phế, phụ phẩm nơng sản. Ví

dụ sản phẩm cám gạo có giá trị tăng cao hơn từ 100 - 300% khi được chế biến thành

thức ăn chăn ni, xà phòng, mỹ phẩm hoặc dược phẩm, rơm được chế biến thành viên

làm thức ăn gia súc, làm chất độn chuồng trong chăn nuôi hay xuất khẩu. Tại các nước

này, rơm còn được chế biến Ethanol hay nhiên liệu sinh học chế biến plastic sinh học

để sản xuất các loại bao bì, cốc chứa đựng sinh học thân thiện với mơi trường, làm chất

đốt, chế biến xà phòng, dầu ăn, mỹ phẩm… Còn ở Mỹ, rơm được tái chế thành một loại

vật liệu đặc biệt là những kiện rơm. Kiện rơm có tác dụng cách nhiệt tốt như vữa trát

tường và tường thạch cao. Những bức tường bằng rơm có thể chịu được sức gió trên

193 km/h, luồng nước trọng lượng hơn 4 tấn và nhiệt độ khắc nghiệp từ -20 - 50oC [4].



6



Nhưng hiện nay trên thế giới thì việc xử lý các phế phụ liệu thực phẩm cũng gặp nhiều

khó khăn. Bởi các phế phụ liệu có giá trị dinh dưỡng kém, ổn định cấu trúc kém nên

nếu thải ra ngồi mơi trường sẽ làm ơ nhiễm mơi trường, sinh ra các vi khuẩn có thể

gây hại cho con người. Vì vậy các ngành cơng nghiệp sản xuất thực phẩm đã phân tích

và nghiên cứu nhằm tìm ra hướng xử lý các phế phụ liệu trong quá trình chế biến. Tăng

lợi nhuận cho doanh nghiệp cũng như tăng lợi ích xã hội.

1.3 Đánh giá hiện trạng xử lý phế phụ liệu trong quy trình sản xuất rượu:

Ở Việt Nam, nấu rượu là một nghề thủ công đã có từ lâu đời hồ cùng với các truyền

thống đặc sắc của dân tộc ta. Ngành sản xuất rượu phát triển mạnh minh chứng cho

điều đó là có rất nhiều nhà máy đã hình thành cho ra đời nhiều loại sản phẩm khác

nhau. Ở nước ta có mỗi năm sản xuất được từ 180 đến 200 triệu lít rược các loại , tương

đương với khoảng 50 triệu lít còn tinh khiết.

Bảng 1.2 :Sản lượng rượu ở nước ta qua từng năm (%)

Rượu

Rượu trắng 25 độ



2000



2005



2011



4,7



13,1



52,6



2001-2011

27,4



cồn trở lên

Rượu mùi

Rượu champagne



3,5

0,3



2,1

0,3



6,8

1,0



6,71

12,58



các loại

Rượu vang từ quả



6,3



8,6



16,8



10,27



tươi

Rượu nấu thủ công



109,3



196,9



248,7



8,57



Một số nhà máy rượu tiêu biểu của nước ta là nhà máy rươu Hà Nội, nhà máy rượu

Vodka Boris Smirnow. Theo Bộ Y tế, cả nước có 20.000 cơ sở sản xuất rượu với tổng

sản lượng là 316 triệu lít, trong đó rượu nấu theo phương pháp truyền thống chiếm

82,25% năm 2007 (Bộ công thương 2013) [5]. Theo kết quả điều tra của nhóm nghiên

cứu thuộc viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) năm 2015 thì cứ 1 kg gạo tạo ra được

0,74 lít rượu và 2,05 kg bã rượu dạng ướt và kết quả phân tích tỷ lệ vật chất khơ bã



7



rượu khoảng 11%. Do đó, lượng bã rượu hàng năm thu được từ nấu rượu trong các làng

nghề truyền thống khoảng 720 triệu kg dạng ướt (80 triệu kg bã rượu tính theo chất

khơ). Vì lượng phế phụ liệu của ngành rượu chiếm khá nhiều nên các các nhà quản lý

đã tiếp tục đưa ra các chính sách làm khắc phục điều đó.

2. Tổng quan nguyên liệu

Ngô là cây lương thực quan trọng được gieo trồng ở nhiều nơi trên thế giới do ngơ có

một số vai trò quan trọng như sau : ngô là cây lương thực quan trọng cùng với lúa mì

và lúa gạo, ngơ được dùng làm thức ăn chăn ni, ngơ là thành phần chính để sản xuất

rượu truyền thống từ tinh bột.

2.1 Hạt ngô

Trọng lượng một quả ngô khoảng 200-400 g, đặc biệt có lồi nặng 600g. Chiều dài bắp

khoảng 10-25cm, đường kính khoảng 3-5cm. Hạt phát triển thành từng hàng thẳng, số

hàng mọc trên mỗi bắp thường là số chẵn. Số hàng phụ thuộc kích cỡ bắp ngơ khoảng

8-24 hàng, trung bình 16-20 hàng. Trong một ngơ hạt chiếm 78% khối lượng còn lại lõi

và cuống khoảng 22% khối lượng ở điều kiện tự nhiên. Hạt ngô gồm năm phần chính:

vỏ hạt, lớp aleurone, phơi, nội nhũ và chân hạt. Vỏ hạt bao xung quanh hạt, lớp

aleurone nằm dưới vỏ hạt và bao lấy nội nhũ và phơi. Nội nhũ là phần chính của hạt

chứa các tế bào dữ trữ chất dinh dưỡng. Nội nhũ có 2 phần: nội nhũ bột và nội nhũ

sừng. Tỉ lệ này phụ thuộc vào chủng ngô và các giống ngô khác nhau. Phơi ngơ chiếm

gần 1/3 thể tích của hạt.



Bảng 2.1 : Tỉ lệ các thành phần của hạt ngô ( theo % chất khô)

Thành phần

Vỏ

Phần trăm trong hạt 5,1 - 5,7



Phôi

10,2 - 11,9



Nội nhũ

81,8 - 83,5



Mày

0,8 - 1,2



Bảng 2.2 : Thành phần hoá học gần đúng của các thành phần chính của hạt ngơ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Tình hình phế phụ liệu hiện nay ở Việt Nam và thế giới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×