Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO BASEL 2 TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI

3 KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO BASEL 2 TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

58



Ngân hàng Krungthai (Krung Thai Bank Public Company Limited –

KTB)

KTB được thành lập từ năm 1966, hoạt động theo mô hình NHTMNN,

trong đó Nhà nước chiếm cổ phần chi phối với đại diện sở hữu là Quỹ phát

triển các tổ chức tài chính (Financial Institutions Development Fund-FIDF).

Tính đến 31/12/2014, KTB là ngân hàng dẫn đầu về qui mô tài sản, thị phần

trong hệ thống NHTM Thái lan. KTB cũng là một trong những ngân hàng

hoạt động quốc tế tại Thái lan với mạng lưới hoạt động rộng khắp: trên 1200

chi nhánh trên khắp Thái lan, 9 chi nhánh nước ngoài, 23 văn phòng đại diện

ở nước ngồi và góp vốn cổ phần vào nhiều công ty tại Thái Lan (trong đó

KTB có vốn cổ phần chiếm trên 10% ở 23 cơng ty thuộc các lĩnh vực bảo

hiểm, chứng khốn, quản lý tài sản …)

Ngân hàng DBS (The Development Bank of Singarore Limited)

DBS là NHTM được Chính phủ Singapore thành lập từ tháng 6/1968.

Đến nay, DBS có khoảng hơn 280 chi nhánh ở 17 thị trường trên thế giới, là

ngân hàng có qui mơ tài sản lớn nhất Đơng nám Á và là một trong những tập

đồn tài chính hàng đầu Châu Á.

1.3.1.1 Giai đoạn trước khi triển khai Basel 2

Trước khi chính thức triển khai Basel 2, mỗi NHTM đều trải qua giai

đoạn thực hiện công tác lên kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện tiền đề cho

việc tuân thủ Basel 2. Tùy đặc điểm từng NHTM và chủ trương của cơ quan

giám sát ngân hàng mà giai đoạn này được xác định cho phù hợp. Cơ quan

giám sát ngân hàng tại các nước NCS khảo sát (Australia, Thái lan và

Singapore) chuẩn bị cho việc triển khai Basel 2 khá thận trọng: Ban hành các

dự thảo hướng dẫn thực hiện Basel 2 và lấy ý kiến rộng rãi trước khi ban hành

hướng dẫn chính thức; Xác định lộ trình, mục tiêu triển khai Basel 2; tư vấn



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



59



và hỗ trợ các NHTM trong quá trình chuẩn bị triển khai và quá trình thực

hiện.

Tại ANZ: Theo yêu cầu của Cơ quan giám sát ngân hàng Australia

(Australia Prudential Regulation Authority-APRA), năm 2005 ANZ đã tổ

chức tự đánh giá lại toàn diện hệ thống quản trị rủi ro. Kết quả đánh giá cho

thấy, hệ thống quản trị RRTD tại ANZ tương đối hoàn thiện và phù hợp với

chuẩn mực Basel 2 như: Hệ thống XHTDNB theo phương pháp thống kê; đã

có thời gian dài sử dụng mơ hình đo lường vốn kinh tế (từ năm 1995); Đã tiến

hành đo lường LGD phù hợp với yêu cầu Basel; tổ chức bộ máy quản trị

RRTD theo mơ hình “3 vòng kiểm sốt” (phụ lục 1.2). Để tuân thủ Basel 2 về

quản trị RRTD, ANZ tiếp tục giải quyết những vấn đề cơ bản: (i) Nâng cấp

và hoàn thiện kho dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu về tình trạng khơng trả được nợ

của khách hàng, dữ liệu về tổn thất trên cơ sở có tính yếu tố chu kỳ kinh

doanh theo u cầu của Basel 2; (ii) Nâng cấp và hoàn thiện hệ thống quản trị

RRTD; (iii) Hoàn thiện hệ thống xếp hạng, kiểm tra, đánh giá RRTD theo

chuẩn Basel 2. Với những thuận lợi cơ bản trên, ANZ được APRA cấp phép

để thực hiện Basel 2 từ ngày 1/1/2008.

Tại KTB: Theo chủ trương của Ngân hàng Trung Ương Thái lan (Bank

of Thailand- BOT) từ 2005, KTB thực hiện đánh giá lại hệ thống quản trị

RRTD của ngân hàng để xác định khoảng cách so với chuẩn Basel 2. Kết quả

đánh giá cho thấy, việc triển khai Basel 2 còn gặp nhiều trở ngại do các

nguyên nhân: Tổ chức bộ máy chưa đảm bảo hiệu quả kiểm sốt RRTD, tỷ lệ

nợ xấu còn cao, các công cụ, kỹ thuật quản trị RRTD, hỗ trợ phân tích RRTD

chưa hồn thiện theo u cầu Basel 2. Trên cơ sở kết quá đánh giá, KTB tập

trung cải thiện năng lực quản trị RRTD bằng các biện pháp cơ bản: tái cơ cấu

bộ máy quản trị; tái cấu trúc vốn chủ sở hữu; xử lý nợ xấu; điều chỉnh mức độ

tập trung tín dụng và cấu trúc thẩm quyền phê duyệt tín dụng; hồn thiện các



Viết th luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



60



bộ tiêu chí và hạng khách hàng của hệ thống XHTDNB, hồn thiện các cơng

cụ quản lý RRTD.

Trên cơ sở kết quả thu được từ cải thiện quản trị RRTD: giảm nợ xấu,

nâng cao chất lượng hệ thống thông tin tín dụng, tổ chức bộ máy quản trị

RRTD “3 vòng kiểm sốt” (phụ lục 1.2), từng bước hồn thiện các công cụ

quản trị RRTD. Tháng 6/2006, KTB triển khai xây dựng lộ trình thực hiện

Basel 2, ký hợp đồng với nhà cung cấp SAS Software, dưới sự tư vấn của

Công ty Deloitte để triển khai dự án thực hiện Basel 2 theo 3 giai đoạn: giai

đoạn 1: từ tháng 6/2007 đến cuối năm 2008 thực hiện phân tích, đánh giá

khoảng cách dữ liệu; Giai đoạn 2: từ cuối 2008, KTB sử dụng cách tiếp cận

SA cho RRTD và Giai đoạn 3: trên cơ sở hoàn thiện các điều kiện theo yêu

cầu của BOT, KTB thực hiện cách tiếp cận IRB cho RRTD. Q 4/2007 KTB

đệ trình BOT kế hoạch đề nghị triển khai Basel 2 và được BOT chấp thuận

vào tháng 12/2007.

Tại DBS: Khi Basel 2 được ban hành, DBS đặt mục tiêu thực hiện

Basel 2 như một trong những chương trình quan trọng để tăng cường và nâng

cao hiệu quả quản trị rủi ro. Đầu năm 2005, DBS đã thành lập Ủy ban hướng

dẫn Basel 2 (A Group Basel 2 Steering Committee), để điều hành toàn bộ dự

án Basel tại ngân hàng. Ủy ban này thành lập các nhóm chuyên môn trực tiếp

thực hiện các phần việc liên quan đến Basel 2 và phải báo cáo với Ủy ban về

tiến độ và kết quả thực hiện. Đối với RRTD, Giai đoạn 2005-2007 Ủy ban

hướng dẫn Basel 2 của DBS đã thực hiện các biện pháp chuẩn bị cho thực

hiện Basel 2 bao gồm:

- Sắp xếp lại bộ máy quản trị RRTD: nâng cao hiệu quả của 3 vòng kiểm soát

RRTD (phụ lục 1.2), đặc biệt tăng cường chức năng kiểm sốt tín dụng, chức

năng đánh giá lại RRTD độc lập, sử dụng công cụ kiểm tra sức chịu đựng đối

với RRTD để đánh giá và đảm bảo vốn kinh tế cho RRTD.



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



61



- Hoàn thiện cơ sở dữ liệu và hệ thống XHTDNB theo khung Basel 2.

Cuối năm 2007, DBS đệ trình kế hoạch thực hiện Basel 2 với cơ quan

giám sát ngân hàng Singapore ( Monetary Authority of Singapore-MAS) và

đã được cơ quan này chấp nhận cho phép triển khai áp dụng Basel 2 từ

1/1/2008.

1.3.1.2 Giai đoạn triển khai Basel 2

a. Lộ trình quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 2

Bảng 1.1: Lộ trình áp dụng Basel 2 tại một số NHTM

Chỉ



Trụ cột 1



Trụ cột 2



Trụ cột 3



tiêu

ANZ



Thực hiện từ 1/1/2008: Thực hiện đầy đủ từ Thực hiện

IRB nâng cao



1/1/2008



đầy đủ từ

30/9/2008



KTB



Thực hiện từ 1/1/2008 Thực hiện từ đầu năm Thực hiện

đến 30/11/2008: đo lường 2009, hoàn thiện ICAAP đầy đủ từ

vốn song song Basel 1 vào cuối 2010, BOT giám 30/9/2009

Basel 2



sát theo Basel 2 từ năm



Từ tháng 12/2008 đến 2011

nay: SA

DBS



Thực hiện từ 1/1/2008: Thực hiện đầy đủ từ Thực hiện

Danh mục bán buôn: IRB 1/1/2008



đầy đủ từ



cơ bản; danh mục bán lẻ;



1/1/2008



IRB nâng cao; các khoản

vay chưa hoàn thiện cơ sở

dữ liệu: SA

Nguồn: [63], [68], [69]

b. Thực hiện quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 2



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



62



● Đối với trụ cột 1: Việc triển khai trụ cột 1 phụ thuộc lớn vào cơ sở dữ

liệu và hạ tầng công nghệ tại mỗi ngân hàng. Vì vậy, 3 ngân hàng được khảo

sát có cách tiếp cận và lộ trình thực hiện rất khác nhau:

Tại ANZ: mặc dù được chấp thuận đo lường vốn theo IRB nâng cao (sử

dụng ước lượng nội bộ cả 3 yếu tố: PD, LGD và EAD). Tuy nhiên, do một số

phân đoạn khách hàng chưa hoàn thiện cơ sở dữ liệu, ANZ được APRA cho

phép đo lường theo cách tiếp cận SA (khoản cho vay bán lẻ và cho vay các

doanh nghiệp địa phương khu vực Châu á- Thái Bình Dương). Tuy nhiên

khác với đề xuất của Basel 2, các phân đoạn tiếp cận theo phương pháp SA,

ANZ không sử dụng kết quả xếp hạng của các tổ chức xếp hạng bên ngồi mà

sử dụng chính hạng trên hệ thống xếp hạng nội bộ của ANZ. Đối với các phân

đoạn này ANZ có kế hoạch nâng cấp, hồn thiện dần cơ sở dữ liệu, khi đủ

điều kiện sẽ chuyển sang đo lường theo cách tiếp cận IRB nâng cao. Một

điểm đặc biệt là tại ANZ không áp dụng cách tiếp cận IRB cơ bản đối với tất

cả các phân đoạn thị trường.

Tại KTB: KTB được BOT chấp thuận đo lường vốn theo cách tiếp cận

SA. Theo đó các khoản tín dụng của Chính phủ, Chính quyền địa phương

ngân hàng sử dụng kết quả xếp hạng rủi ro quốc gia của Tổ chức hợp tác và

phát triển kinh tế (OECD), các khoản tín dụng của các đối tượng khách hàng

khác ngân hàng sử dụng kết quả xếp hạng bên ngồi trên cơ sở có tham chiếu,

so sánh với hạng theo xếp hạng nội bộ của ngân hàng. Hiện nay KTB sử dụng

kết quả xếp hạng của 5 tổ chức xếp hạng tín dụng: Standard and Poor’s,

Moody’s, Fitch Ratings,TRIS Ratings và Fitch Rating Thái lan. Ngày

1/1/2013, KTB đã được BOT chấp thuận thực hiện Basel 3. Mặc dù vậy, do

các điều kiện tối thiểu để áp dụng IRB của KTB chưa đạt nên cho đến hiện

nay, tất cả các phân đoạn khách hàng của KTB vẫn đang áp dụng cách tiếp

cận SA.



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



63



Tại DBS: Danh mục tín dụng bán buôn tiếp cận IRB cơ bản (sử dụng

ước lượng nội bộ PD, sử dụng LGD, EAD theo hướng dẫn số 367 năm 2007

của MAS), danh mục bán lẻ tiếp cận IRB nâng cao (ước lượng PD, EAD và

LGD theo hệ thống XHTDNB). Trong đó một số khoản mục thuộc 2 nhóm

trên chưa đủ điều kiện áp dụng IRB sẽ sử dụng cách tiếp cận SA. Trường hợp

sử dụng cách tiếp cận SA, DBS sử dụng hệ thống xếp hạng bên ngồi của 3

cơng ty xếp hạng: Standard & Poor’s, Moody’s và Fitch. Các hạng được sử

dụng để tính vốn theo hướng dẫn của MAS trong Thông báo số 637. Các

khoản mục sử dụng cách tiếp cận SA được DBS tiếp tục hoàn thiện các điều

kiện để hướng tới sử dụng cách tiếp cận IRB.

● Đối với Trụ cột 2

Tại ANZ: ANZ thực hiện quản lý vốn theo phương pháp chủ động.

Hằng năm, trên cơ sở chiến lược rủi ro cho kỳ 3 năm được phê duyệt, ANZ

xác định khẩu vị RRTD, yêu cầu vốn cho RRTD kỳ kế hoạch. ANZ thực hiện

ICAAP trong kỳ trung hạn để thực hiện đánh giá lại tỷ lệ an toàn vốn, mục

tiêu và các mức vốn cho từng danh mục tài sản rủi ro. Để xác định mức vốn

phù hợp và đảm bảo đủ vốn cho RRTD, ANZ thực hiện kiểm tra sức chịu

đựng rủi ro trên cơ sở đưa ra các kịch bản khác nhau về điều kiện của nền

kinh tế, trước và sau khi sử dụng các kỹ thuật giảm thiểu rủi ro. Từ đó xác

định mức vốn tăng thêm để bù đắp cho các tổn thất có thể xảy ra trong các kỳ

suy thoái kinh tế. Việc đánh giá và xác định kế hoạch vốn cần thiết cho rủi ro

được ANZ thực hiện hàng tháng và báo cáo HĐQT, Ban điều hành trên cơ sở

đánh giá rủi ro hiện tại, dự báo về sự thay đổi của môi trường kinh doanh và

khả năng thực hiện mục tiêu kinh doanh.

Tại KTB: KTB thực hiện trụ cột 2 từ năm 2009. Nhưng do hạn chế về

hạ tầng đo lường vốn, ban đầu KTB thực hiện đánh giá vốn theo cách tiếp cận

giản đơn, đồng thời xây dựng và hoàn thiện dần ICAAP. Cuối năm 2010 KTB



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



64



áp dụng ICAAP để đánh giá vốn cho RRTD. Từ năm 2011, KTB tuân thủ đầy

đủ trụ cột 2, theo đó Ngân hàng Trung ương Thái lan thực hiện đánh giá, giám

sát vốn của ngân hàng theo Khung Basel 2.

Tại DBS: DBS tuân thủ trụ cột 2 đầy đủ từ 1/1/2008, công cụ để quản

lý vốn là ICAAP. Thông qua ICAAP, DBS đo lường, dự báo nhu cầu vốn và

mục tiêu về vốn cho rủi ro nói chung và RRTD nói riêng. Để đảm bảo đủ vốn

cho RRTD, hàng năm DBS sử dụng công cụ Stress- Testing với các kịch bản

căng thẳng có thể xảy ra trong vòng 3 năm liên tiếp để đo lường yêu cầu vốn

cần thiết. Trên cơ sở đó, DBS có kế hoạch tăng vốn để đảm bảo tỷ lệ an toàn

vốn luôn trên mức tối thiểu.

● Đối với trụ cột 3

Basel 2 qui định hệ thống thông tin cần công khai, minh bạch khá chi

tiết. Trên thực tế cơ quan giám sát ngân hàng tại mỗi quốc gia trên cơ sở qui

định về chế độ báo cáo, thống kê đối với NHTM đều có qui định riêng về

mức độ chi tiết trong báo cáo thông tin theo trụ cột 3. Thực tế khảo sát các

báo cáo thông tin từ 3 ngân hàng trên cho thấy, chỉ có ANZ thực hiện cơng

khai chi tiết thông tin theo trụ cột 3. Tại 2 ngân hàng KTB và DBS, thời gian

đầu việc công khai thông tin chỉ thực hiện đối với các thông tin định lượng cơ

bản như: cấu trúc, thành phần vốn, tỷ lệ an tồn vốn, cấu trúc danh mục tín

dụng, trong số RRTD của từng khoản mục trong danh mục tín dụng, kỹ thuật

giảm RRTD đối với từng khoản mục tín dụng… Các thơng tin định tính phản

ánh hiệu quả quản trị RRTD chỉ được thực hiện sau khi hoàn thiện chế độ báo

cáo nội bộ của ngân hàng.

Các cơ quan giám sát ngân hàng đều yêu cầu công khai trên Website

của ngân hàng, trên báo cáo thường niên hoặc trên Sở giao dịch chứng khoán

(đối với các NHTM niêm yết trên thị trường chứng khốn). Cơ quan giám sát

khơng u cầu thơng tin được cơng khai phải kiểm tốn, song đều có các chế



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



65



tài để đảm bảo tính chân thực của thông tin như: thông tin công khai nhất

quán với thông tin trên các báo cáo khác đã được kiểm tốn hoặc xác thực bởi

cơ quan có thẩm quyền (tại ANZ, Australia), thông tin công khai phải được sự

kiểm soát của hệ thống KT-KSNB (tại DBS, Singapore).

1.3.2 Kinh nghiệm triển khai quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 2 tại

Ngân hàng cổ phần Công Thương Việt nam (Vietinbank)

Trong số 10 NHTM được NHNN Việt nam chọn thí điểm thực hiện

Basel 2, Vietinbank là một trong những ngân hàng được đánh giá có chủ

trương triển khai Basel 2 sớm và chủ động. Hiện nay Vietinbank cũng là ngân

hàng đạt những kết quả đáng ghi nhận về việc triển khai Basel 2.

Sau khi cổ phần hóa (năm 2008), hoạt động theo mơ hình cơng ty cổ

phần, Vietinbank đã có chủ trương đổi mới toàn diện hệ thống quản trị rủi ro,

đặc biệt là RRTD theo hướng phù hợp với chuẩn mực Basel 2. Để hiện thực

hóa chủ trương này, năm 2009 Ban lãnh đạo Vietinbank đã giao cho 1 nhóm

cán bộ được đào tạo chun sâu ở nước ngồi tập trung nghiên cứu phương

pháp luận quản trị RRTD theo Basel 2. Đồng thời xây dựng và triển khai dự

án tổng thể hiện đại hóa cơng nghệ thơng tin giai đoạn 2010-2015 với 15 dự

án về cơng nghệ. Trong đó có thể kể đến các dự án gắn liền với việc hoàn

thiện quản trị RRTD theo Basel 2: dự án thay thế core- banking, dự án kho dữ

liệu doanh nghiệp, dự án quản trị rủi ro theo chuẩn Basel 2…

Năm 2012 Vietinbank thực hiện hàng loạt các biện pháp, trong đó có

việc tái cấu trúc các Khối kinh doanh, chuẩn bị cho việc đổi mới toàn diện

quản trị RRTD theo Basel 2. Bao gồm:

- Thành lập Khối quản lý rủi ro, tách bạch KT-KSNB, KToNB, Khối quan hệ

khách hàng nhằm thiết lập “3 vòng kiểm sốt” theo u cầu của Basel 2 (phụ

lục 1.2). Đổi mới cơ chế quản lý RRTD song song với việc thực hiện mơ hình

quản lý rủi ro tập trung.



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



66



- Đổi mới mơ hình cấp tín dụng: tập trung hóa cơng tác thẩm định tín dụng và

đánh giá, quản lý TSBĐ, chun mơn hóa sâu giữa các bộ phận, tăng cường

kiểm soát RRTD.

- Ký hợp đồng với công ty CMCSoft để mua phần mềm thống kê hỗ trợ việc

xây dựng và phát triển mô hình đo lường RRTD theo Basel 2.

- Ký hợp đồng với công ty Ernst & Young Singapore tư vấn xây dựng hệ

thống quản lý RRTD của Vietinbank để xây dựng mơ hình đo lường các chỉ

tiêu PD, EAD, LGD cho khách hàng cá nhân, hỗ trợ mua sắm công nghệ cũng

như hệ thống giải pháp quản trị RRTD toàn diện.

Năm 2013, 2014 với sự hỗ trợ đắc lực của hai đối tác chiến lược là

Ngân hàng Tokyo-Mitsubishi UFJ (BTMU) của Nhật Bản và Cơng ty Tài

chính quốc tế (IFC), Vietinbank tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản trị RRTD:

- Thành lập Khối kinh doanh vốn và Thị trường, Khối bán lẻ và Khối Khách

hàng Doanh nghiệp, quản lý hoạt động tín dụng theo chiều dọc từ Hội sở

Chính đến từng Chi nhánh.

- Xây dựng thành công Khung quản lý rủi ro theo hướng tuân thủ Basel 2

- Triển khai dự án thay thế core-banking, hoàn tất vào tháng 3/2016 và triển

khai dự án Kho dữ liệu doanh nghiệp.

Năm 2014, Vietinbank tiến hành xây dựng lộ trình triển khai Basel 2

đến năm 2018: Tháng 6/2014 hồn thành dự án phân tích thực trạng và lập kế

hoạch Basel 2; Tháng 9/2014 ký hợp đồng với Ernst & Young để xây dựng lộ

trình triển khai Basel 2 và chính thức triển khai Basel 2.

Hiện nay Vietinbank đang tích cực hồn thiện cơ sở dữ liệu, nâng cấp

và hoàn thiện hệ thống XHTDNB, tổ chức các đợt khảo sát, chia sẻ kinh

nghiệm Basel 2 với các NHTM lớn tại Đức và Mỹ, nội dung cơ bản bao gồm:

đo lường vốn, hoàn thiện dữ liệu và cơng nghệ, mơ hình quản trị RRTD.



Viết th luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



67



1.3.3 Bài học kinh nghiệm về triển khai quản trị rủi ro tín dụng theo

Basel 2 cho Ngân hàng Nơng nghiệp và phát triển Nông thôn Việt nam

Trên cơ sở khảo sát quá trình triển khai và áp dụng quản trị RRTD theo

Basel 2 của 4 NHTM. Có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho

Agribank:

Thứ nhất: Khơng có một “kịch bản” chung cho lộ trình triển khai Basel 2 của

các NHTM. Basel 2 bao gồm 3 trụ cột và đưa ra nhiều cách tiếp cận để đo

lường vốn cho RRTD. Mỗi ngân hàng căn cứ vào đặc điểm về RRTD và năng

lực quản lý RRTD để có sự lựa chọn phù hợp nhất cho cách tiếp cận của mình

cũng như thời điểm tuân thủ từng trụ cột của Basel 2: có thể áp dụng một

hoặc nhiều cách tiếp tiếp cận cho RRTD, có thể tuân thủ dần từng trụ cột hoặc

đồng thời cả 3 trụ cột. Các NHTM có năng lực quản trị RRTD còn hạn chế

(như trường hợp ngân hàng KrungThai), quá trình triển khai Basel 2 phải gắn

liền với quá trình đổi mới, năng cao năng lực quản trị RRTD.

Thứ hai: Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện Basel 2, hệ thống

các văn bản qui định và hướng dẫn thực hiện Basel 2 phải được hoàn thiện

trước thời điểm triển khai. Thực tế tại các nước đã thực hiện Basel 2, Cơ quan

giám sát Ngân hàng của các nước đều có sự chuẩn bị và hoàn thiện về hành

lang pháp lý về Basel 2: ban hành các dự thảo, lấy ý kiến rộng rãi từ các

NHTM và các bên liên quan để hoàn thiện. Các văn bản này được ban hành

trước thời điểm áp dụng Basel 2.

Thứ ba: Để có sự thành cơng khi triển khai, đòi hỏi các NHTM phải chủ động

trong công tác chuẩn bị. Các NHTM đi trước đều thành lập 1 Ủy ban triển

khai Basel 2 chuyên biệt để thực hiện công tác chuẩn bị cũng như điều hành

tồn bộ q trình triển khai Basel 2. Ủy ban này sẽ thành lập các nhóm để

triển khai các dự án Basel 2. Trước khi tuân thủ, các NHTM phải có một thời

gian để chuẩn bị các điều kiện tối thiểu như vốn, công nghệ, nhân sự, cơ sở



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



68



dữ liệu. Tùy vào nguồn lực sẵn có và mục tiêu tuân thủ Basel 2 mà mỗi ngân

hàng phải xác định thời gian chuẩn bị phù hợp.

Thứ tư: Đối với các NHTM có hệ thống quản trị RRTD chưa thực sự hiệu

quả, quá trình tuân thủ Basel 2 phải là một q trình hồn thiện và tn thủ

dần từng bước trên cơ sở tận dụng năng lực sẵn có để giảm thiểu chi phí trong

q trình triến khai thực hiện. Theo kinh nghiệm các NHTM được NCS khảo

sát, việc tuân thủ Basel 2 không nhất thiết phải tuân thủ phương pháp tiếp cận

phức tạp nhất, các ngân hàng cần lựa chọn phương pháp tiếp cận phù hợp với

thực trạng hoạt động tín dụng và khả năng hiện có của từng ngân hàng.

Thứ năm: Mặc dù Ủy ban Basel khuyến nghị các NHTM nên hướng tới việc

tiếp cận IRB cho RRTD, đặc biệt là IRB nâng cao. Song trên thực tế việc đáp

ứng các yêu cầu tối thiểu để tiếp cận IRB khá ngặt ngèo. Vì vậy kể cả các

NHTM lớn, có hệ thống quản trị RRTD hiện đại vẫn phải tiếp cận IRB theo

từng phân đoạn thị trường (có những phân đoạn thị trường vẫn tiếp cận theo

phương pháp SA) theo nguyên tắc phân đoạn thị trường nào có lợi thế tuân

thủ trước, các phân đoạn chưa đáp ứng được sẽ hoàn thiện dần cho đến khi đủ

điều kiện tối thiểu mới tuân thủ.

Thứ sáu: Đối với phương pháp IRB, Basel đề cao vấn đề kiểm định tính hiệu

quả, chính xác các ước lượng nội bộ. Vì vậy, các NHTM được khảo sát đều

được Cơ quan giám sát Ngân hàng yêu cầu trước khi áp dụng phải có giai

đoạn quá độ - tiếp cận song song phương pháp truyền thống (hoặc SA) và

IRB- giai đoạn này có thể coi là giai đoạn vận hành thử. Tại các NHTM đã

khảo sát đều có qui định thời gian tối thiểu vận hành song song và thời gian

này sẽ kết thúc khi các kiểm định cho thấy kết quả ước lượng đáp ứng yêu cầu

chuẩn Basel 2.

Thứ bảy: Trong các trở ngại khi thực hiện Basel 2, trở ngại lớn nhất là cơ sở

dữ liệu. Kể cả các NHTM lớn như ANZ, DBS…khi bắt đầu tuân thủ cơ sở dữ



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO BASEL 2 TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×