Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC CHUẨN MỰC BASEL 2 VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC CHUẨN MỰC BASEL 2 VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

108



Thứ hai: Cơ chế, chính sách tín dụng tại Agribank được ban hành mới, sửa

đổi, bổ sung kịp thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản trị RRTD

trong tồn hệ thống. Đặc biệt các chính sách liên quan đến phân loại nợ, xử lý

RRTD đã kịp thời ban hành trên cơ sở qui định của NHNN, đảm bảo việc tiến

hành phân loại nợ, trích dự phòng RRTD và xử lý RRTD được thực hiện theo

đúng qui định của NHNN và tiếp cận dần với chuẩn mực quốc tế về phân loại

nợ (phân loại nợ theo phương pháp định tính, căn cứ vào kết quả xếp hạng tín

dụng nội bộ).

Thứ ba: Bộ máy quản trị RRTD tại Agribank đã thiết lập được các chức năng

quản trị RRTD: tại TSC đã thiết lập được chức năng kinh doanh, chức năng

quản lý RRTD, chức năng KT-KSNB và chức năng KToNB. Trong đó mạng

lưới KT-KSNB từ TSC đến Chi nhánh loại 1, loại 2 hoạt động độc lập theo sự

điều hành từ TSC. Hệ thống cũng đã phân định được bộ phận chun nghiên

cứu và ứng phó với RRTD. Vì vậy cơng tác nghiên cứu ban hành cơ chế

chính sách phòng ngừa và xử lý rủi ro đã được chuyên biệt hóa, hoạt động

hiệu quả hơn.

Thứ tư: Việc nhận diện, đo lường, kiểm soát và giám sát RRTD tại Agribank

đã được thực hiện đối với từng khoản tín dụng và danh mục tín dụng. Mỗi

giai đoạn của q trình quản trị RRTD được chuẩn hóa thơng qua hệ thống

các điều kiện, giới hạn, qui trình và thủ tục quản trị RRTD thống nhất trong

toàn hệ thống. Nhận diện RRTD tại Agribank được thực hiện thường xuyên

trên cơ sở tiến hành ngay khi tiếp nhận nhu cầu tín dụng và thực hiện thường

xuyên đối với các khoản nợ chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đã giúp

Agribank nhận diện và hiểu rõ hơn RRTD.

Thứ năm: Agribank đã xây dựng được hệ thống XHTDNB với các bộ chỉ tiêu

chấm điểm riêng cho 3 nhóm khách hàng: các nhân/hộ, Doanh nghiệp và định

chế tài chính. Về nội dung và phương pháp, hệ thống đã tiếp cận được với



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



109



thông lệ quốc tế: bộ tiêu chí chấm điểm đã chi tiết hóa theo ngành nghề, lĩnh

vực kinh doanh, qui mơ vốn và loại hình sở hữu doanh nghiệp; Bộ chỉ tiêu đã

tính đến các yếu tố tài chính và phi tài chính, trong đó tầm ảnh hưởng đến khả

năng trả nợ được phân biệt theo trọng số khi tính điểm; Số lượng hạng khách

hàng và sự phận biệt giữa các hạng về cơ bản phù hợp với các phân hạng của

các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế có uy tín như: Moody’s, S&P’s,

Fitch’s…. Trước mắt hệ thống chấm điểm và xếp hạng đã hỗ trợ kịp thời cho

toàn hệ thống Agribank xác định và đánh giá RRTD, áp dụng phân loại nợ

theo phương pháp định tính, khắc phục những hạn chế của việc đánh giá

RRTD dựa vào chỉ tiêu định lượng.

Thứ sáu: Đối với danh mục tín dụng, việc nhận diện, đánh giá và kiểm sốt

tại Agribank được thực hiện thơng qua đánh giá mức độ tập trung tín dụng

theo nhiều tiêu thức đã phần nào giúp Agribank hạn chế mức độ tập trung tín

dụng, từ đó giảm bớt rủi ro tồn danh mục.

2.3.1.2 Hạn chế

Công tác quản trị RRTD đã đã được cải thiện đáng kể qua từng năm.

Tuy nhiên xét một cách tổng thể, hệ thống quản trị RRTD tại Agribank còn

nhiều hạn chế. Cụ thể:

Thứ nhất: Tổ chức bộ máy quản trị RRTD tại Agribank chưa đảm bảo sự

phân tách các chức năng quản trị RRTD: Tại TSC, các Ban tín dụng vừa thực

hiện chức năng kinh doanh (nghiên cứu phát triển thị trường tín dụng), vừa

thực hiện chức năng quản lý RRTD (thiết lập chiến lược, khẩu vị và chính

sách RRTD). Tại các Chi nhánh loại 1, loại 2 CBTD vừa ra quyết định cấp tín

dụng vừa quản lý rủi ro và chưa thiết lập chức năng KToNB. Tại các Chi

nhánh loại 3, CBTD kiêm nhiệm kinh doanh và quản lý RRTD, chưa thiết lập

chức năng KT-KSNB và KtoNB. Xét trên toàn hệ thống, chức năng bán hàng,

quản lý RRTD và KToNB chưa đảm bảo tính độc lập (kiểm tốn nội bộ chỉ có



Viết th luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



110



ở TSC, không thiết lập tại các Chi nhánh), KT-KSNB chưa được đặt đúng vai

trò trong hệ thống quản trị RRTD. Mơ hình này dẫn đến việc quản trị RRTD

thiếu sự đồng bộ, thiếu tính hệ thống. Sự phân tách trách nhiệm chưa rõ ràng

dẫn đến xung đột lợi ích giữa các bộ phận. Bên cạnh đó kỹ năng quản lý

RRTD còn hạn chế, các chức năng hỗ trợ tín dụng chưa được chú trọng nên

việc nhận diện, đánh giá, xử lý RRTD còn nhiều bất cập, dễ xảy ra các hiện

tượng sai phạm, gian lận trong hoạt động tín dụng và quản lý RRTD từ đó

làm phát sinh và nguy cơ gia tăng RRTD.

Thứ hai: Việc nhận diện RRTD của từng khoản tín dụng và danh mục tín

dụng tại Agribank còn nặng tính chủ quan của CBTD, thiếu thông tin và các

công cụ hỗ trợ để đảm bảo việc nhận diện RRTD chính xác.

Thứ ba: Tại Agribank, đo lường rủi ro từng khoản tín dụng riêng lẻ chưa

lượng hóa được khả năng khơng trả nợ của khách hàng và tổn thất. Vì vậy

việc xác định vốn bù đắp cho RRTD, dự phòng RRTD còn thiếu cơ sở khoa

học và độ tin cậy. Điều này dẫn tới hậu quả là Agribank không đủ nguồn bù

đắp cho tổn thất tín dụng khi có phát sinh RRTD. Việc đo lường rủi ro danh

mục tín dụng chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá mức độ tập trung tín dụng nên

nặng tính chủ quan, thiếu chính xác.

Thứ tư: Kiểm sốt RRTD tại Agribank còn kém hiệu quả: đặc biệt tại các Chi

nhánh vẫn còn tình trạng phê duyệt cho những khoản vay có RRTD vượt quá

mức cho phép của ngân hàng, hậu quả là phát sinh rủi ro và tổn thất tín dụng.

Các kỹ thuật giảm rủi ro còn nghèo nàn, sử dụng kém hiệu quả, chưa đánh giá

đúng tác dụng giảm rủi ro. Việc xử lý RRTD còn chậm, thụ động, các quyết

định xử lý RRTD chưa quan tâm một cách thích đáng đến đặc thù của khoản

vay và rủi ro của khoản vay. Vì vậy, vẫn còn tình trạng khơng xử lý triệt để

RRTD đối với từng khoản nợ có vấn đề, dẫn đến phát sinh nhiều vấn đề phải

xử lý gây mất thời gian, chi phí, thậm chí còn để lại nguy cơ RRTD và tổn



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



111



thất cho ngân hàng: các khoản nợ được cơ cấu lại chưa phải là những khoản

nợ có khả năng phục hồi khả năng trả nợ cao, nợ xử lý bằng dự phòng còn

hạn chế, các biện pháp bán nợ chưa chuyển giao hoàn toàn RRTD cho bên

mua…

Thứ năm: Giám sát RRTD tại Agribank kém hiệu quả do chưa có phân tách

chức năng giữa bộ phận giao dịch, bộ phận thẩm định và đánh giá lại tín dụng

trong khi hiệu quả giám sát của bộ phận KT-KSNB còn hạn chế. Theo kết quả

khảo sát của NCS tại một số Chi nhánh của Agribank, đánh giá lại tín dụng tại

các Chi nhánh được giao cho CBTD phụ trách khoản vay từ khi tiếp nhận nhu

cầu tín dụng (phụ lục 2.2). KT-KSNB chỉ tập trung vào giám sát tuân thủ qui

chế nội bộ và Hạn mức tín dụng, khả năng phát hiện và cảnh báo rủi ro gần

như chưa được thực hiện.

Thứ sáu: Hệ thống thông tin quản lý của Agribank còn bất cập: Agribank

chưa tận dụng được hết lợi thế về ứng dụng công nghệ thông tin trong công

tác quản lý, giám sát khách hàng. Trong một số trường hợp đã ảnh hưởng xấu

đến quản trị RRTD khi chưa khai thác hết lợi ích của hệ thống IPCAS trong

việc chiết xuất các dữ liệu hàng ngày để phân tích, đánh giá RRTD thường

xuyên, liên tục mà thường đánh giá theo định kỳ hàng tháng/quí.

Thứ bảy: Năng lực tài chính của Agribank còn hạn chế: Hiện tại hệ số CAR

của Agribank đã đạt 9% theo qui định hiện hành của NHNN. Tuy nhiên, so

với mức bình qn tồn ngành và Khối NHTMNN hệ số CAR của Agribank

còn thấp. Bên cạnh đó do tập trung nguồn lực cho xử lý nợ xấu nên tỷ suất

sinh lời của Agribank những năm gần đây suy giảm, còn thấp so với khối

NHTMNN.

2.3.1.3 Nguyên nhân các hạn chế

a. Nguyên nhân khách quan



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



112



Thứ nhất: Khung pháp lý qui định về quản trị RRTD cho NHTM tại Việt

nam còn nhiều bất cập, gây trở ngại cho công tác quản trị RRTD tại các

NHTM Việt Nam nói chung và Agribank nói riêng. Một số văn bản gần đây

đã được sửa đổi, bổ sung song để thực hiện cần có các hướng dẫn cụ thể hơn

(qui định bán nợ cho VAMC, qui định đảm bảo an toàn…). Hiện nay còn

thiếu các văn bản hướng dẫn liên quan đến xây dựng và vận hành hệ thống

XHTDNB, cảnh báo RRTD, vẫn còn hiện tượng cùng một khách hàng nhưng

xếp hạng rất khác nhau, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong

hệ thống NHTM.

Thứ hai: Hệ thống giám sát rủi ro bên ngoài ngân hàng bao gồm cơ quan

thanh tra giám sát ngân hàng, ủy ban giám sát tài chính quốc gia, các tổ chức

kiểm tốn… hoạt động kém hiệu quả, chưa đáp ứng được các yêu cầu về giám

sát và kiểm soát RRTD tại NHTM. Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng

trực thuộc NHNN chưa xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu để giám sát từ

xa và thanh tra trên cơ sở rủi ro hiệu quả, việc giám sát chủ yếu dừng lại ở

giám sát tn thủ. Trong khi đó, việc thu thập thơng tin trong quá trình thanh

tra, giám sát các NHTM chưa được quản lý bằng một hệ thống thông tin

xuyên suốt, do đó việc tổng hợp dữ liệu còn gặp nhiều khó khăn, đơi khi

khơng kịp thời. Cơng tác kiểm sốt rủi ro của Ủy ban giám sát Tài chính Quốc

gia chỉ mới dừng lại ở một số nghiên cứu và dự báo chung đối với thị trường

tài chính. Các đơn vị kiểm toán hiện nay chủ yếu thực hiện theo chỉ định hoặc

lựa chọn của Agribank với mục đích chủ yếu là kiểm tốn tn thủ các báo

cáo tài chính của Agribank, khả năng đánh giá, kiểm soát, dự báo rủi ro còn

thấp.

Thứ ba: Thiếu các tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập. Thực tế cho thấy, hoạt

động của các tổ chức xếp hạng độc lập sẽ tác động tích cực đến chất lượng

XHTDNB của các NHTM. Với kinh nghiệm và chất lượng xếp hạng của các



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



113



tổ chức độc lập đã được thừa nhận, hệ thống chỉ tiêu và kết quả xếp hạng độc

lập là cơ sở quan trọng để các NHTM thực hiện XHTDNB cũng như có các

điều chỉnh cách thức, nội dung, phương pháp xếp hạng đảm bảo tính chính

xác. Do đó, việc thiếu vắng các tổ chức xếp hạng độc lập sẽ tác động tiêu cực

đến chất lượng XHTDNB của các NHTM.

Thứ tư: NHNN chưa xây dựng được hệ thống cảnh báo sớm RRTD cho các

NHTM để hỗ trợ việc nhận diện, xác định sớm RRTD.

b. Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất: Hệ thống thông tin tín dụng hỗ trợ cho việc nhận diện, đo lường,

kiểm sốt và giám sát RRTD tại Agribank còn yếu cả về chất và lượng. Hiện

nay Agribank thiết lập hệ thống thơng tin tín dụng theo mơ hình vừa tập

trung, vừa phân tán. Theo đó tại các Chi nhánh có trung tâm thông tin thực

hiện chức năng thu thập, quản lý và sử dụng trong phạm vi chi nhánh. Tại

Trung tâm điều hành đặt tại TSC thực hiện quản lý thơng tin khách hàng tập

trung trong tồn hệ thống. Tại Chi nhánh: CBTD có trách nhiệm thu thập, lưu

trữ các thông tin liên quan theo qui định (bao gồm thông tin ban đầu khi thiết

lập quan hệ tín dụng và cập nhật định kỳ 3 tháng/lần) gửi về trung tâm thông

tin tại Chi nhánh. Trung tâm thông tin tại các chi nhánh có trách nhiệm tập

hợp, lưu trữ thơng tin khách hàng trong phạm vi chi nhánh và gửi về trung

tâm điều hành. Tại Trung tâm điều hành: Thu nhận thông tin từ các trung tâm

cơ sở gửi về. Các trung tâm cơ sở phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của

thơng tin tại chi nhánh mình khi chuyển về trung tâm điều hành. Tại trung tâm

điều hành quản lý, lưu trữ thơng tin của tồn bộ khách hàng trong hệ thống

Agribank. Việc sử dụng thông tin thực hiện thơng qua việc cấp mã truy cập

cho người có thẩm quyền. Theo đó, các bộ phận liên quan tại các chi nhánh

có thể khai thác thơng tin từ chính trung tâm thông tin của chi nhánh, thông

tin tại trung tâm điều hành hoặc có thể trực tiếp trao đổi thơng tin với các



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



114



trung tâm của các chi nhánh khác trong cùng hệ thống. Như vậy có thể thấy,

việc quản lý và sử dụng thông tin được trao quyền cho từng chi nhánh mà

không tập trung tại TSC. Do đó, chất lượng thơng tin được sử dụng cho q

trình quản trị RRTD phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng quản lý của từng chi

nhánh, khả năng kiểm soát chất lượng thơng tin từ TSC thấp. Chính đặc điểm

này dẫn đến tình trạng việc đánh giá chất lượng thơng tin cũng như sử dụng

thơng tin cho q trình quản trị RRTD trong toàn hệ thống thiếu sự đồng bộ,

thống nhất, tác động không nhỏ đến hiệu quả nhận diện, đo lường, kiểm soát

và giám sát RRTD.

Thứ hai: XHTDNB tại Agribank thực hiện phương pháp chuyên gia, kết quả

xếp hạng còn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của các chuyên gia. Bên cạnh đó

cơng tác xếp hạng hiện nay tại Agribank được thực hiện trực tiếp tại các Chi

nhánh nên việc quản lý, kiểm sốt kết quả xếp hạng còn thiếu chặt chẽ. Vì vậy

việc đo lường, đánh giá RRTD, phân loại nợ còn nhiều bất cập.

Thứ ba: Qui định quyền phán quyết tín dụng trong hệ thống Agribank được

trao cho các Chi nhánh quá lớn trong khi hoạt động KT-KSNB còn kém hiệu

quả: Hiện nay quyền phán quyết tín dụng cao nhất cho Phòng giao dịch là 2

tỷ, chi nhánh loại 3 là 30 tỷ, chi nhánh loại 1,2 lên đến hàng trăm tỷ. Trong

khi đó, KT-KSNB tính độc lập trong xử lý nghiệp vụ chưa cao, trình độ đội

ngũ KSNB còn nhiều bất cập, các khâu kiểm sốt còn nặng về hình thức, chưa

thiết lập KT-KSNB tại Chi nhánh loại 3 nên RRTD phát sinh do sai phạm,

gian lận, vi phạm đạo đức nghề nghiệp của CBTD, cán bộ quản lý ngân hàng

còn xảy ra khá phổ biến.

Thứ tư: Công nghệ hỗ trợ quản trị RRTD tại Agribank còn hạn chế. Hiện nay,

tại Agribank chưa áp dụng các công nghệ hiện đại hỗ trợ cho việc quản trị

RRTD. Đặc biệt là cơng nghệ hỗ trợ phân tích, lượng hóa RRTD và đo lường



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



115



vốn. Vì vậy việc nhận diện, đo lường, kiểm soát và giám sát RRTD còn thiếu

chính xác, kém hiệu quả.

Thứ năm: Trình độ và nhận thức về quản trị RRTD của CBTD tại Agribank

còn nhiều bất cập. So với các NHTM khác trong hệ thống NHTM Việt nam,

đội ngũ CBTD khá lớn. Song do mạng lưới hoạt động rộng, các chi nhánh bao

phủ đến tận các huyện, xã, vùng sâu, vùng xa…CBTD tại các địa bàn xã,

vùng sâu, vùng xa có trình độ chun môn thấp, nhận thức về tuân thủ qui chế

nội bộ và quản trị RRTD còn nhiều bất cập. Trong khi đó cơng tác đào tạo,

nâng cao trình độ chun mơn, đạo đức nghề nghiệp cho CBTD chưa được

chú trọng đúng mức. Theo kết quả khảo sát của NCS, phần lớn việc đào tạo

chỉ thực hiện theo hình thức tập trung khi có các qui định mới liên quan đến

qui trình nghiệp vụ. Các hình thức đào tạo online, tự đào tạo, kèm cặp chưa

trở thành chủ trương trong toàn hệ thống, nếu có chỉ là nhu cầu tự phát của

một số cá nhân. Giác ngộ ý thức, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp cho

CBTD chưa thực sự được chú trọng.

Thứ sáu: Việc minh bạch trong quản trị RRTD tại Agribank còn thấp. Nhận

diện, đo lường, kiểm sốt và giám sát RRTD tại Agribank trong chừng mực

nhất định chưa thực sự phản ánh đúng thực trạng RRTD trong toàn hệ thống

Agribank. Đặc biệt việc xử lý RRTD còn bị chi phối bởi tư tưởng muốn che

dấu nợ xấu, giảm nợ xấu bằng mọi cách. Kết quả là việc xử lý RRTD chưa có

cái nhìn dài hạn, chưa phân tích, đánh giá một cách đầy đủ các rủi ro, tác

động tiêu cực từ mỗi biện pháp xử lý. Việc xử lý RRTD chưa triệt để, còn để

lại nhiều tác động tiêu cực, nguy cơ tái phát sinh RRTD còn cao.

2.3.2 Đánh giá mức độ đáp ứng các chuẩn mực Basel 2 về quản trị rủi

ro tín dụng tại Ngân hàng Nơng nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt

nam



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



116



Từ đánh giá thực trạng quản trị RRTD tại Agribank giai đoạn 20102015, đối chiếu với nội dung quản trị RRTD của Basel 2, có thể thấy mức độ

đáp ứng Basel 2 về quản trị RRTD tại Agribank như sau:

Về chiến lược, khẩu vị RRTD và chính sách quản trị RRTD: tại

Agribank đã quan tâm đến việc xác định, đánh giá lại hàng năm chiến lược và

khẩu vị RRTD, trên cơ sở đó ban hành chính sách quản trị RRTD, trong đó

HĐTV chịu trách nhiệm phê duyệt cuối cùng. Tuy nhiên, việc xây dựng chiến

lược, xác định khẩu vị RRTD và thiết lập chính sách quản trị RRTD do Tổng

Giám đốc phối hợp với các Ban tín dụng thực hiện là chưa đảm bảo sự phân

tách giữa chức năng kinh doanh và chức năng quản lý RRTD theo khuyến

nghị của Basel 2, điều này dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.

Về tổ chức bộ máy quản trị RRTD: tại Agribank đã thiết lập được các

chức năng cơ bản của hệ thống quản trị RRTD theo Basel 2: chức năng bán

hàng, chức năng quản lý RRTD, chức năng KT-KSNB, chức năng KToNB.

Qui trình cấp tín dụng đã thực hiện đầy đủ các chức năng: chức năng giao

dịch, chức năng thẩm định, chức năng phê duyệt và chức năng đánh giá lại

tín dụng. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị RRTD tại Agribank chưa

tuân thủ các nguyên tắc quản trị RRTD của Ủy ban Basel và các yêu cầu của

Basel 2, cụ thể: Tại các chi nhánh, CBTD vừa thực hiện chức năng kinh

doanh (giao dịch, thẩm định) và chức năng quản lý RRTD (đo lường, đánh

giá, giám sát và xử lý RRTD). Tại TSC, các Ban tín dụng vừa thực hiện chức

năng của Khối kinh doanh (nghiên cứu thị trường, sản phẩm…) vừa thực hiện

chức năng quản lý RRTD (xây dựng và xác định chiến lược, khẩu vị RRTD,

ban hành qui trình, thủ tục quản trị RRTD), KT-KSNB chưa thực hiện giám

sát hàng ngày mọi hoạt động liên quan (chưa thực hiện kiểm tra, giám sát tại

chi nhánh cấp 3), KToNB chưa thiết lập mạng lưới tại các Chi nhánh.



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



117



Về qui trình và thủ tục quản trị RRTD: (i) Nhận diện RRTD: thiếu các

công cụ hỗ trợ như hệ thống cảnh báo sớm, hệ thống Stress-Testing RRTD

trong khi XHTDNB còn kém hiệu quả, chưa thực sự hỗ trợ tích cực cho việc

nhận diện RRTD nên việc nhận diện RRTD còn thiếu chính xác, chủ yếu mới

dừng lại ở nhận diện RRTD hiện hữu, khả năng nhận diện các RRTD có khả

năng phát sinh còn yếu. (ii) Đo lường, đánh giá RRTD: chưa định lượng

được các yếu tố cấu thành rủi ro theo đề xuất của Basel 2 (bao gồm PD, LGD,

EAD, M, EL và UL), mỗi hạng của khách hàng chưa được mô tả cụ thể về

khả năng không trả được nợ và các thông tin liên quan. Đặc biệt đối với danh

mục tín dụng, Agribank chưa tiếp cận với các mơ hình định lượng RRTD theo

thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel 2 như mơ hình RAROC, mơ hình VAR.

Vì vậy, về cơ bản mức trích dự phòng RRTD và đảm bảo vốn cho RRTD

chưa được tuân thủ theo Basel 2. (iii) Kiểm sốt RRTD: thiếu các cơng cụ, các

kỹ thuật hỗ trợ kiểm soát RRTD (tại Agribank chưa sử dụng kỹ thuật chứng

khốn hóa các khoản nợ, phái sinh tín dụng…), trong khi đó các cơng cụ, kỹ

thuật được sử dụng (cơng cụ tiêu chuẩn, giới hạn cấp tín dụng, kỹ thuật: thế

chấp, cầm cố tài sản, bảo lãnh tín dụng..) được sử dụng nhưng chưa tuân thủ

các nguyên tắc của Basel 2 nên hiệu quả kiểm soát thấp. (iiii) Giám sát và báo

cáo RRTD: chưa thực hiện công khai thông tin theo trụ cột 3 nên chưa thực

hiện giám sát RRTD qua các chủ thể tham gia thị trường, giám sát của bộ

phận quản lý nợ chưa có sự độc lập với bộ phận kinh doanh nên dễ xảy ra

xung đột lợi ích, KT-KSNB kém hiệu quả. Giám sát RRTD vì vậy cơ bản

chưa đáp ứng yêu cầu Basel 2.

Như vậy có thể thấy, quản trị RRTD tại Agribank về cơ bản chưa đáp

ứng được yêu cầu của Basel 2. Thực trạng này một phần do hệ thống văn bản

pháp lý, chủ trương của Nhà nước chưa thực sự tạo điều kiện cho Agribank

tuân thủ Basel 2. Bên cạnh đó, hệ thống quản trị RRTD tại Agribank còn



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



118



nhiều bất cập, gây cản trở cho việc áp dụng Basel 2 như: thiếu hạ tầng công

nghệ quản trị RRTD, cơ sở dữ liệu thiếu cả về chất và lượng, hệ thống

XHTDNB kém hiệu quả, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu theo yêu cầu của

Basel 2. Một thực tế là những năm gần đây, chất lượng tài sản có suy giảm

mạnh tác động không nhỏ đến kết quả kinh doanh, cản trở việc Agribank tích

lũy nguồn lực cho việc đầu tư hạn tầng quản trị RRTD.



KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trên cơ sở những vấn đề cơ bản về quản trị RRTD theo Basel 2 đã đề

cập ở chương 1, NCS đã đánh giá thực trạng quản trị RRTD tại Agribank giai

đoạn 2010-2015. Để đánh giá đúng thực trạng quản trị RRTD tại Agribank,

NCS đã kết hợp kết quả khảo sát bằng bảng hỏi, phỏng vấn chuyên gia và thu

thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010-2015 tại Agribank về các vấn đề: chiến

lược và khẩu vị RRTD, tổ chức bộ máy quản trị RRTD, chính sách quản trị

RRTD, qui trình và thủ tục quản trị RRTD. Từ đó đánh giá các kết quả đạt

được, các hạn chế và nguyên nhân các hạn chế, chỉ ra mức độ đáp ứng các

chuẩn mực Basel 2 về quản trị RRTD tại Agribank. Kết quả đánh giá chương

2 là cơ sở để NCS đề xuất các giải pháp trong chương 3 với mục tiêu cuối

năm 2020, Agribank đạt chuẩn Basel 2 về quản trị RRTD.



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC CHUẨN MỰC BASEL 2 VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×